Vấn đề gìn giữ và phát huy trong trang phục truyền thống của người mường ở hòa bình hiện nay - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: Lê Thị Minh Thảo

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====

BẠCH THỊ HÀ

VẤN ĐỀ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY
BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG TRANG PHỤC
TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở HÒA BÌNH HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học

ThS. LÊ THỊ MINH THẢO

HÀ NỘI - 2013

SVTH: Bạch Thị Hà

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – Thạc sĩ Lê Thị Minh Thảo và nó
không trùng với công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố trước
đó.
Nếu sai tôi xin chịu mọi trách nhiệm.

Xuân Hòa, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện

Bạch Thị Hà

SVTH: Bạch Thị Hà

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: Lê Thị Minh Thảo
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU........................................................................................................ 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG
TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HÒA BÌNH
HIỆN NAY ..................................................................................................... 6
1.1. Một số vấn đề lí luận về văn hóa, bản sắc văn hóa và những nét khái quát
về tỉnh Hòa Bình............................................................................................. 6
1.2. Những nét độc đáo trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa

tác động nhất định đến trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình,
làm mai một dần những giá trị văn hóa đó. Vì vậy đề tài “Vấn đề gìn giữ và phát
huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa
Bình hiện nay” có ý nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn sâu sắc.
“Trang phục Mường hết sức tinh tế và có những nét riêng nổi bật không
thể pha lẫn với các dân tộc khác, nó thể hiện đặc trưng về nghệ thuật tạo hình
và phong cách thẩm mỹ trên chính trang phục của dân tộc mình. Tuy nhiên
không phải ai cũng hiểu hết đươc những nét đẹp đó” [13, tr. 24]. Ngày nay khi
xã hội phát triển, người người chạy theo những xu hướng thời trang mới làm
mất dần vẻ đẹp văn hóa truyền thống trong trang phục của chính dân tộc mình.
Hiện nay, những bộ trang phục truyền thống của dân tộc Mường trên địa
bàn tỉnh Hòa Bình ngày càng ít dần đi, không còn dược sử dụng phổ biến rộng
rãi như trước kia nữa, một bộ phận người có xu hướng “thời trang hóa” thích
mặc đồ Tây bởi nó đẹp, gọn gàng và dễ dàng hoat động, hầu như chỉ có những
người già và một số ít người dùng những bộ trang phục này và thường được
mặc trong những ngày hội, lễ tết.
Trong xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay,
việc phục hồi các giá trị văn hóa truyền thống trong trang phục của dân
tộc là một yêu cầu khách quan. Trước những biến đổi nhanh chóng của
cuộc sống, văn hóa truyền thống các dân tộc đang đứng trước những thử
thách lớn. Vì vậy việc lựa chọn các giải pháp phục hồi, bảo tồn và phát
huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của dân tộc Mường ở
SVTH: Bạch Thị Hà

1

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

dân tỉnh Hòa Bình biên tập, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2005. Cuốn sách này
cung cấp cho bạn đọc tất cả các khía cạnh về tỉnh Hòa Bình, trong đó có đề cập
đến văn hóa trang phục các dân tộc của tỉnh Hòa Bình, tiêu biểu là trang phục
Mường.
SVTH: Bạch Thị Hà

