VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MÔNG THỊ XOAN
HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI LÔ LÔ Ở HUYỆN BẢO LẠC,
TỈNH CAO BẰNG: TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI
Chuyên ngành: Nhân học
Mã số: 62 31 03 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Phạm Quang Hoan
TS. Lò Giàng Páo
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại
Khoa Dân tộc học và Nhân học, Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Phạm Quang Hoan
2. TS. Lò Giàng Páo
Phản biện 1: PGS.TS. Lê Ngọc Thắng
Phản biện 2:PGS.TS. Nguyễn Duy Thiệu
đó, có những yếu tố cần giữ gìn, phát huy và một số yếu tố không còn
phù hợp với xã hội hiện đại như: kết hôn cận huyết thống, tảo hôn, kết
hôn không đăng ký, sinh con sớm, đẻ con nhiều... Bên cạnh đó, dưới tác
động của bối cảnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), giao lưu
kinh tế, văn hóa... đã làm thay đổi quan niệm, cách nhìn nhận của người
Lô Lô ở huyện Bảo Lạc trong đời sống sinh hoạt thường nhật, mà hôn
nhân là một thành tố chịu sự tác động và biến đổi mạnh mẽ từ nội dung
thời gian thực hành các nghi thức, nghi lễ đến trang phục, sinh hoạt ăn
uống... của người Lô Lô hiện nay.
Việc nghiên cứu về hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh
Cao bằng sẽ góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống quan trọng
của tộc người này, cũng như sự phát triển văn hóa của họ trong xã hội hiện
1
đại. Vì lẽ đó, nghiên cứu về hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo lạc,
tỉnh Cao Bằng để làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý xã hội và quản
lý văn hóa áp dụng các giải pháp phù hợp khi thực hiện Luật Hôn nhân và
Gia đình đối với người Lô Lô, góp phần thực hiện nếp sống văn hóa và
trong quá trình xây dựng nông thôn mới, phù hợp với chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
Xuất phát từ những yêu cầu về phương diện lý luận và thực tiễn nêu
trên, nghiên cứu sinh chọn vấn đề Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo
Lạc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi làm đề tài luận án tiến sĩ
Nhân học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng,
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu các khía cạnh liên quan
đến hôn nhân truyền thống của người Lô Lô, sự biến đổi của hôn nhân
và những yếu tố tác động đến sự biến đổi đó.
- Phạm vi thời gian: Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc
trước và sau năm 2014. Đây là thời điểm tỉnh Cao Bằng nói chung và
huyện Bảo Lạc triển khai sâu rộng hoạt động phổ biến tinh thần nội
dung của Luật Hôn nhân và Gia đình được sửa đổi. Đây cũng là thời
điểm các giá trị văn hóa truyền thống đang có xu hướng biến đổi và
những giá trị văn hóa mới được tiếp thu.
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Gồm các thôn có người Lô Lô
sinh sống ở huyện Bảo Lạc. Cụ thể là các thôn Cốc Xả, Nà Van thuộc
xã Hồng Trị, thôn Khuổi Khon thuộc xã Kim Cúc, thôn Ngàm Lồm
thuộc xã Cô Ba huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Luận án dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, về hôn
nhân và gia đình, cũng như Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn 2030.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điền dã Dân tộc học/Nhân học là phương pháp chủ đạo
trong quá trình triển khai thực hiện nội dung luận án. Ngoài ra, luận án còn
sử dụng phương pháp chuyên gia, phương pháp so sánh, phương pháp
3
phân tích, tổng hợp, xử lý các tư liệu, kế thừa các kết quả nghiên cứu, các
tư liệu hiện có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài luận án.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LÔ LÔ Ở HUYỆN BẢO LẠC
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Hôn nhân nói chung qua các tài liệu nước ngoài
Qua công trình Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của
Nhà nước của Ph. Ăngghen (1884), Nghiên cứu lịch sử cổ đại - Hôn nhân
nguyên thủy của Mác - Lê nin (1866), Xã hội cổ đại của L.H. Morgan
(1877)... hôn nhân được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau.
