Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên - Pdf 30

MỤC LỤC :
MỤC LỤC : 1
A.ĐẶT VẤN ĐỀ: 1
B.NỘI DUNG : 2
I.Khái quát chung : 2
3.Giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: 3
3. Nguyên nhân của sự khác biệt về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: 14
C. KẾT LUẬN: 15
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN : 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO : 17
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Như chúng ta đã biết, dân tộc Việt Nam ta có một nền văn hóa rất phong phú và đa
dạng trên mọi mặt đời sống tinh thần. Như các dân tộc khác trên thế giới, từ thuở xa xưa
dân tộc Việt Nam đã thờ các thần linh. Họ thờ tất cả các thế lực vô hình và hữu hình mà
thực chất là các hiện thượng thiên nhiên và xã hội mà họ chưa giải thích được.Từ đó hình
thành nên tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Trong các loại tín ngưỡng thì tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên là một hình thức tín ngưỡng cơ bản và phổ biến của người Việt Nam, bất
kể là đồng bằng hay miền núi, nông thôn hay thành thị, người giàu hay người nghèo…
Nguyễn Đình Chiểu có câu:
1
“Thà đuôi mà giữ đạo nhà
Còn hơn mắt sáng cha ông không thờ”
Vượt lên trên cả khía cạnh tín ngưỡng, tôn giáo, tục thờ cúng tổ tiên thấm đượm đạo
lý uống nước nhớ nguồn, một thứ ứng xử cộng đồng gia tộc, quốc gia. Nó trở thành một
chuẩn mực khuôn mẫu của ứng xử của con người Việt Nam.
B. NỘI DUNG :
I. Khái quát chung :
1. Nguồn gốc:
Xuất phát từ quan niệm người chết linh hồn vẫn tiếp tục sống ở nơi chín suối, ở thế
giới bên kia, vẫn có nhu cầu sinh hoạt như người sống nên người ta chôn theo người chết
những đồ tùy táng, phân chia các đồ dùng sinh hoạt cá nhân cho ngời chết.

Bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt đều mang chung ba khía
cạnh:
- Thờ cúng những người trong cùng dòng họ máu mủ đã khuất, theo từng đơn vị
gia đình, gia tộc…
- Nó mang tính chất là một hình thái tín ngưỡng, thờ tự, cúng lễ, cầu mong linh
hồn ông bà tổ tiên “phù hộ” cho hiện thực cuộc sống của con cháu.
- Nó cộng thêm khía cạnh đạo lý uống nước nhớ nguồn: “Công cha như núi Thái
Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.
3. Giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
Thờ cúng tổ tiên là một tập tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc biệt trong đời
sống tinh thần, tâm linh của dân tộc Việt Nam và là một trong các thành tố quan trọng tạo
nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Từ buổi bình minh dựng nước đến ngày nay, tri ân, tưởng
nhớ, thờ cúng tổ tiên luôn là đạo lý, tín ngưỡng truyền thống của người việt. Tín ngưỡng
này được bảo tồn và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để bồi lắng, kết tụ thành
những giá trị văn hóa, lịch sử và đạo đức của người Việt.
3.1 Giá trị lịch sử, văn hóa:
Phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt có từ rất lâu đời. Đó là một phong tục
đẹp, giàu bản sắc, có tính chất giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Tự bản thân phong
tục thờ cúng tổ tiên đã mang trong nó những giá trị văn hóa nhân bản. Thờ cúng tổ tiên là
tín ngưỡng gốc xuyên suốt quá trình lịch sử Việt Nam, nó là sợi dây tạo mối liên kết, tính
3
thống nhất toàn dân tộc, đồng thời là cội nguồn của các phong tục, tín ngưỡng khác. Cả
cộng đồng cư dân Việt Nam được củng cố bởi đức tin chung một cội nguồn, lấy đó làm
cội nguồn sức mạnh tinh thần để dân tộc ta vững vàng trước mọi sự đe dọa của thiên tai
và ngoại xâm.Vì là một tín ngưỡng có sức sống lâu bền, có gốc rễ sâu xa trong cộng
đồng người Việt nên nó là một hiện tượng xã hội có tính phổ biến. “ Thờ cúng tổ tiên là
nghi thức mang hiệu quả đặc biệt trong việc giáo dục chữ Hiếu, chữ Nhân, chữ Lễ, chữ
Tâm, là những phẩm chất cần thiết nhất để con người có thể được xem là hoàn thiện
trong nhân cách. “Một trong những ảnh hưởng có thể kiểm chứng ngay của những người
đã khuất đến thế giới hiện tại là góp phần điều chỉnh, giáo dục con người thông qua

dược phục hồi. Các dòng họ đua nhau tu sửa từ đường, mồ mả tổ tiên, lập lại gia phả.