2

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: Lê Thị Minh Thảo

Khu Bảo tàng di sản văn hóa dân tộc: “Không gian văn hóa Mường”, ở
xã Bình Thanh, phường Chăm Mát, thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, là nơi
trưng bầy các hiện vật của người Mường như: nhà sàn, cồng chiêng…trong đó
có trang phục Mường.
Hay tác phẩm nổi tiếng nghiên cứu về người Mường của Giáo sư Nguyễn
Đức Từ Chi (Trần Từ): “Người Mường ở Hòa Bình”. Trong tác phẩm, tác giả
đã làm nổi bật nét nghệ thuật tạo hình trong hoa văn cap váy của người
Mường, có nhiều nét tương đồng trên hoa văn trống đồng Đông Sơn.
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập đến văn hóa
trang phục Mường, lưu trữ trên sách báo, tạp chí, bảo tàng…của tỉnh Hòa
Bình, mang những nét đặc sắc truyền thống, đậm đà bản sắc văn hóa các dân
tộc anh em ở vùng đất Tây Bắc. Vì vậy trên cơ sở nghiên cứu sâu thực trạng
văn hóa trang phục của người Mường hiện nay để có những giải pháp cụ thể
trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục người Mường
ở Hòa Bình trong công cuộc đổi mới hiện nay là việc làm hết sức cần thiết.

trong trang phục của người Mường ở Hòa Bình.
- Những định hướng, giải pháp trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn
hóa trong trang phục của người Mường ở Hòa Bình theo tinh thần Nghị quyết
TW 5 (Khóa VIII).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Duy vật biện
chứng, Chủ nghĩa Duy vật lịch sử, Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa.
* Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng các phương pháp khoa học
phổ biến như: phương pháp CNDVBC, CNDVLS, logic, lịch sử, phân tích,
tổng hợp, so sánh.
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: quan sát, thực tế, điều
tra, phỏng vấn, ghi chép lại những tư liệu truyền miệng trong nhân dân.

SVTH: Bạch Thị Hà

4

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: Lê Thị Minh Thảo

6. Đóng góp của đề tài
* Về mặt lý luận:
Khóa luận góp phần đi sâu tìm hiểu nét sinh hoạt văn hóa của người

Khái niệm văn hóa là một khái niệm đa chiều với nhiều góc cạnh, cho đến
nay người ta đã thống kê được hơn bốn trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Song các nhà văn hóa đều có chung một nhận định đó là: Văn hóa bao gồm có
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Từ “văn hóa” bắt nguồn từ tiếng La tinh ở Phương Tây “Cult” ban đầu có
nghĩa là canh tác đất đai và gieo trồng thực vật. Sau này với sự phát triển lịch
sử thì văn hoá mang một ý nghĩa mới đó là sự mở rộng kiến thức, bồi dưỡng về
thể chất và tinh thần hay là “trồng trọt tinh thần”.
Còn ở Phương Đông, từ “văn hóa” có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm,
trong Chu Dịch (Trung Quốc) có “quan hồ nhân dĩ hóa thành thiên hạ” nói đến
phép tắc để giải hóa làm cho thiên hạ được khai hóa, theo quan niệm của
Trung Quốc lấy học thuyết của Nho gia là chính với nội dung chủ yếu của văn
hóa là: thi, thư, lễ, nhạc. Còn trên lĩnh vực chính trị là luân thường đạo lý, chế
độ nghi lễ và hàng loạt quan niệm tập tục lễ giáo.
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì “văn hóa” chỉ gắn liền với
con người và xã hội loài người, con người vừa sáng tạo ra ra bản thân mình
vừa đồng thời sáng tạo ra thế giới văn hóa. Trong tác phẩm “Phê phán cương
lĩnh Gôta” C.Mác đã vạch rõ nguồn gốc của văn hóa gắn liền với sự sáng tạo
và năng lực của con người, sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động, chính lao
động đã sáng tạo ra con người, đó là các hoạt động sản xuất và tái sản xuất ra
bản thân con người với tư cách là một thực thể xã hội, thể hiện quan hệ giữa
SVTH: Bạch Thị Hà