1.1.2. Hôn nhân các dân tộc thiểu số Việt Nam qua tài liệu
trong nước
Nghiên cứu về hôn nhân và gia đình dưới góc độ đánh giá thực
trạng và xu hướng. Các nghiên cứu này chú ý nhiều đến mô tả các
phong tục tập quán, chủ yếu các nghi lễ và những mối quan hệ trong
hôn nhân. Nghiên cứu về hôn nhân và nghi lễ trong hôn nhân của
người Thái. Một số ít công trình nghiên cứu đã đi sâu về những vấn đề
đặt ra của hôn nhân với phát triển xã hội. Trong những năm gần đây,
một số ít công trình mới chỉ dừng lại ở mô tả tương đối khái quát về
thực trạng và xu hướng kết hôn của một nhóm địa phương của người
Nùng ở tỉnh Lạng Sơn như Lê Thị Hường (2009). Một số công trình đã
xuất bản có đề cập đến hôn nhân xuyên biên của người Hmông và
người Khơ - mú ở vùng biên giới Việt - Lào như Phạm Quang Hoan
(2012); hôn nhân đồng tộc của người Brâu ở tỉnh Kon Tum và một số
địa phương vùng biên giới Việt Nam - Campuchia như Bùi Ngọc Quang
(2006); hôn nhân đồng tộc của người Mnông ở khu vực biên giới tỉnh
Đăk Nông với Cămpuchia như Lý Hành Sơn (2013)...
1.3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện
Bảo Lạc
- Điều kiện tự nhiên: Huyện Bảo Lạc có vị trí địa lý, kinh tế,
quốc phòng rất quan trọng đối với tỉnh Cao Bằng, có đường biên giới
dài 53,6 km chung với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, có quốc
lộ 34 chạy qua. Tổng diện tích tự nhiên là 92.063, 68 ha. Huyện có
16 xã và một thị trấn, số xã đặc biệt khó khăn là 15/17 xã thuộc vùng
III đang được hưởng những chính sách ưu đãi của Nhà nước.
- Đặc điểm cư dân: Ở huyện Bảo Lạc hiện nay có trên 10.000 hộ với
trên 60.000 nhân khẩu. Toàn huyện Bảo Lạc có 09 dân tộc chủ yếu sinh
6
sống. Do diện tích tự nhiên lớn, dân số chưa đông, nên việc phân bổ dân cư
cũng không đồng đều, số dân sống tập trung chủ yếu ở thị trấn và các xã gần
đường quốc lộ theo hướng về thành phố Cao Bằng, còn các xã ở vùng biên
giới tiếp giáp với Trung Quốc dân cư sinh sống rất thưa thớt.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Trong những năm gần đây, sản xuất
nông nghiệp của huyện Bảo Lạc đã có sự phát triển đáng kể. Giá trị
sản xuất nông - lâm nghiệp - thuỷ sản tăng đều qua các năm, năm
2011 đạt 155 tỷ đồng, năm 2012 đạt 208 tỷ đồng, năm 2013 đạt 195 tỷ
đồng, năm 2014 đạt 330 tỷ đồng, năm 2015 đạt 294,5 tỷ đồng, năm
2016 đạt 372 tỷ đồng.
1.3.2. Đôi nét về người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc
- Lịch sử tộc người, dân số và phân bố dân cư: Theo một số nhà
nghiên cứu, có ba cuộc di cư lớn ở các thế kỉ X, XVI, XVII đưa hàng
vạn người Lô Lô vào nước ta. Ngoài hai đợt di cư lớn trên, người Lô
Lô còn rải rác sang Việt Nam hoặc từ Việt Nam đi ngược lại Trung
Quốc vào các thời kỳ sau.
ở nước ta, trong đó có vấn đề hôn nhân. Luận án đã nêu rõ các khái niệm
cơ bản liên quan đến đề tài, đã trình bày khái quát về người Lô Lô ở huyện
Bảo Lạc trên các phương diện cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội, lịch sử tộc người và sự phân bố dân cư; đặc điểm văn hóa tộc người
thể hiện qua các dạng thức, các thành tố văn hóa vật thể và văn hóa phi vật
thể như nhà ở, trang phục, ăn uống, phương tiện vận chuyển, gia đình và
một số hình thức văn học dân gian khác...