Nhiều dòng họ cử người ra Bắc vào Nam sưu tập tài liệu, biên soạn gia phả để lưu truyền
cho đời sau.
Từ đó, có thể nói tín ngưỡng thờ Quốc Tổ Hùng Vương nói riêng và tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên nói chung đã trở thành một trong những di sản văn hóa độc đáo của dân tộc
Việt Nam. Đó là sự kết tinh và phát triển các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống đặc
sắc, lịch sử của dân tộc Việt Nam. Những giá trị ấy góp phần bồi đắp lòng yêu nước
thương nòi, đạo lý uống nước nhớ nguồn, có trước có sau. Không gì khác, chính từ
những giá trị đó đã làm nên sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam trước bao biến cố
của lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.
3.2. Giá trị đạo đức:
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt trong quá trình hình thành, tồn tại và
phát triển đã góp phần tạo ra những giá trị đạo đức truyền thống. Xuất phát từ mối liên hệ
mật thiết, gắn bó trên cơ sở huyết thống, mà quy thành những Đạo, nghĩa cụ thể, như:
đạo, nghĩa cha – con; đạo, nghĩa vợ - chồng; đạo, nghĩa anh – em. Trong các đạo ấy thì
Đạo Hiếu để xoay quanh mối quan hệ cha – con và anh- em. Trở thành một cái đạo trung
tâm chi phối đạo đức gia đình và mang đến cho gia đình những giá trị văn hóa – đạo đức
căn bản nhất. Từ chữ hiếu đối với ông bà tổ tiên mình được mở rộng, mang thêm những
sắc thái ý nghĩa mới mang tính cộng đồng, trở thành tấm lòng của người đi sau dành cho
người đi trước, sự ngưỡng mộ đối với tiền nhân, các công thần có công với nước được
thờ trong đình làng, cho đến một đạo với ý thức thờ cúng “ người cùng một cội ”, “ cùng
một bọc trứng mà sinh ra ”. Đó là lòng hiếu thảo, lòng nhân ái, tính cộng đồng, tính cần
cù sáng tạo, lòng hiếu học, và lòng yêu nước. Đó là những giá trị hết sức quý báu cần
được bảo lưu, kế thừa, nghiên cứu, khai thác và phát huy để phục vụ cho sự nghiệp xây
5
dựng xã hội mới. Vì thế, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã trở thành một cái gì đó vĩnh hằng
cùng với sự tồn tại và phát triển của dân tộc, đẹp hơn đó là “ hiếu với dân, với nước ”.
Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam trong quá trình hình thành,
tồn tại và phát triển đã góp phần tạo lập nhiều chân lí, giá trị quý báu. Bên cạnh đó, nó
còn khơi dậy đạo lí làm người, ngăn chặn suy thoái đạo đức, giữ thang giá trị, đạo đức

Tết đến với ngôi nhà Việt bắt đầu từ việc trang hoàng bàn thờ ông bà. Những vật dụng
thờ cúng được lau chùi đánh bóng, bên cạnh đó khác với ngày thường là có thêm lọ độc
bình (hoặc song bình) cắm hoa tươi, một cành đào ở Bắc, một cành mai phổ biến ở Trung
và Nam.
