VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH
TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ NGHỀ
Ở QUẬN HOÀN KIẾM
(TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI)
Chuyên ngành: Nhân học
Mã số
: 62 31 03 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Nguyễn Văn Minh
2. PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà
Phản biện 1: GS.TS. HOÀNG NAM
Phản biện 2: PGS.TS. LÂM BÁ NAM
Phản biện 3: PGS.TS. NGÔ VĂN DOANH
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
quận Hoàn Kiếm trong truyền thống và biến đổi hiện nay thông qua
các cơ sở thờ cúng cộng đồng, các hộ gia đình làm nghề thủ công để
làm rõ vai trò và ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong
đời sống của cư dân thành thị và những người làm nghề thủ công
truyền thống nhằm cung cấp hệ thống tư liệu khoa học và luận cứ
thực tiễn để tham khảo xây dựng và thực hiện chính sách bảo tồn,
phát huy các giá trị của thờ cúng tổ nghề trong phát triển đô thị hiện
nay ở quận Hoàn Kiểm nói riêng và ở nước ta nói chung.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về tổ nghề, tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề; khảo sát thực trạng các di
tích thờ tổ nghề trong quận Hoàn Kiếm hiện nay, kết với những
nguồn tư liệu lịch sử, bi ký…, góp phần phục dựng bức tranh thờ
cúng tổ nghề xưa và nay.
1
- Kết quả nghiên cứu của luận án là những cứ liệu quan trọng
giúp các nhà quản lý văn hóa của thủ đô trong việc cân nhắc lợi ích
giữa phát triển kinh tế với giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của
dân tộc, gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo trong phạm vi rộng
và bao quát hơn về loại hình tín ngưỡng này, đề xuất các biện pháp,
giải pháp nhằm thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn
hóa, lịch sử, nghệ thuật của tín ngưỡng thờ cúng các tổ nghề ở quận
Hoàn Kiếm một cách hợp lý.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là tín ngưỡng thờ cúng
tổ các nghề của người dân diễn ra trong các cơ sở thờ cúng cộng
Ý nghĩa lý luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận
của một số lý thuyết của ngành nhân học, như: thuyết giao lưu và tiếp
biến văn hóa, thuyết nghi lễ và chức năng của nghi lễ cùng với đó là
những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta cũng như của thủ đô Hà
Nội về văn hóa và phát triển...
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án cung cấp những luận cứ khoa học góp
phần phục vụ công tác xây dựng và thực hiện chính sách nhằm bảo
tồn và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ tổ nghề trong công cuộc
phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội hiện nay và đề xuất một
số khuyến nghị, giải pháp cho các năm tiếp theo.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận
án gồm 4 chương sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và
khái quát về quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Chương 2: Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trước năm 1954.
3
Chương 3: Biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề từ năm 1954
đến nay.
Chương 4: Vai trò, giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề của người
Việt ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội và một số vấn đề đặt ra.
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ
SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ QUẬN HOÀN KIẾM
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của các học giả nước ngoài
Thăng Long – Hà Nội là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá
của cả nước trong hơn 1000 năm, vì vậy từ rất sớm, rất nhiều người
nước ngoài đã đến đây làm ăn, buôn bán, họ có những ghi chép về
tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề được công bố, như: “Lược truyện thần
tổ các ngành nghề” của Vũ Ngọc Khánh (1991); “Thăng Long – Hà
Nội thế kỷ XVII- XVIII-XIX - một thành trị trung đại Việt Nam” của
Nguyễn Thừa Hỷ (1993); “Các vị tổ ngành nghề Việt Nam” của Lê
Minh Quốc (1998); “Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị
tổ nghề” của Đỗ Thị Hảo (2000); “Các Thành hoàng và tín ngưỡng
Thăng Long- Hà Nội”của Nguyễn Vinh Phúc – Nguyễn Duy Hinh
(2010); “Danh nhân Việt Nam, Các vị cụ tổ ngành nghề Việt Nam”
của Thu Huyền – Ái Phương (2011); “Hà Nội phố phường xưa” của
Hoàng Đạo (2010); “Tín ngưỡng trong sinh hoạt văn hóa dân gian”
của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và Ngô Đức Thịnh (2012).