Chương 2
HÔN NHÂN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI LÔ LÔ
Ở HUYỆN BẢO LẠC
2.1. Quan niệm về hôn nhân của người Lô Lô
2.1.1. Quan niệm truyền thống hôn nhân của người Lô Lô
Trong quan niệm truyền thống của người Lô Lô, hôn nhân không
những là yếu tố để duy trì nòi giống, thể hiện tình cảm giữa nam và nữ
với nhau mà còn phản ánh giá trị đạo đức tộc người.
Trước đây, việc tiến tới hôn nhân của người Lô Lô không hoàn toàn
xuất phát từ tình yêu đôi lứa. Phần lớn các cặp hôn nhân của người Lô Lô
thường do cha mẹ sắp đặt. Hôn nhân thể hiện sự trọng thị giữa hai gia đình
thông gia, vì vậy vai trò của ông bà mối (Quan lang) rất quan trọng trong quá
8
trình diễn ra lễ cưới. Ông (bà) Quan lang là người đại diện cho gia đình cô
dâu và chú rể, là người am hiểu phong tục tập quán, khéo ăn nói và là người
điều hành các nghi lễ trong quá trình hôn nhân.
2.1.2. Tuổi kết hôn
Nguời Lô Lô ở huyện Bảo Lạc kết hôn thường rất sớm, cá biệt có
những trường hợp chỉ mới 12, 13 tuổi đã kết hôn. Việc tạo lập gia đình
cho con ở lứa tuổi còn quá trẻ như vậy là do quan niệm, có cháu sớm để
do chính sách của Nhà nước, cán bộ dân số đã vận động người Lô Lô không
kết hôn với người cận huyết, do đó đa số người dân đã chấp hành, nhưng có
một vài trường hợp hôn nhân cận huyết thống vẫn diễn ra.
2.2.3. Hôn nhân hợp số mệnh
Người Lô Lô quan niệm, nếu hợp số thì đôi trẻ sẽ có cuộc sống hạnh
phúc suốt đời. Để tiến tới hôn nhân, trước hết phải so số mệnh của đôi trẻ.
Người Lô Lô rất coi trọng việc làm này. Hiện nay, việc thực hiện so số
mệnh trong hôn nhân của người Lô Lô tuy vẫn được thực hiện, song tầm
quan trọng đã giảm bớt và chủ yếu xem chọn ngày tốt cho việc tổ chức các
nghi lễ hôn nhân.
2.2.4. Hôn nhân một vợ, một chồng bền vững
Đối với người Lô Lô, chế độ hôn nhân một vợ, một chồng được
thực hiện từ rất sớm và bền chặt. Với người phụ nữ Lô Lô, sau khi lấy
chồng, tức đã là ma nhà chồng, là người của nhà chồng, nên họ không
có tư tuởng ly hôn. Với người đàn ông, trong điều kiện cuộc sống còn
nhiều khó khăn, lễ vật cưới còn nặng nề cộng thêm sự chê trách của
gia đình, của dòng họ và cộng đồng nên cũng ít khi người đàn ông bỏ
vợ. Một trong những yếu tố quan trọng giúp cho hôn nhân của họ
được bền chặt là tình cảm, trách nhiệm với gia đình, với các con cái.
2.2.5. Cư trú sau kết hôn
Đối với người Lô Lô, hình thức hôn nhân vợ cư trú bên nhà
chồng được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Tuy nhiên, họ vẫn duy trì
kiểu hôn nhân cư trú bên nhà vợ hay còn gọi là tục ở rể, nếu bên nhà vợ
không có anh hay em trai còn nhỏ. Việc cư trú riêng của gia đình cá thể
một hoặc hai thế hệ chủ yếu xuất hiện trong các gia đình có điều kiện
kinh tế hoặc ở những gia đình mà cha mẹ hai bên đều khuất núi.
