Khóa luận tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người mường ở hòa bình hiện nay - Pdf 50

MỤC LỤC


2

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, trong đó, 54 tộc người anh em
là 54 sắc màu văn hóa tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam,
được phân bố ở các vùng, miền của Tổ quốc. Do đặc điểm về điều kiện địa lý,
kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên các
vùng văn hóa khác nhau, từ đó, văn hóa của các dân tộc cũng có những điểm
khác biệt và mang tính đặc thù. Trong đó vùng Tây Bắc là một vùng rộng lớn,
có địa chính trị, kinh tế - văn hóa độc đáo, có vị trí rất quan trọng đối với sự
phát triển của đất nước cả về an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Vùng Tây Bắc nước ta gồm 6 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên,
Lào Cai, Yên Bái bao gồm rất nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Mỗi dân tộc
với những đặc điểm riêng, đều sớm hình thành những nét văn hóa riêng có,
độc đáo của mình. Dân tộc Mường là dân tộc có số dân đông thứ hai trong 53
dân tộc thiểu số ở nước ta. Cũng như mọi dân tộc khác, người Mường ở Tây
Bắc đã sớm hình thành một nền văn hóa mang màu sắc riêng và hết sức đặc
sắc. Nền văn hóa ấy ảnh hưởng sâu xa đến từng cá nhân trong cộng đồng
người Mường, góp phần làm phong phú thêm những giá trị cho nền văn hóa
Việt Nam.
Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng khá phổ biến của người
Mường ở Hòa Bình. Với bề dày lịch sử hình thành và phát triển tín ngưỡng
này luôn luôn nhắc con cháu rằng phải nhớ lấy nguồn khi uống nước, nhớ
công người trồng cây khi ăn quả, phải biết kính trọng và phụng dưỡng ông bà,
bố mẹ lúc sinh thời và thờ phụng khi mất. Tín ngưỡng này không chỉ thanh
cao, tinh khiết khi coi đó là một cái nét văn hoá truyền thống của người
Mường mà còn là sức mạnh niềm tin đối với toàn thể nhân dân trong đời sống


4

- Văn hóa gia đình Việt Nam (Vũ Ngọc Khánh, NXB Thanh Niên) đưa ra khái
niệm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và đề cập đến các hình thức và nghi lễ tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên truyền thống của người Việt.
- Việt Nam phong tục (Phan Kế Bính, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1999) đã
liệt kê ra các phong tục tập quán truyền thống của dân tộc ta, trong đó có tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên và tác giả khẳng định vị trí, vai trò của tín ngưỡng
thờ cúng trong đời sống văn hóa tinh thần.
- Tín ngưỡng dân gian Việt Nam (Lê Như Hoa, Nxb Văn hoá thông tin 2000)
tác giả đã đưa ra các hình thái tín ngưỡng dân gian bản địa; tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên; tín ngưỡng thành hoàng, tín ngưỡng vong hồn; các hình thái tín
ngưỡng dân gian của một số dân tộc ít người ở Việt Nam
- Văn hoá tâm linh (Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội, 1996) cuốn sách này đề
cập đến nhận thức lý luận về văn hóa tâm linh, tâm linh thể hiện trong mọi
mặt đời sống và tâm linh thể hiện trong tín ngưỡng tôn giáo ở người Việt
(Kinh) miền Bắc trong quá trình lịch sử cho đến nay.
-

Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay (Đặng Nghiên Vạn, Nxb KHXH, Hà
Nội, 1996) tác giả đã đưa ra khái niệm về tôn giáo và tín ngưỡng, và chỉ ra
những mối quan hệ tôn giáo và tín ngưỡng, so sánh sự khác và giống nhau.
Nói chung là các công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên rất đa
dạng có thể tóm lại thành 3 loại cơ bản sau :
Loại thứ nhất: Xem thờ cúng tổ tiên như một tập tục văn hoá và truyền
thống đạo đức.
Loại thứ hai: Xem tín ngưỡng vừa là tập tục văn hoá vừa là truyền
thống đạo đức.
Loại thứ ba: Xem tín ngưỡng như là một loại hình tín ngưỡng, tôn giáo.