V.v…
Ngoài những công trình đã xuất bản trên, tại Thư viện Viện
Thông tin khoa học xã hội và Ban quản lý di tích Hà Nội hiện còn
lưu giữ một số thần tích, thần sắc và hồ sơ tư liệu từ năm 1984 khi
đánh giá thực trạng về các di tích thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn
5
Kiếm. Đây là những tư liệu bổ trợ hữu ích cho tác giả hoàn thành
luận án của mình.
1.3. Cơ sở lý thuyết
- Luận án sử dụng một số khái niệm cơ bản, như: khái niệm “Tín
ngưỡng”, khái niệm “tổ nghề”, “tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề”, khái
niệm “truyền thống”, “biến đổi”, khái niệm “khu phố cổ Hà Nội”.
- Luận án dử dụng các lý thuyết chuyên ngành dân tộc học, đó là: Lý
thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa (Acculturation), Thuyết chức năng
cùng các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa và phát
triển văn hóa.v.v…
ngưỡng thờ cúng tổ nghề, truyền thống, biến đổi; áp dụng một số luận
điểm của lý thuyết Giao lưu tiếp biến văn hóa, Thuyết chức năng của nghi
lễ và các phương pháp chủ đạo là điền dã dân tộc học với các công cụ
quan sát tham dự, phỏng vấn sâu các nghi thức tế lễ ở các di tích tích tín
ngưỡng thờ cúng tổ nghề và tại gia đình.
Hoàn Kiếm là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Thăng
Long – Hà Nội suốt hơn nghìn năm. Với vị thế tự nhiên thuận lợi,
ngay từ thời Lý-Trần, Hoàn Kiếm đã có những phường nghề chuyên
làm nghề thủ công cung cấp hàng hóa phục vụ cho triều đình. Các thế
kỷ tiếp theo, các cuộc di dân lớn vào Thăng Long mang theo các
nghề thủ công truyền thống và lập lên những phố nghề. Sau này, mỗi
phường nghề mua đất dựng cơ sở thờ cúng chung và rước long ngai,
bài vị từ quê cũ ra Thăng Long để thờ vọng tổ nghề cầu mong cho
công việc sản xuất, làm ăn được phát đạt, hanh thông.
Chương 2: TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ NGHỀ TRƯỚC
NĂM 1954
2.1. Thờ cúng tổ nghề kim hoàn
Hiện chưa rõ nghề kim hoàn xuất hiện từ bao giờ, nhưng qua các
làng truyền thống làm nghề này được sử sách ghi chép lại như: làng
Châu Khê (Hải Dương), làng Đồng Xâm (Thái Bình), làng Kiêu Kỵ,
làng Định Công (Hà Nội) thì nghề kim hoàn ở nước ta ra đời cách
7
ngày nay khoảng trên dưới 500 năm. Từ xưa, mỗi địa phương làm
nghề kim hoàn lại suy tôn một vị tổ nghề riêng, như: làng Định Công,
Thanh Trì, Hà Nội suy tôn tổ nghề là 3 anh em Trần Hòa, Trần Điện,
Trần Điền; làng Châu Khê lại thờ ông Lưu Xuân; làng Đồng Xâm,
Thái Bình thờ Nguyễn Kim Lâu; vùng đất Thuận Quảng thờ Cao
Đình Độ; thợ kim hoàn thành phố Hồ Chí Minh thờ bà Lệ Châu;...
kia, ngoài các đồ cúng lễ trên, phải có thoi bạc đặt lên ban thờ biểu hiện
đặc trưng của mỗi nghề. Những người tham dự gồm tất cả bà con trong
phố Hàng Bạc và đại diện dân làng Châu Khê được mời lên dự.
Ngoài hai kỳ lễ chính trong năm, vào những ngày rằm, mùng 1 hàng
tháng, thay mặt cho phường nghề, cai trưởng sắm sanh lễ vật làm lễ tổ
nghề mong Ngài phù hộ cho công việc làm ăn của thợ kim hoàn được
may mắn.