2.3. Phong tục và nghi lễ trong hôn nhân của người Lô Lô
2.3.1. Giai đoạn nam nữ tìm hiểu
Trong hôn nhân truyền thống của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc,
độ tuổi kết hôn thường khoảng 14 đến 16 tuổi. Các đôi trai gái có thể tự
đàn ông góa vợ cũng chỉ được lấy vợ kế sau khi mãn tang vợ ba năm.
Trong trường hợp này, hai gia đình sẽ không tổ chức đám cưới theo
nghi thức truyền thống, mà hai vợ chồng chỉ thưa chuyện với cha mẹ
hai bên xin phép về ở với nhau, thông thường cũng làm một bữa cơm
mời hai bên gia đình cùng chung vui và chúc phúc cho đôi vợ chồng
cưới lại lần hai.
11
2.4.2. Hôn nhân của phụ nữ hoang thai
Theo quan niệm của người Lô Lô xưa, nếu người con gái chửa
hoang sẽ bị chịu hình phạt của thôn/bản, bị đuổi ra khỏi bản. Do quy
định khá ngặt nghèo, nên hiện tượng gái chửa hoang hiếm thấy trong xã
hội của người Lô Lô trước kia.
2.4.3. Hôn nhân đa thê
Trước Cách mạng tháng Tám (1945), hiện tượng đa thê có tồn tại,
nhưng số lượng không nhiều, thường rơi vào những gia đình giàu có, hay
gia đình tộc trưởng và những gia đình không có con trai, nên ông chồng
phải lấy vợ hai để sinh con trai nối dõi tông đường. Đám cưới lấy vợ lẽ
thường bỏ qua các nghi thức của đám cưới bình thường và nhà gái hầu như
không thách cưới. Qua khảo sát tại các bản làng của người Lô Lô ở huyện
Bảo Lạc cho thấy, hiện tượng hôn nhân đa thê không còn diễn ra.
2.5. So sánh nghi lễ hôn nhân của người Lô Lô
2.5.1. Sự giống và khác nhau trong hôn nhân của người Lô Lô ở
huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng và ở tỉnh Hà Giang
- Những nét tương đồng
Chú trọng về hình thức bên ngoài: nam hay nữ được coi là đẹp,
là người có làn da trắng, mặt trái xoan, mắt đen to, răng trắng đều…
Ngoài vẻ đẹp về hình thức, người con gái đáp ứng để được chọn làm vợ
- Tục che mặt.
- Không có tục lệ này.
- Hành lễ theo 4 bước.
- Không có tục lệ này.
- Có người thổi kèn.
- Không có người thổi kèn.
- Có tục khóc chào của cô dâu và - Không có tục lệ này
người thân trong gia đình.
- Có tục lạy sống bố mẹ đẻ và bố - Không có tục lệ này.
mẹ chồng.
- Không có tục lệ này
- Cô dâu ra suối gánh nước.
2.5.2. Sự giống và khác nhau trong nghi lễ hôn nhân của người
Lô Lô với người Tày cận cư ở huyện Bảo Lạc
- Cơ sở của sự tương đồng và khác biệt
Khía cạnh có xu hướng kết hợp giữa văn hóa của người Lô Lô với
văn hóa của người Tày là loại hình nhà ở và cách bài trí trong nhà. Nhà
sàn truyền thống vẫn được đồng bào làm để ở, nhưng đã có những sự kết
hợp như mái nhà lợp bằng tôn, bằng ngói... Các nghi lễ cũng như cách
thức tổ chức cưới hỏi… trong tập quán cưới xin của người Lô Lô là
những sản phẩm văn hóa tinh thần từ xa xưa để lại, được hình thành và
tồn tại qua một quá trình lịch sử lâu dài.
- Sự giống nhau
Người Lô Lô và người Tày có môi trường gặp gỡ giống nhau, trai
gái gặp nhau trong ngày lễ hội, đi chơi chợ phiên, tìm hiểu nhau và có
tình ý với nhau nhưng để đi đến đính ước và hôn nhân thì phải có sự đồng
13
không nhiều màu sắc.