- Chỉ ra một số vấn đề đặt ra với tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người
Mường ở Hòa Bình hiện nay.


6

- Từ đó đề ra những giải pháp nhằm định hướng đúng đắn hoạt động
này trong đời sống của nhân dân nói chung- riêng dân tộc Mường ở Hòa Bình
trong giai đoạn hiện nay.


7

4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Mường ở Hòa Bình
hiện nay, chỉ ra những biến đổi trên cơ sở so sánh với tín ngưỡng thờ cúng Tổ
tiên của người Mường truyền thống.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Liên Vũ- huyện Lạc Sơn, Mường Thàng- huyện
Cao Phong, Tuân Lộ- huyện Tân Lạc
Phạm vi thời gian: Tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người
Mường ở Hòa Bình hiện nay
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, khóa luận đã sử dụng một số phương pháp cơ bản:
- Phương pháp điền dã văn hóa học: là phương pháp mà người nghiên
cứu cần phải đi thực tế tìm hiểu về vấn đề cần nghiên cứu. Với đề tài này,
phạm vi nghiên cứu là tín ngưỡng của người Mường ở Hòa Bình nên sử dụng
phương pháp điền dã là một ưu thế và là một việc làm cần thiết để đi đến một
cái nhìn tổng quát về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên xưa và nay.


9

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Tín ngưỡng
1.1.1.1. Một số quan điểm trên thế giới
Tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử xã hội trên thế giới, trên thế giới
có hàng ngàn các loại tín ngưỡng khác nhau, rất phong phú, đa dạng. Từ các
cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau dẫn đến các quan niệm không
giống nhau. Để đưa ra một nét đặc trưng nhất về tín ngưỡng thì cần điểm qua
một số quan điểm khác nhau về tín ngưỡng trong giới nghiên cứu.
Các nhà thần học như Tomalđa canh, Pnôntilích K.lê machơ, U.oat,
Etơrôtcho v.v.. xem tín ngưỡng tôn giáo là tin vào cái thiêng liêng, cái huyền
bí, ở đó nó chứa ẩn sức mạnh siêu nhiên có thể cứu giúp con người khỏi khổ
đau và có được hạnh phúc. Niềm tin vào thiêng liêng, cái siêu nhân ở đây
chính là niềm tin vào thượng đế, tin vào cái “tối thượng” là tiêu chí quyết định
của tín tín ngưỡng tôn giáo. Một số nhà tôn giáo đương đại cho rằng : “Tín
ngưỡng không phải là một thứ thế giới quan tự biện, cũng không chỉ là tin vào
niềm tin, nó là một thứ thái độ sinh tồn, một thứ tự lý giải”.
Spenset, Durkheim, M.Wber từ góc độ xã hội học đã có cái nhìn mới về
tôn giáo. Spenser, Duikheim coi xã hội như một hiện thực siêu hình, nuôi
dưỡng bằng một ý thức tập thể, ý thức đó lại được tạo bởi niềm tin, những
tình cảm của mỗi thành viên. Niềm tin tín ngưỡng tôn giáo chính là xạ ảnh
của đời sống xã hội Durkheim cho rằng : “tín ngưỡng” là trạng thái tư tưởng,
nằm ở các biểu tượng và được thể hiện thông qua các lễ nghi thờ cúng. Theo
ông tín ngưỡng “tô tem” của người nguyên thuỷ là biểu tượng thần linh (cái
thiêng) vừa là biểu tượng của cộng đồng xã hội (cái thế tục) là phổ biến trong
xã hội nguyên thuỷ.