2.2. Thờ cúng tổ nghề nhuộm
Tương truyền, nghề nhuộm ở nước ta được hình thành rất sớm từ
vùng quê Đan Loan, Hải Dương. Khoảng vào thời Lê, những thợ
nhuộm ở Đan Loan di cư ra phố Hàng Đào làm nghề nhuộm, họ xây
dựng ngôi đình Hoa Lộc thị tại 90A phố Hàng Đào để thờ vọng tổ
nghề nhuộm là Triệu Xương. Hàng năm, tại đình Hoa Lộc thị tổ chức 2
kỳ tế lễ “xuân thu nhị kỳ” (tính theo âm lịch). Lễ tế xuân vào dịp tháng
giêng, tháng 2; lễ tế thu vào tháng 8, tháng 9. Ngoài hai kỳ lễ trên, trong
năm còn có lễ Thượng điền, lễ Hạ điền và lễ vào ngày 30 tết và các ngày
tuần tiết, sóc vọng (ngày rằm, mùng 1 hàng tháng). Lễ vật cho hai kỳ lễ
này gồm thịt lợn, thịt trâu hoặc bò, xôi trắng, trầu cau, rượu, mũ áo,
tiền vàng, trà nước, hoa quả. . Những người muốn tham giả phải đóng
góp tiền mới được vào tế lễ. Ngoài hai kỳ lễ chính, vào những
ngày rằm, mùng 1 hàng tháng, người đăng cai phải chuẩn bị lễ vật
và thay mặt phường nghề làm lễ cúng tổ nghề tại đình chung để
9
cầu mong tổ nghề phù hộ cho công việc sản xuất, kinh doanh của
phường nghề phát đạt, thuận lợi.
2.3. Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề thêu
Cho đến nay không ai biết được nghề thêu ở nước ta hình thành
thợ giày da từ làng Chắm di cư ra Thăng Long đã xây dựng hai ngôi đình
là đình Trúc Lâm và đình Hài Tượng (đình Hàng Giày) để thờ vọng tổ
nghề của mình.
* Đình Trúc Lâm: Địa chỉ tại số 40, phố Hàng Hành, phường
Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm. Đình này do làng Chắm Chợ xây
dựng vào khoảng thể kỷ XIX bằng tre nứa, đến năm 1869, được dựng
lại bằng gạch ngói.
* Đình Hàng Giày: còn được gọi là đình Hài Tượng (vì tọa lạc
trên đất của thôn Hài Tượng) thuộc tổng Tiền Túc, huyện Thọ
Xương, phủ Hoài Đức. Ngôi đình này do dân làng Chắm Giữa
(Phong Lâm) xây dựng khoảng cuối thế kỷ XIX, sau đó được trùng tu
ở thế kỷ XX.
Hàng năm dân phường giày da tổ chức tế lễ xuân thu nhị kỳ vào ngày
13 tháng 2 và 13 tháng 8 (âm lịch). Lễ vật dâng cúng cho hai kỳ lễ này
ngoài xôi gà, thịt lợn, gạo, thanh bông, hoa quả, trầu cau, rượu…phải có
đôi giày da đặt trên ban thờ tổ nghề để tỏ lòng cung kính và biểu thị đặc
trưng của nghề. Thành phần tham gia là bà con làm nghề ở phố Hàng
Hành và phố Hài Tượng. Ngoài hai kỳ lễ trên, vào các ngày rằm, mùng 1
hàng tháng, tại hai cơ sở thờ cúng này vẫn diễn ra các hoạt động thờ cúng
theo phong tục nhằm cầu mong cho nghề nghiệp phát đạt, hanh thông.
Ngoài nghi lễ ở đình chung, mỗi gia đình làm nghề cũng tổ chức cúng
tổ nghề trong các kỳ lễ của phường nghề qui định.
2.5. Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề sơn
Nghề sơn xuất hiện ở nước ta từ rất sớm, đến thời Lý, nghề sơn
phát triển rất mạnh. Thế kỷ XVI, Trần Lư là người đã có công cải
11
tiến để nâng cao chất lượng sơn sống dạy cho dân các làng Hạ Thái,
Hà Vĩ, Duyên Trường, Hướng Dương…. Vì thế mà dân các làng này
động cúng lễ theo qui định.