Tiểu kết chương 2
Từ việc nghiên cứu, khảo sát thực tiễn các hình thức hôn nhân của
người Lô Lô, luận án cho thấy bức tranh về lịch sử, văn hoá của người Lô
14
Lô một cách cụ thể và rõ nét. Trên thực tế, người Lô Lô không quá khắt
khe về hôn nhân cùng tộc người hay khác tộc người, tuy nhiên họ lại rất
khắt khe trong việc lấy nhau cùng dòng họ. Đối với các nghi lễ trong đám
cưới nơi đây thể hiện bản sắc văn hoá và mang tính nhân văn sâu sắc, theo
phong tục truyền thống xưa, đám cưới bao gồm nhiều thủ tục rườm rà và
tốn kém. Tuy nhiên, hiện nay, các nghi lễ đã giản tiện hơn song không mất
đi những nét đẹp truyền thống.
Do sự phát triển của xã hội, các chàng trai, cô gái được tự do tìm
hiểu, nhưng quyết định cuối cùng thuộc về cha mẹ và họ hàng. Người
Lô Lô xác định chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, trên cơ sở tình yêu
tự nguyện, nghi thức cưới đơn giản tuần tự được tiến hành ở nhà gái,
sau đó diễn ra ở nhà trai. Sau đám cưới, cặp vợ chồng cư trú bên nhà
chồng và họ cũng được phép ra ở riêng sau một thời gian ổn định. Về
vấn đề ly hôn, tái kết hôn người Lô Lô đã vận dụng khá linh hoạt và
mềm dẻo, lỗi ở bên nào thì bên đó bị cộng đồng xử phạt. Trong những
năm gần đây, các quan hệ mới xuất hiện trong hôn nhân của người Lô
Lô ngày càng được đẩy mạnh, các nghi thức, nghi lễ trong hôn nhân
ngày càng giản lược hơn, phù hợp với tình hình và xu thế phát triển của
thời đại. Luận án đã chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa nghi lễ hôn
nhân của người Lô Lô ở Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng với nghi lễ hôn nhân
của người Lô Lô ở tỉnh Hà Giang, đồng thời luận án cũng so sánh tục lệ
này với người Tày ở trong cùng địa bàn cư trú ở huyện Bảo Lạc.
nghiêm trọng, nhất là tình trạng kết hôn cận huyết thống.
3.1.2. Những biến đổi về nghi lễ và hình thức hôn nhân
- Biến đổi về nghi lễ hỏi tuổi
- Biến đổi trong lễ ăn hỏi
- Biến đổi trong lễ cưới
+ Thời gian tổ chức đám cưới.
+ Quà mừng và đồ thách cưới.
+ Hát đối trong đám cưới.
+ Trang phục trong đám cưới.
+ Ẩm thực trong đám cưới.
+ Phương tiện phục vụ cho việc đón, đưa dâu ngày cưới.
- Biến đổi với những trường hợp ”đặc biệt”
- Biến đổi trong quan hệ hôn nhân xuyên biên giới
16
3.2. Nguyên nhân và yếu tố dẫn đến sự biến đổi hôn nhân của
người Lô Lô
3.2.1. Nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi
Các nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi hôn nhân của người Lô Lô bao
gồm: (i). Đặc điểm mưu sinh; (ii). Đặc điểm tổ chức và thiết chế xã hội;
(iii). Trình độ dân trí, nhận thức của người Lô Lô còn hạn chế;(iv).Tâm lý,
tập quán truyền thống tộc người (quan niệm về hôn nhân, về số con của các
cặp vợ chồng, tâm lý quý con trai hơn con gái).
3.2.2. Các yếu tố tác động đến sự biến đổi hôn nhân
- Các yếu tố khách quan: (i).Tác động từ Luật Hôn nhân và Gia đình;
(ii).Tác động từ yếu tố kinh tế; (iii). Tác động từ yếu tố văn hoá - xã hội.