6

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học


lớn phong phú và đa dạng, cá định nghĩa khác nhau về văn hóa đã đưa ra

SVTH: Bạch Thị Hà

7

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: Lê Thị Minh Thảo

không nhằm bài trừ mà bổ sung cho nhau làm cho khái niệm văn hóa ngày
càng trở nên đầy đủ và toàn diện hơn.
* Bản sắc văn hóa dân tộc:
Theo nghĩa triết tự thì “bản” là gốc, “sắc” là màu sắc, nghĩa là màu sắc
ban đầu chưa bị pha trộn gọi là bản sắc. Theo Tạp chí Cộng sản, số 13 – 1997,
đặc thù là bản sắc riêng biệt của đời sống sinh hoạt xã hội của mỗi cộng đồng,
dân tộc, từ cách ăn, mặc, ở, đi lại…cho đến chiều sâu tâm hồn, tư duy và lối
ứng xử.
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững,
những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc được vun đắp nên trong lịch sử đấu
tranh hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng
thể các giá trị đặc trưng bản chất của văn hóa dân tộc, được hình thành, tồn tại
và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của đất nước, các giá trị đặc trưng
mang tính bền vững, trường tồn.
“Văn hóa” và “Dân tộc” là hai phạm trù khác nhau nhưng có liên quan
chặt chẽ với nhau về văn hóa, có bản sắc riêng của dân tộc mình. Vì vậy,
“đánh mất bản sắc là đánh mất dân tộc” [16, tr. 8].

phục trẻ em, trang phục Quân đội (Trang phục Quân đội Nhân dân Việt
Nam,...), trang phục Công An...
Trang phục là một trong những giá trị văn hóa giúp ta dễ dàng phân biệt
sắc thái giữa các vùng miền trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
“Người Mường có những đặc trưng riêng hết sức nổi bật về tạo hình và
phong cách thẩm mỹ trên trang phục dân tộc. Đó là những hoa văn trên mặt trống
đồng, tượng đồng, đồ gốm thời Hùng Vương chỉ cho ta thấy nhiều điều về văn hóa
trang phục thời dựng nước” [5, tr. 89]. Chính điều đó đã tạo nên cho phụ nữ
Mường nét duyên dáng, niềm tự hào khi khoác trên mình trang phục truyền thống.
Mấy ngàn năm qua, các trang phục truyền thống của dân tộc Việt Nam
vẫn giữ được cốt cách và dấu ấn xa xưa nhưng cũng đã có những biến đổi
không ngừng. “Đó là sự hình thành và phát triển của nghề trồng bông kéo sợi,
dệt vải, nhuộm vải, nuôi tằm, ươm tơ, kéo kén, dệt lụa. Bước phát triển nghề
này đã đưa nghề tầm tang canh gửi bỏ xa hoàn toàn sự lệ thuộc vào thiên
nhiên con người săn bắt hái lượm, sử dụng vỏ cây, lá cây, lông chim, da thú
làm chất liệu mặc để che thân” [11, tr. 76].
Từ thế kỉ XX đến nay, diện mạo trang phục các dân tộc Việt Nam về cơ
bản được khẳng định, từng bước hoàn chỉnh hơn vào giai đoạn cách tân, biến
đổi. Việt Nam hội tụ được các giá trị văn hóa trang phục Đông – Tây, tiếp thu
có chọn lọc những yếu tố phù hợp làm giàu đẹp và phong phú thêm văn hóa
trang phục của đất nước mình, dân tộc mình. Ngành thời trang ra đời và liên
tiếp có các cuộc thi trình diễn trang phục dân tộc bổ ích, hấp dẫn, tôn vinh, bản
sắc văn hóa mặc Việt Nam.
SVTH: Bạch Thị Hà

9

Lớp: K35 - GDCD



dân tộc Thái huyện Mai Châu, Xóng Dướng dân tộc Dao huyện Ðà Bắc...; khu
du lịch Suối Ngọc-Vua bà huyện Lương Sơn và nhiều di tích lịch sử, di tích
văn hóa, kiến trúc, ngành nghề truyền thống, lễ hội, phong tục tập quán, nghệ
SVTH: Bạch Thị Hà