2.7. Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề rèn
Tổ nghề rèn có nhiều vị, mỗi vị lại được thờ ở những địa phương
khác nhau. Hiện nay, nhiều người cho rằng, tổ chung của nghề rèn là
Cao Lỗ, ông sống dưới thời Hùng Vương thứ 6, ông đã có công
truyền dạy nghề rèn cho dân, sau khi ông qua đời, nghề rèn tôn ông
làm Tổ sư. Vào khoảng thế kỷ XVIII-XIX, thợ rèn sắt từ Hòe Thị di
chuyển đến Thăng Long, lập nghiệp chủ yếu ở phố Lò Rèn (ngày
nay), họ xây dựng ngôi đình Lò Rèn để thờ vọng tổ nghề là Lư Cao
Sơn. Cũng thời gian này, thợ rèn Đa Hội, Từ Sơn, Bắc Ninh ra phố
Lò Sũ làm nghề, họ cũng xây ngôi đình thờ tổ nghề rèn ở số 30 Lò Sũ
(đình này nay không còn). Hàng năm, dân phường rèn tổ chức tế lễ
xuân thu vào ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 với sự tham dự của bà
con trong phố Lò Rèn và người làng Hòe Thị, Xuân Phương. Theo lệ,
lễ vật gồm xôi, thủ lợn, gà đặt lên ban thờ tổ nghề. Ngoài hai kỳ lễ
trên, vào các ngày rằm, mùng 1, bà con trong phố sau khi lễ tổ nghề
tại gia cũng đến đình chung làm lễ theo phong tục.
2.8. Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề tiện
Theo truyền thuyết, nghề tiện gỗ ở nước ta ra đời cách đây
khoảng vài trăm năm, từ thời vua Lê chúa Trịnh. Nhiều người vẫn
cho rằng, làng Nhị Khê (huyện Thường Tín, Hà Nội) là nơi khởi phát
nghề tiện. Tương truyền, tổ nghề tiện gỗ là ông Đoàn Tài có công dạy
dân nghề tiên, sau khi ông mất, dân tôn ông làm tổ nghề.
Thế kỷ XIX, làng tiện Nhị Khê đến Thăng Long, định cư tại phố
Hàng Hành, phường Hàng Trống, họ xây dựng ngôi đình Nhị Khê để
thờ vọng tổ nghề của mình. Hàng năm, dân làng Nhị Khê tổ chức 3 kỳ
tế lễ chính, đó là: lễ tế xuân thu ngày 12 tháng 2 và ngày 12 tháng 8), lễ
13
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NAY
3.1. Biến đổi và xu hướng biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng
tổ nghề
3.1.1. Biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở các đình
* Nghề kim hoàn: Sau năm 1954, thờ cúng tổ nghề thường bị coi là
“mê tín di đoan”, vì vậy dân làm nghề không thường xuyên tổ chức cúng
lễ. Do đó, các cơ sở thờ cúng tổ nghề cũng không được quan tâm, tu bổ,
hệ quả là di tích bị xuống cấp, dân trong phường nghề tự ý vào ở trong di
tích mà không có ai quản lý. Từ năm 1984 và đặc biệt từ đầu thế kỷ XXI
đến nay, công tác quản lý, bảo tồn các di tích trong khu phố cổ được quan
tâm, như: lập hồ sơ xếp hạng đình Kim Ngân, tiến hành trùng tu, tôn tạo,
phục dựng lễ hội truyền thống. Năm 2012 đình Kim Ngân đã được tu bổ
với tổng kinh phí là 42 tỷ đồng từ nguồn ngân sách nhà nước.
Sau thời kỳ đổi mới, mọi hoạt động tế lễ lại được khôi phục lại. Tuy
nhiên số ngày lễ của các kỳ lễ đã được rút ngắn lại cho phù hợp. Lễ vật
cũng đã giản tiện nhiều và không có lễ vật đặc trưng của phường nghề
dâng cúng như xưa. Thành phần tham dự được mở rộng ra mọi đối tượng
trong phường, đặc biệt là có sự tham gia của Ban quản lý Phố Cổ Hà Nội.