.Cả hai miền đều có mâm ngũ quả. Mâm cúng ngày giỗ hay ngày Tết đều không
được đặt trực tiếp lên bàn thờ mà phải đặt trên chiếc bàn thấp hơn kê trước bàn thờ. Quá
trình nghi lễ, người làm lễ sẽ mặc áo the khăn xếp, bước lên chiếc sập trước bàn thờ để
thắp hương, đèn nến rồi đứng giữa sập, hai tay chắp giữa ngực, lên gối xuống gối lễ ba
lần, đoạn đứng nghiêm, mười ngón tay đan vào nhau và đưa lên ngang trán, miệng lầm
rầm khấn. Bài nhấn có ba phần. Mở đầu là ngày tháng năm (âm lịch), tại nhà thờ ở thôn,
xã, huyện, tỉnh tiến chủ tên gì, nhân ngày giỗ ai, thành tâm cúng tiến những gì. Phần
sau là gia chủ kính mời từ thần linh, thổ địa, táo quân đến tên họ và hiệu, nơi an táng
các vị trong gia đình theo thứ tự từ trên xuống (chỉ khấn nam và dâu họ, nữ không khấn,
trừ trường hợp chết chưa có chồng). Cuối bài khấn là những cầu xin. Khấn xong, ông
trưởng nam lễ một lễ và ba vái nữa, rồi rót rượu cúng. Một số họ lớn, khi giỗ tổ họ, tổ
chức dâng hương tế tổ và thay bài khấn bằng một bài văn tế, ông trưởng lễ xong thì đọc
bài văn tế, rồi đem ra sân đốt như đốt sớ ở đình chùa. Khi khấn xong, những người đến
dự giỗ lần lượt già trước, trẻ sau vào lễ, người nào cũng đem một ít hoa, quả hoặc vàng
hương, trầu rượu đặt lên bàn thờ rồi lễ, mỗi người ba lễ một bái, nam thì lễ như ông
trưởng, nữ thì ngồi vào góc sập, chắp hai tay trước ngực, khi cúi thì giáp mặt tận chiếu,
hai bàn tay xòe ra đặt hai bên đầu. Những bà gia đình có đại tang (bố mẹ hoặc chồng mới
chết) phải lật một phần chiếu, ngồi xuống mặt sập, hai tay lật ngửa vòng khăn trắng quấn
tóc mà lễ.
2. Nguyên nhân của sự tương đồng về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
Việt Nam là nước có nền văn hóa lâu đời , rất phong phú và đặc sắc mang đậm
bản sắc dân tộc. Một trong những bản sắc đẹp ấy là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đây là
7
một tín ngưỡng đã có từ rất lâu đời và được nhân dân ta kế thừa và phát huy cho đến
ngày nay, thể hiện chữ hiếu chữ nghĩa dành cho ông bà tổ tiên người đã sinh ra ta . Dù
mỗi miền có cách thờ cúng tổ tiên riêng nhưng nhìn chung ở 2 miền Bắc-Nam đều có

cỗ bình thường (gọi là cỗ “bàn than”): chỉ có mấy món chế biến từ thịt lợn: luộc, rang,
lòng, có thể thêm đĩa giò, làm cỗ to (gọi là cỗ “đồ Tàu”) có những món cầu kỳ hơn,
thường mỗi mâm có có tám bát và tám đĩa: giò, nem, ninh, mọc, nấm, bóng Có gia đình
khá giả làm cả bò, lơn, gà (hoặc dê) gọi là cỗ “tam sinh”.Những giỗ làm theo phạm vi
rộng thường 30 mâm, có nhà tới hàng trăm mâm, trong phạm vi hẹp độ 5- 10 mâm (mỗi
mâm 6 người). Cỗ truyền thống của người miền bắc:
- Một con cua và một quả trứng bày chung trên một đĩa
- Xôi vò, chè đường
- Bánh dầy đậu
- Cơm trắng
- Xôi gấc (ăn kèm với giò, chả)
- Giò lụa hay giò bò thì là
- Giò thủ, Giò bì
- Chả quế
- Thịt quay
- Bê thui (chấm tương gừng)
- Thịt kho tàu
- Chả giò cua bể + bún
- Gà quay hay gà luộc (chặt miếng, sắp vào một chiếc đĩa sâu, những miếng đẹp
và có da thì nằm sát đáy đĩa, rồi úp ngược đĩa gà này vào một chiếc đĩa trảng
khác, cho ngon mắt)
- Chân giò (giò heo) hầm măng khô, mộc nhĩ
- Thịt đông, dưa chua (nếu cúng giỗ vào mùa lạnh)
- Nem dê (làm bằng thịt bò nhưng gọi là nem dê)
- Tôm sú hay tôm càng rim
- Tôm thịt xào nấm đông cô, đậu ve, cà rốt, su hào
- Lươn om với bắp chuối bào
- Nộm măng (+ tôm, thịt, khế thái dọc, mè rang)
- Miến xào lòng gà (+ mộc nhĩ)
- Món bóng cá nhồi giò sống hay bóng lợn (canh bóng, nấu với rau củ, nấm, mộc

Người miền Bắc nhà nào cũng có một bàn thờ gia tiên. Trang trí bàn thờ là cách để
con cháu bày tỏ lòng yêu kính và tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên.Bàn thờ là nơi ngự vị của
các bậc tiền nhân trong gia đình, vì thế nó thường được đặt ở vị trí trung tâm và cao nhất
trong nhà Nhà nghèo thì bàn thờ là một tấm gỗ sơn đỏ nối hai cột chính với hai cột sau.