11

Ngoài ra còn Nguyễn Chí Bền nhìn dưới góc độ “tôn giáo học và văn
hoá học xem tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng thuộc ý thức xã hội và
xem tín ngưỡng là một bộ phận cấu thành nên văn hoá được thể hiện qua nghi
lễ thờ cúng, là lòng ngưỡng mộ, thành kính với những thế lực có ảnh hưởng
trong quan hệ với con người” [2,15]
Từ những quan điểm trên ta kết luận lại:
Tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin và cách thức biểu lộ đức tin
của con người đối với những hiện tượng tự nhiên hay xã hội; nhân vật lịch sử
hay huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của họ nhằm cầu mong sự che
chở, giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ phụng.
1.1.1.3 Phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng
Tôn giáo bao gồm hệ thống hoàn chỉnh các quan niệm, ý thức tín
ngưỡng, thể hiện tập trung ở lòng tin, tình cảm tôn giáo, hành vi và hoạt động
tôn giáo. Tôn giáo là hình thức tín ngưỡng có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và
giáo hội, được tổ chức chặt chẽ.
Tín ngưỡng, tôn giáo theo cách hiểu thong thường là phản ánh thực tại
của xã hội. Thực ra về nội dung phản ánh và hình thức thì tín ngưỡng và tôn
giáo, tuy có sự tương đồng song cũng có sự khác biệt nhất định, được thể hiện
ở chỗ :
Thứ nhất, tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự phản ánh hư ảo vào ý thức
xã hội và chịu sự quy định của chính tồn tại xã hội đã sinh ra chúng. Đồng
thời, là sự phản ánh chân thực, là cách lý giải của con người về các hiện tượng
xung quanh cuộc sống của chính con người. Tín ngưỡng, tôn giáo đều có
nguồn gốc xã hội, nhận thức, tâm lý trong quá trình hình thành và tồn tại, đều
có chức nông nghiệp đền bù hư ảo và xoa dịu nỗi đau hiện thực và hướng tới
sự giải thoát về tinh thần.

minh cho sự đúng đắn của đức tin tôn giáo. Nó được diễn ra như : linh hồn,
thượng đế, thiên đàng, địa ngục, niết bàn…


13

Tín ngưỡng có kết cấu rất đơn giản, nó được hình thành và tồn tại dựa
vào cơ sở của các phép lạ, đấng siêu nhiên, vào thế giới vô hình như : thần
linh, tổ tiên, thần sông, núi, âm ty, địa ngục, ma, quỉ… niềm tin ấy nó mang
tính huyền bí hoặc mờ ảo, không rõ ràng, chưa đạt đến chính xác và khái quát
cao, mang tính giản đơn và dựa vào cảm tính là chính. Còn tôn giáo thì có cấu
trúc khá phức tạp có mối quan hệ qua lại với thế giới quan, nhân sinh quan, ý
thức, tâm lý, tình cảm, niềm tin, đức tin…
Ở Tôn giáo, thì đức tin được đề cao, song cũng đòi hỏi sự lý giải mang
tính hệ thống, lôgic xây dựng và củng cố trên cơ sở của thế giới quan tôn giáo
các chức sắc trong tổ chức tôn giáo thường tuyên truyền, củng cố và khẳng định,
niềm tin tôn giáo thông qua các hoạt động tôn giáo được tiến hành định kỳ.
Trong tín ngưỡng, tôn giáo thì nghi lễ và các giáo chủ, kinh sách đóng
vai trò hết sức quan trọng vì thế mà tín ngưỡng, tôn giáo có tác động to lớn
đối với đời sống xã hội.
1.1.2. Hệ thống tín ngưỡng dân gian của Việt Nam
Nước ta là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Người dân Việt Nam
có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời. Các dân tộc trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với
đời sống kinh tế và tâm linh của mình.
Do nhiều đặc điểm về lịch sử phát triển, trên một dải đất không rộng
như đất nước ta mà có 54 tộc người cộng cư, phong tục tập quán, trình độ
phát triển xã hội, trình độ dân trí và bản sắc văn hoá của các tộc người này lại
rất khác nhau, những đặc điểm đó không chỉ tạo ra sự đa dạng văn hoá mà
còn tạo ra sự đa dạng tín ngưỡng - cũng có thể nói sự đa dạng văn hoá tín

cổ truyền đều có phần liên quan mật thiết với tín ngưỡng, biểu hiện mối quan
hệ sinh động và cụ thể giữa lễ hội và tín ngưỡng. Lễ hội là một hiện tượng
văn hoá sinh động, tín ngưỡng có khả năng lan toả và tạo nên linh hồn của lễ
hội. Đó là lễ hội tín ngưỡng nông nghiệp và một số lễ hội tín ngưỡng phồn