Các yếu tố chủ quan: (i).Quan niệm về tảo hôn;(ii).Quan niệm về hôn nhân
cận huyết thống; (iii).Nhận thức của người dân.
loại bỏ những tệ nạn xã hội, góp phần làm tăng cường mối đoàn kết
trong chính các dân tộc cùng chung sống ở một vùng lãnh thổ nhất định.
Chương 4
GIÁ TRỊ HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI LÔ LÔ
Ở HUYỆN BẢO LẠC HIỆN NAY - VẤN ĐỀ BÀN LUẬN
4.1. Bối cảnh xã hội nước ta hiện nay
Sau năm 2010, đất nước ta đang đứng trước các xu thế phát triển
chung của thời đại. Trong bối cảnh xu thế giao lưu và hội nhập về mọi
mặt của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực văn hóa tinh thần, xu thế
giao lưu và hội nhập văn hóa của các nước trong khu vực và thế giới đã
làm cho các giá trị văn hóa của nước ta có sự chuyển động, tiếp thu và
biến đổi.
Đối với trường hợp các bản làng của tộc người Lô Lô cư trú tại
huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng cũng không nằm ngoài xu thế bị tác
động và biến đổi theo các chiều hướng khác nhau qua các giá trị văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần, trong đó sự tác động về vấn đề hôn
nhân và gia đình đã và đang có nhiều biến chuyển cụ thể để làm phong
phú đời sống văn hóa tinh thần của tộc người này.
4.2. Giá trị trong hôn nhân truyền thống của người Lô Lô
4.2.1. Hôn nhân thể hiện giá trị lịch sử tộc người
4.2.2. Tục lệ cưới xin thể hiện giá trị văn hóa tộc người
18
4.2.3. Diễn xướng dân ca trong đám cưới thể hiện giá trị văn hóa
4.2.4. Giá trị giao thoa văn hóa
4.2.5. Hôn nhân thể hiện giá trị cuộc sống ở các thời đại khác nhau
4.3. Vấn đề bàn luận góp phần gìn giữ và phát triển hôn nhân
của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng trong bối cảnh
Trong xu hướng mở cửa, giao lưu hiện nay, người Lô Lô đang đánh
mất dần những sắc thái riêng, đồng thời tiếp thu nhiều yếu tố văn hoá của
những cư dân xung quanh, biểu hiện những nét văn hoá tiêu biểu kết hôn,
quan niệm sinh con trai, việc học tập được quan tâm...
4.4. Khuyến nghị về vấn đề hôn nhân của người Lô Lô ở huyện
Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng
4.4.1. Đối với hoạt động quản lý nhà nước
Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và cấp huyện cần căn cứ vào tình
hình thực tiễn và nội dung của Luật Hôn nhân và Gia đình để xem xét
ban hành các văn bản về hôn nhân, đám cưới của dân tộc Lô Lô ở huyện
Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng hiện nay. Cơ quan quản lý các cấp cũng cần tổ
chức các cuộc khảo sát thăm dò ý kiến của người Lô Lô để lắng nghe ý
kiến của cộng đồng cư dân về vấn đề hôn nhân và có những định hướng
bằng hành đồng thực tiễn. Cơ quan quản lý cũng nên nghiên cứu các quy
định trong chương trình Xây dựng nông thôn mới, trong đó có tiêu chí về
xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện nếp sống trong việc cưới, việc tang.
4.4.2. Đối với hoạt động thực tiễn
Bước tìm hiểu, lựa chọn: Đôi trai gái tự do tìm hiểu, nếu thấy thực
sự tâm đầu ý hợp và yêu thương nhau thì thưa chuyện với bố mẹ hai bên
gia đình. Sau đó, bố mẹ bên nhà trai sẽ tìm người làm mối sang bên nhà
cô gái để nói chuyện. Nếu là chỗ thân quen có thể chủ động đến liên hệ,
bàn bạc việc tổ chức cưới cho đôi bạn trẻ và không nhất thiết phải có
người làm mối.