Do đó không khí buổi tế lễ rất long trọng, trang nghiêm
* Nghề nhuộm: Cũng như nghề kim hoàn, sau năm 1954, do không
được quan tâm nên đình Hoa Lộc thị đã bị người dân xung quanh lấn
chiếm toàn bộ tầng 1 làm nhà ở và cửa hàng. Sau đó, tín ngưỡng thờ tổ
nghề được thay bằng tín ngưỡng thờ Mẫu. Năm 1999- 2000, nhân dịp kỷ
niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội, đình Hoa Lộc Thị được sửa sang tu
bổ lại, khôi phục lại thờ cúng tổ nghề tại đây vàphối thờ thêm Triệu
Quang Phục và đức Thần hoàng Bản thổ. Từ thời điểm năm 2000, khi tín
ngưỡng thờ cúng tổ nghề nhuộm được khôi phục lại, hai kỳ tế lễ xuân thu
15
kỳ lễ chính trong năm vẫn được duy trì theo lệ cũ. Thành phần tham dự đã
được mở rộng ra mọi đối tượng, không còn gói gọn trong những người
làm nghề như trước đây.
* Nghề làm quạt: Năm 1963, quận Hoàn Kiếm chuyển toàn bộ đồ thờ
của đình Hàng Quạt đi nơi khác, cải tạo mặt bằng làm cửa hàng lương
thực, chấm dứt hoạt động thờ cúng tại đây. Năm 1998, di tích được
UBND phường Hàng Gai trùng tu lại theo phong cách truyền thống
nhưng lại được sử dụng làm trụ sở khai báo tạm trú, tạm vắng của UBND
phường Hàng Gai.
* Nghề rèn: từ sau năm 1975, do chính quyền địa phương buông lỏng
công tác quản lý nên hai hộ dân phường rèn đã tự ý vào ở trong di tích cho
đến nay. Năm 2013, các cơ quan chức năng đã lên phương án di dời 2 hộ
ra khỏi di tích để có cơ sở trùng tu, tôn tạo đình Lò Rèn nhưng vẫn chưa
thành công. Đến nay, thờ cúng tổ nghề rèn không có gì thay đổi. Hàng
năm, dân phố Lò Rèn vẫn tổ chức hai kỳ lễ chính vào ngày 22 tháng 2 và
ngày 22 tháng 8 với cách thức thờ cúng như xưa, nhằm nhắc nhở con cháu
không quên ơn của những người đã truyền nghề cho họ.
* Nghề tiện gỗ: Đình Nhị Khê, số 11 Hàng Hành vốn là nơi thờ cúng
tổ nghề tiện. Nhưng, trong những năm từ 1952 đến 1954, ngôi đình này đã
không còn yếu tố thờ cúng. Vì vậy, Sở Nhà đất Hà Nội đã cho các hộ dân
thuê để ở.
* Nghề cổ yếm: Từ năm 1956 đến năm 1984, ngôi đình đã nhiều lần
thay đổi công năng sử dụng và không còn thờ cúng tổ nghề. Từ năm 2000
đến nay, được phục dựng theo dáng xưa trở thành “ngôi nhà di sản” trong
khu phố cổ Hà Nội. Do nghề cổ yếm không còn tồn tại, do đó đình Đồng
Lạc cũng không còn yếu tố thờ cúng. Từ năm 2000 đến nay, sau khi được
trùng tu, sửa chữa, khôi phục lại tín ngưỡng thờ cúng, đình Đồng Lạc
được sử dụng với nhiều chức năng: là nơi thờ tổ nghề, là trụ sở làm việc
17
18
tăng dân số đô thị, do thiếu sự tuyên truyền và quan tâm của chính quyền
sở tại, di tích bị lấn chiếm, hư hỏng…
Tiểu kết chương 3
Về cơ bản, các cơ sở thờ cúng tổ nghề của những phường nghề vẫn
còn tồn tại và duy trì hoạt động thờ cúng. Hiện nay, các cơ sở thờ cúng tổ
nghề đều được quản lý chặt chẽ. Hầu như những ngày lễ chính (xuân thu
nhị kỳ, lễ giỗ tổ) vẫn được duy trì đều đặn. Tuy nhiên, thời gian diễn ra lễ
hội đã rút ngắn lại so với trước kia. Lễ vật dâng cúng chủ yếu vẫn theo lệ
cũ, song đã giản lược hơn nhiều so với trước đây. Thành phần tham dự đã
mở rộng ra mọi đối tượng, tuy nhiên, thờ cúng tổ nghề trong các gia đình
thì đã thay đổi hoàn toàn.