Trên tường chính giữa dán một vuông giấy đỏ có viết một chữ Hán to "Phúc" hoặc
"Thần". Trên tấm gỗ, đặt ba bát hương, bát giữa kê cao hơn thờ thần linh, bát bên phải
thờ gia tiên và bát bên trái thờ các "bà cô, ông mãnh" - những người chết chưa vợ, chưa
chồng và được gia đình coi là linh thiêng. Hai góc trước của bàn thờ có hai cây nến tiện
bằng gỗ.Nhà khá hơn thì bàn thờ là một án thư có trang trí hoa văn, sơn son hoặc sơn
10
then (đen), đèn nến bằng gỗ tiện sơn son. Nhà giàu thì chạm trổ "tứ linh" (bốn con vật
thiêng: long (rồng), ly (kỳ lân), quy (rùa), phượng (chim phượng hoàng); mặt trước án
thư là một tấm gỗ quý chạm "mai long" (cây hoa mai uốn hình rồng) hoặc chữ "ngũ
long" (năm con rồng quây thành một vòng tròn), tất cả đều bằng sơn son thếp vàng. Trên
án thư có bộ "tam sự" bằng đồng, có nhà còn thêm bộ đài rượu bằng gỗ sơn son hoặc
bằng đồng (gồm ba khối hình ống, đáy cao, có nắp đậy, trên mỗi đáy đặt một chiếc chén
hạt mít, khi cúng cơm, gia chủ mở nắp, rót vào chén). Có nhà thêm ống cắm hương chưa
thắp, mâm bồng để bày hoa quả Việc lau dọn sạch sẽ bàn thờ là công việc trước tiên và
được thực hiện một cách cẩn thận, tỉ mỉ. Chổi quét hoặc khăn lau bàn thờ thường được
dùng riêng, và rất hạn chế sự chung đụng. Nước lau bàn thờ thường được dùng từ nguồn
nước sạch sẽ, có người còn dùng nước mưa thậm chí nước nấu từ lá trầu, lá bồ đề để lau.
Nếu là những gia đình khá giả, trước di ảnh còn có đỉnh đồng để đốt trầm vào mỗi dịp
cúng kiến, đỉnh đồng thường được chạm khắc long, lân, mai, trúc. Hai bên bát nhang
phía trước là đôi chân đèn để thắp nến, có ý nghĩa tượng trưng cho đôi vầng nhật nguyệt,
cũng để nói lên người đã chết nhưng linh hồn của họ thì không bao giờ tắt. Ở miền Bắc
đôi khi thấy ở vị trí đôi chân đèn là hai ngọn đèn dầu. Tường sau bàn thờ nhà khá giả là
hoành phi, liễn đối xứng bằng Hán tự sơn son thếp vàng, có nội dung nói lên công đức
của những người đã khuất. Ở gia đình bình dân, đó là tranh thờ, thường là trang dân gian
vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư, cá chép vượt vũ môn hay các chữ như Phúc, Lộc, Thọ ( đều
bằng Hán tự ).

thủ hay nải chuối như bàn tay che chở của đức phật cho tất cả mọi người; quả bưởi, dưa
hấu thể hiện cho sự đầy đặn, trọn vẹn căng đầy sức sống; màu sắc thắm tươi của quýt,
hồng tượng trưng cho sự may mắn, phồn thịnh cát tường. Ngoài ra, trước khi người chủ
12
trì thờ tự cùng con cháu dâng hương, thường thấy ngoài Bắc còn đặt lên bàn thờ ba ly
nước, trong Nam là 2 ly rượu, một ly nước, có ý nghĩa tượng trưng cho sự tranh khiết của
trời đất và tinh hoa của mùa màng. Cũng có một chút khác nhau giữa hai miền là ngoài
Bắc người thờ tự tổ tiên là con trai trưởng còn miền Nam là con trai út.