Bước thứ hai, Ông (bà) mối hay gia đình nhà trai sang nhà cô gái
ăn hỏi.
Bước thứ ba, đại diện cả hai họ bàn của cải ngày cưới và các nghi
thức để hai bên cùng chuẩn bị thông báo cho anh em dòng họ, bạn bè
nhà trai, nhà gái… đến dự đám cưới.
Tiểu kết Chương 4
Trên cơ sở nghiên cứu về hôn nhân cùng sự biến đổi của tục lệ này
hiện qua các dạng thức, các thành tố văn hóa vật thể và phi vật thể. Các
giá trị văn hóa tộc người vẫn được gìn giữ, trao truyền, tiếp thu và sáng
tạo trong tiến trình phát triển của dân tộc Lô Lô ở nước ta nói riêng và
cả dân tộc Việt Nam nói chung.
3. Luận án đã chỉ ra đặc điểm hôn nhân của người Lô Lô ở huyện
Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng. Hình thức hôn nhân và gia đình chủ đạo của
21
người Lô Lô là một vợ, một chồng với đặc điểm tảo hôn diễn ra mạnh
mẽ và rất ít có trường hợp ly hôn. Trong gia đình, cha mẹ luôn giữ vai
trò quan trọng, quyết định đến sự hợp thành trong hôn nhân của con cái.
Quy tắc hôn nhân truyền thống của dân tộc này vẫn luôn được bảo tồn,
gìn giữ. Hôn nhân của người Lô Lô cũng mang đậm nét văn hoá truyền
thống của tộc người. Trong những năm gần đây, dân tộc này đã bước
đầu chấp hành Luật Hôn nhân và Gia đình của Nhà nước, theo chế độ
hôn nhân một vợ, một chồng, người Lô Lô vẫn duy trì các nguyên tắc
hôn nhân truyền thống.
4. Từ việc nghiên cứu, khảo sát thực tiễn các hình thức hôn nhân
của người Lô Lô, luận án cho thấy bức tranh về lịch sử, văn hoá của
người Lô Lô một cách cụ thể và rõ nét. Đối với các nghi lễ trong đám
cưới nơi đây thể hiện bản sắc văn hoá và mang tính nhân văn sâu sắc,
theo phong tục truyền thống xưa, đám cưới bao gồm nhiều thủ tục rườm
rà và tốn kém. Tuy nhiên, hiện nay, các nghi lễ đã giản tiện hơn, song
không mất đi những nét đẹp truyền thống cổ truyền.
5. Do sự phát triển của xã hội, các chàng trai, cô gái được tự do tìm
hiểu, nhưng quyết định cuối cùng thuộc về cha mẹ và họ hàng. Người
Lô Lô xác định chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, trên cơ sở tình yêu
tự nguyện, nghi thức cưới đơn giản tuần tự được tiến hành ở nhà gái,
gián tiếp tạo ra sự biến đổi trong quan niệm và hành vi thực hành hôn
nhân của người Lô Lô nói riêng. Trong đám cưới của họ, các nghi thức
và trang phục truyền thống tuy có sự thay đổi nhưng cơ bản vẫn bảo lưu
được bản sắc văn hoá tộc người và phù hợp với xu thế của thời đại mới.
8. Việc nghiên cứu hôn nhân truyền thống của người Lô Lô cũng
như những biến đổi của tục lệ này trong thời kỳ mở cửa, dưới tác động
của nền kinh tế thị trường chính là cơ sở để xây dựng một chương trình
và chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc. Trên cơ sở
đó, tiếp tục làm giàu vốn văn hoá của đồng bào dân tộc thiểu số, giúp
các nhà quản lý chỉ đạo việc xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn
hoá. Phân loại phong tục, tập quán, phát huy những truyền thống tốt đẹp
và loại bỏ những yếu tố không còn phù hợp, làm cơ sở cho việc xây
dựng quy ước nếp sống văn hoá ở vùng đồng bào Lô Lô. Đẩy mạnh các
hoạt động văn nghệ quần chúng, lễ hội truyền thống... làm phong phú
23