15

thực; lễ hội tín ngưỡng thờ Chủ Đồng Tử; lễ hội tín ngưỡng thờ Mẫu; lễ hội
tín ngưỡng thờ Thành hoàng; lễ hội tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc. Một số
lễ hội tín ngưỡng dân gian của một số dân tộc thiểu số còn lưu giữ những dấu
ấn của sự phát sinh và hình thành tín ngưỡng. Chẳng hạn, với tín ngưỡng đa
thần thể hiện khát vọng của con người thuở ban sơ - chủ yếu là khát vọng
chinh phục thiên nhiên và những lực lượng siêu nhiên, Yang và vạn vật hữu
linh, các nghi lễ hiến sinh đã thể hiện những quan niệm về vũ trụ còn nhiều
nét thần bí...
1.1.3. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
1.1.3.1. Khái niệm
Tổ tiên là khái niệm dùng để chỉ những người có cùng huyết thống
nhưng đã mất như cụ, kỵ, ông, bà…những người đã có công sinh thành và
nuôi dưỡng có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và vật chất đến thế hệ đang
sống.
Thờ cúng Tổ tiên là một hoạt động có ý thức của con người, là tình cảm
biết ơn, tưởng nhớ, hướng về cội nguồn quá khứ của những người đang sống.
thờ cúng tổ tiên thể hiện sự thành kính và lòng biết ơn đồng thời thể hiện
niềm tự hào và niềm tin, che trở của tổ tiên.
Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng, được hình thành trực tiếp từ trong
đời sống phong phú và đa dạng, có kết cấu đơn giản và mang tính dân gian
đời thường. Thờ cúng tổ tiên thiếu những tiêu chí cơ bản: người sáng lập, hệ
thống tổ chức, giáo lý, giáo luật.

ước muốn được sống mãi. Mặt khác niềm tin vào thế giới siêu nhiên có tổ tiên
che trở và phù hộ cho những người còn sống trong gia đình được may mắn và
mạnh khỏe. Tổ tiên khi còn sống thì “khôn”, đến lúc chết thì “thiêng”, vẫn
ngự trên bàn thờ, vừa gần gũi vừa xa lạ, linh thiêng. Con cháu thành kính, tôn
thờ tổ tiên là tỏ lòng biết ơn tổ tiên. Ý thức về tổ tiên là ý thức về cội nguồn.
Thờ cúng tổ tiên là sự phản ánh liên tục của thời gian, là cầu nối giữa quá


17

khứ, hiện tại và tương lai. Sự sống là bất diệt, chết không phải là hết. Các thế
hệ tiếp nối nhau, chết chỉ là sự bắt đấu của chu kỳ sinh mới.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn được bắt nguồn từ lòng hiếu thảo của
con cháu. Quan hệ giữa bố mẹ đang sống với con cái là hiện thân của mối
quan hệ giữa tổ tiên với con cháu sau này. Sự kính hiếu cha mẹ được tiếp nối
bằng sự tôn thờ, sùng bái tổ tiên. Bổn phận kính trọng, báo hiếu, đền ơn công
sinh thành dưỡng… dục của bố mẹ cũng là bổn phận báo hiếu, ơn đền tổ tiên.
Thờ phụng tổ tiên thể hiện lòng hiếu thảo, sự thành kính biết ơn các bậc đã
sinh thành, nuôi nấng và tác thành cho mình. Tuy nhiên, con cháu chỉ được tổ
tiên bao dung, che chở khi sống xứng đáng với ước nguyện của tổ tiên. Mặt
khác, con cháu chỉ tôn kính, qui thuận và thờ phụng tổ tiên khi tổ tiên xứng
đáng là tấm gương sáng cho con cháu noi theo. Nếu ai, trong quá khứ có hành
động đi ngược lại lợi ích của cộng đồng họ tộc và gia đình, chẳng những
không được kính trọng, tôn thờ mà còn bị nguyền rủa, trừng phạt.
1.1.3.3. Bản chất
Tổ tiên được gắn với sức mạnh siêu nhiên, thần thánh sự bất diệt của
linh hồn. Xét về mặt đạo đức, ý thức về tổ tiên mang giá trị nhân văn sâu sắc,
nó phát triển mối thiện tâm ở mỗi con người trong cộng đồng xã hội.
Xét về mặt nhận thức luận, chủ thể nhận thức và phản ánh là người
sống, khách thể được nhận thức và phản ánh là tổ tiên đã mất. Xét về mặt xã