Đối với người miền Nam việc bài trí các vật dụng trên bàn thờ cũng được sắp đặt
theo một khuôn mẫu nhất định. Trên mỗi bàn thờ của người dân Nam bộ thường có đầy
đủ “ngũ sự” gồm: Lư hương, hai chân đèn, lục bình cắm hoa và một ống bằng gỗ hoặc
đồng dùng đựng nhang. Lư dùng đốt (xông) trầm hương mà bà con quen gọi là lư hương,
phần lớn được đúc bằng đồng, số ít được chạm khắc bằng đá hay gỗ quý, được đặt ngay
trung tâm của bàn thờ. Lư hương được đặt vững chãi, không xéo, không nghiêng, chênh
lệch… bởi đó là điều tối kỵ. Hình dáng của lư hương cũng rất đa dạng, phổ biến là lư
đồng mắt cua, lư mắt tre, trong Nam lại có loại lư mà bà con quen gọi là lư hương trái
bần (do giống hình dáng của trái bần). Tuy nhiên, do trầm hương là thứ đắt tiền, gia đình
khá giả mới có khả năng mua còn phần đông những gia đình xưa thường chỉ trưng bày lư
hương cho đẹp chứ rất hiếm xông hương. Bà con thay vào đó là hai cái vùa hương để
cắm nhang. Hai bên lư hương là hai chân đèn mà theo nhà văn Sơn Nam là tượng trưng
cho âm – dương cân xứng, giao hòa. Người xưa rất chú trọng đến khoảng cách giữa hai
chân đèn và lư hương phải thật đều nhau. Một bên phía trong chân đèn là cái bình dùng
cắm hoa tươi. Tuy nhiên, do một số vùng quê rất khó kiếm được hoa tươi nên bà con
thường trưng vài nhánh trường sinh (một loài cây thủy sinh) vừa tiện lợi mà lại ý nghĩa.
Một bên bàn thờ là một ống cây, thường là ống tre dùng để đựng nhang. Có một vật
ngoài “ngũ sự” nhưng lại rất quan trọng trên mỗi bàn thờ đó chính là cây đèn dầu hột vịt
(ống khói chắn gió có hình quả trứng vịt), vặn lửa nhỏ “liu riu” (còn gọi là chong đèn),
vừa để tiện đốt nhang và cũng để giữ lửa. Trên bàn thờ thường có dĩa trái cây, người
Nam bộ quan niệm dĩa trái cây này không cần đắt tiền, hoa mỹ mà chỉ là cây nhà lá
vườn, “sản vật” của gia đình dâng lên ông bà. Bàn thờ luôn được trang hoàng, lau chùi

Việt Nam vẫn gìn giữ được những nét văn hóa độc đáo, riêng có, điển hình chính là tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc.
Có thể nói, thờ cúng tổ tiên là một phong tục truyền thống của dân tộc, dù đó
không phải là điều bắt buộc song đó lại là thứ "luật bất thành vǎn" của người Việt tồn tại
qua bao thế hệ. Thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người dân Việt.
Với nội dung bình dị, giàu tính thực tiễn, không cực đoan như nhiều tôn giáo khác
nên tục thờ cúng tổ tiên đã trở thành một phong tục, là chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc
làm người, mang ý nghĩa lớn về mặt tổ chức cộng đồng trong xã hội truyền thống, củng
cố khối đoàn kết cộng đồng. Thờ cúng tổ tiên, ông bà đã trở thành tín ngưỡng gốc xuyên
suốt quá trình lịch sử Việt Nam, nó là sợi dây liên kết để góp phần cột chặt tính thống
nhất toàn dân tộc và cũng là cội nguồn của các phong tục, tín ngưỡng khác.
Từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chính là sự kết tinh và phát triển các giá trị đạo đức,
văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam.Những giá trị ấy góp phần bồi đắp
lòng yêu nước thương nòi, đạo lý uống nước nhớ nguồn, có trước có sau; xây dựng đời
sống tinh thần phong phú trong thời đại mới.Không gì khác, chính từ những giá trị đó đã
làm nên sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam trước bao biến cố của lịch sử mấy
ngàn năm dựng nước và giữ nước.
15
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN :
1. Phạm Thị Thu Huyền
2. Huỳnh Thị Phương Kiều
3. Mai Thị Hồng Lạt
4. Nguyễn Thị Ngọc Linh
5. Nguyễn Thị Ánh Ly
6. Võ Trần Mỹ Hương
7. Mai Thị Phương Mai
8. Thúy Mỹ
9. Phạm Thị Kiều Oanh
10.Vũ Thị Quỳnh Nga
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status