Chương 4: VAI TRÒ, GIÁ TRỊ CỦA TÍN NGƯỠNG
THỜ CÚNG TỔ NGHỀ CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ ĐẶT RA
4.1. Vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong đời sống người
Việt ở quận Hoàn Kiếm xưa và nay
- Trước năm 1954: Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề có vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế, xã hội của cộng đồng người Việt trên địa bàn quận
Hoàn Kiếm. Từ cố kết với nhau trong sinh hoạt tín ngưỡng, do vậy nó có
ảnh hưởng lớn đến hoạt động buôn bán, kinh doanh của phường nghề,
như: tiêu thụ sản phẩm, cung cấp nguyên vật liệu, truyền nghề, xây dựng
mạng lưới chợ búa, tương trợ nhau khi gặp khó khăn trong kinh doanh,
buốn bán…Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm còn có
vai trò nhất định trong đời sống văn hóa tinh thần, như: giáo dục đạo đức
truyền thống tôn sư trọng đạo, yêu lao động, sáng tạo, tri ân tổ tiên và
góp phần làm đa dạng bản sắc văn hóa Thăng Long – Hà Nội.
hủy, các bi ký, bài vị, đồ thờ… bị xâm hại, mất mát, lưu giữ ở các kho…
đã làm suy giảm đi các giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề.
20
4.4. Một số khuyến nghị và giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các
giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong bối cảnh hiện nay
4.4.1. Cơ sở để xuất khuyến nghị
Nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống được cụ thể hóa trong
Nghị quyết TW 5, khóa VIII (1998); Chiến lược phát triển văn hóa của
nước ta đến năm 2020, đặc biệt là Nghị Quyết số 33-NQ/TW, ngày
12/6/2014 của Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ 9, khóa XI về
Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu
cầu phát triển bền vững đất nước. Riêng đối với Thủ đô Hà Nội,
Quốc hội còn ban hành Luật thủ đô Hà Nội năm 2013. Ngoài ra, còn
các văn bản dưới Luật của UBND thành phố và cơ quan ngành văn
hóa Thông tín thành phố nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của
thủ đô một cách có hiệu quả nhất.
4.4.2. Khuyến nghị
- Đối với các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương cần phối
hợp với ngành văn hóa tiến hành khảo sát toàn bộ di tích thờ cúng tổ nghề
hiện còn trên địa bàn quận, đánh giá mức xuống cấp, vi phạm, tình trạng
bảo quản…để có kế hoạch cho các bước tiếp theo. Tổ chức sưu tầm các
thư tịch, truyền thuyết, tư liệu, hiện vật; khôi phục những lễ hội thờ cúng
tổ nghề; tổ chức nghiên cứu và xuất bản các sách chuyên khảo về các vị tổ
nghề; phối hợp với các trường học trên địa bàn quận tổ chức các cuộc thi
tìm hiểu nghề và thờ cúng tổ nghề trong khu phố cổ, sự hình thành và phát
triển từng nghề, thực trạng những nghề còn, mất.
- Đối với Tiểu ban quản lý di tích, Ban tổ chức nghi lễ và người làm
nghề: nhà nước cần có chính sách quan tâm đến Tiểu ban quản lý của các
chỉ đạo của Trung ương và Hà Nội, tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề cần được
nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, phải coi văn hóa Thăng Long – Hà Nội,
trong đó có tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề cần được ưu tiên trong công tác
bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của Hà Nội. Đối với những di tích
22