Xã hội cổ truyền của người Việt cũng có những cơ sở kinh tế nhất định
cho việc hình thành và duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Trước hết đó là nền
kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp. Đây chính là môi trường thuận lợi cho sự xuất
hiện tín ngưỡng đa thần. Xét về phương diện kinh tế, làng xã Việt Nam đã gần
như một đơn vị độc lập và tương tự như thế, là tế bào của nó - hộ gia đình nhỏ.
Đây là nhân tố quan trọng gắn bó các thành viên của gia đình cùng một thế hệ
và giữa các thế hệ. Mở rộng ra, các gia đình cư trú quần tụ theo họ, và nhiều họ


19

tập hợp thành làng. Trước làng, con người không tồn tại với tư cách cá nhân mà
dưới danh nghĩa gia đình dòng họ - những đơn vị huyết thống. Có thể nói nền
kinh tế tiểu nông ấy là mảnh đất thuận lợi cho việc củng cố và phát triển ý thức
dân tộc cũng như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở làng xã.
Trong khía cạnh kinh tế có một điểm quan trọng tạo nên nét khác biệt
trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam và Trung Hoa. Do đặc trưng khí
hậu nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa nên Việt Nam sản xuất lúa nước theo truyền
thống tiểu canh kết hợp với nuôi gia súc. Vì vậy sản xuất không đòi hỏi tập
trung nhân công theo quy mô lớn như ở nơi sản xuất lúa mỳ khô, công cụ sản
xuất cũng nhỏ, gọn, nhẹ, mọi thành viên trong gia đình từ phụ nữ, trẻ em đều
sử dụng dễ dàng. Kết hợp tất yếu của quy trình này khiến người Việt gắn bó
với gia đình, thường là gia đình hạt nhân chặt hơn với dòng họ. Hầu như gia
đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên (dù thờ chính hay thờ vọng) nhưng không
phải dòng họ nào cũng có từ đường.
Hình thức tổ chức xã hội cũng là một yếu tố quan trọng cho việc hình
thành tín ngưỡng. Ở giai đoạn thị tộc phụ quyền, người đàn ông bắt đầu nắm
giữ quyền hành quản lý gia đình do họ đã có vai trò quan trọng trong hoạt
động kinh tế, vợ và con cái họ tuyệt đối phục tùng và tôn trọng cái uy quyền
đã được xác lập ấy, không chỉ khi họ còn sống mà cả khi họ đã qua đời.

học, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh: Tháng 8 năm 1943, khi còn trong nhà tù
của Tưởng Giới Thạch, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm
về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới
sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn,
ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó túc là
văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu của đời sống
và đòi hỏi sự sinh tồn”.[8,13]


21

Theo tổ chức UNESCO: Trong tuyên bố những chính sách văn hóa tại
hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì tháng 8-1982 tại Mêhicô có đưa ra khái
niệm về văn hóa như sau: “Trên ý nghĩa rộng nhất văn hóa có thể coi là phức
thể, tổng thể các đặc trưng diện mạo, những nét riêng biệt về tinh thần, vật
chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội. Văn hóa bao
gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con
người, những hệ thống giá trị, những tập tục truyền thống, tín ngưỡng... Văn
hóa mang lại cho con người khả năng suy xét bản thân, giúp cho con người tự
hoàn thiện, khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, xóm làng,
vùng miền, quốc gia, xã hội. Văn hóa bao gồm cách ứng xử và sự giao tiếp
của cá nhân hay cộng đồng làm cho dân tộc này khác dân tộc khác”[24, 22]
Tóm lại văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần mà loài người đã
sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình. Văn hóa là một hiện tượng xã hội
tiêu biểu cho trình độ mà xã hội đạt được trong những giai đoạn lịch sử nhất
định: những tiến bộ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và lao động, học vấn, giáo
dục, khoa học, văn học, nghệ thuật và những tổ chức thích ứng với những cái đó.

cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn
năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí
tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân- gia
đình- làng xã- tổ quốc... Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hình
thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo.
Như vậy có thể hiểu bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bền
vững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền
thống văn hóa.
Truyền thống văn hóa là các giá trị do lịch sử để lại được thế hệ sau
tiếp nối, khai thác và phát huy trong thời đại của họ để tạo nên dòng chảy liên
tục của lịch sử văn hóa các dân tộc. Khi đã được hình thành, truyền thống
mang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành
vi của cá nhân và cộng đồng.


23

-Văn hóa tộc người
Trước tiên, ta cần hiểu tộc người là hình thức đặc biệt của một tập đoàn
xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện của con người mà là trong kết quả
của quá trình tự nhiên - lịch sử. Điểm đặc trưng của các tộc người là ở chỗ nõ
có tính bền vững và giống như là những quy tắc các tộc người tồn tại hàng
nghìn, hàng nghìn năm. Mỗi tộc người có sự thống nhất bên trong xác định,
cả những nét đặc trưng để phân định nó với các tộc người khác. Ý thức tự
giác của những con người hợp thành tộc người riêng biệt đóng vai trò quan
trọng cả trong sự thống nhất hỗ tương, cả trong sự dị biệt với các cộng đồng
tương tự khác trong hình thái phản đế của sự phân định “chúng ta” và “nó”.
Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng
như những quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ
của một tộc người, phản ánh những nhận thức, tâm lý, tình cảm, tập quán

(Kinh) không chiếm đa số, đồng thời tỉnh này cũng được coi là thủ phủ của
người Mường, vì phần lớn người dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu ở
đây. Người Mường xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với
người Kinh nhất. Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương
trong tỉnh, sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác.
Điều kiện thiên nhiên, lịch sử văn hoá và con người Hoà Bình đã tạo
nên tiềm năng du lịch phong phú, hấp dẫn, gây được những ấn tượng sâu sắc
với bạn bè trong nước và quốc tế. Bà Hoàng Thị Chiển, Giám đốc Sở Văn
hoá, Thể thao và Du lịch khẳng định: Hoà Bình có quần thể 177 di tích lịch
sử, danh lam thắng cảnh cùng với sự độc đáo của bản sắc văn hoá thể hiện
qua phong tục, tập quán, lối sống của các dân tộc Mường, Thái, Mông, Dao,
Tày... còn giữ khá nguyên vẹn với trên 30 lễ hội cộng đồng dân tộc như: hội
Cồng Chiêng, Lễ hội Khai Hạ, Lễ hội Chùa Tiên, Lễ hội Đền Bờ.
Văn hoá Hoà Bình là một nền văn hoá đa dân tộc, trong đó dân tộc
Mường chiếm một tỉ lệ khá lớn tới hơn 60% dân số. Văn hoá Mường và


25

những nền văn hoá khác đã tập hợp lại và làm nên những nét riêng của văn
hoá Hoà Bình. Bản sắc văn hoá Hoà Bình bao gồm: Văn hoá Trống Đồng, văn
hoá Cồng Chiêng, các truờng ca, văn hoá ăn, ở, mặc cùng các loại hình văn
hoá khác.
1.2.3 Lịch sử người Mường ở Hòa Bình
Nhiều nhà nghiên cứu căn cứ vào các tài liệu khác đã cho rằng người
Mường ở Hòa Bình có cùng nguồn gốc với người Việt. Cũng như các dân tộc
khác đề lí giải về dân tộc mình, người Mường Hòa Bình còn lưu giữ và truyền
kể những huyền thoại về sự xuất hiện của dân tộc mình chủ yếu dưới dạng các
bản mo hát với độ dài ngắn khác nhau, nhưng tiêu biểu nhất làTruyền thuyết
chim cây-cái ứa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status