10

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: Lê Thị Minh Thảo

thuật dân gian của nhiều dân tộc trong tỉnh phong phú, đa dạng, độc đáo là
những sản phẩm của nền "Văn hóa Hòa Bình".
“Hoà Bình là cái nôi của văn hóa Việt - Mường cổ, là một trong số ít vùng đất
có nền văn hoá lâu đời ở Việt Nam, vùng đất ẩn chứa nhiều nét văn hoá, những tập
quán đặc sắc của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc thu hút nhiều nhà khoa học
trong và ngoài nước đến nghiên cứu, tìm hiểu. Đây là cơ sở để bảo tồn, xây dựng và
phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Du lịch văn hoá
được xác định là hướng phát triển của địa phương” [1, tr. 12].
Vì vậy, Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Hoà Bình đã đưa ra được báo cáo kết
quả 15 năm triển khai, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) về “Xây
dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
1.1.3. Đôi nét về người Mường ở Hòa Bình.
Nằm trong nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, người Mường có cùng nguồn
gốc với người Việt, họ cư trú lâu đời ở các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ
An, Phú Thọ, Sơn La…trong đó, người Mường ở Hòa Bình chiếm đến 80%
dân số toàn tỉnh, người Mường ở Hòa Bình vẫn luôn giữ được những nét văn

Chính những điều kiện trên, đặc điểm trên đã làm cho xứ Mường Hòa
Bình có những nét đặc trưng nổi bật mà các dân tộc khác ít có được, trở thành
một vùng đất với những phong tục tập quán cũng như nền văn hóa riêng in
đậm trên vùng đất “Hoa hậu xứ Mường” này, tiêu biểu hơn cả làbộ trang phục
truyền thống của người Mường Hòa Bình – váy Mường (wặl).
1.2. Những nét độc đáo trong trang phục truyền thống của người Mường
ở Hòa Bình
1.2.1. Quá trình làm trang phục
* Nguồn nguyên liệu sử dụng:
“Người Mường, đàn ông và đàn bà đều sử dụng lụa và vải bông để may
quần áo. Nếu như, đối với đàn bà, phần lớn vải vẫn còn do người địa phương
làm ra, thì hầu như tất cả những vải may quần áo cho đàn ông đều được mua
ở các nơi khác về” [14, tr. 102].
Tuy vậy, người Mường vẫn trồng bông, nuôi tằm và trong nhiều làng, đàn
bà vẫn còn dệt hai thứ đó, song với số lượng khá ít không đủ để cung cấp cho
nhu cầu của họ. Mặc dù có từ lâu đời, ngành dệt vải của họ từ trước đến nay
vẫn chỉ là một ngành công nghệ trong gia đình. Tình trạng mỗi năm một suy
sụp của nghề đó buộc họ phải mua ngày một nhiều hơn số vải dệt bằng máy,
và vẫn tiếp tục tiếp tế cho họ kén, lụa mộc và sợi bông.
Loại vải sợi bông dệt được mua để mộc, hoặc đã nhuộm củ nâu, nhuộm
củ nâu hơi sẫm đỏ. Củ nâu kết hợp với những chất khác, cũng cho mầu đen hơi
hung hung, tuỳ theo sự pha trộn. Một phần nhỏ số vải mua về để trắng hoặc để
mộc, song họ đem nhuộm một số lớn hơn theo màu vàng nghệ. Ngành nhuộm
SVTH: Bạch Thị Hà

12

Lớp: K35 - GDCD



Chuẩn bị dây chuyền: Để chuẩn bị dây chuyền, người đàn bà Mường rất
cần chỗ rộng, đôi khi họ lợi dụng cột nhà để tiến hành bước một của việc cuộn
SVTH: Bạch Thị Hà

13

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: Lê Thị Minh Thảo

bàn sợi. Trong những gia đình quý tộc, khi gia súc của gia đình được giao phó
cho nông dân, thì họ mới sử dụng hai dãy cột và làm việc dưới nhà; nhưng khi
chuồng trâu bò ở dưới nhà, muốn tránh cho dây sợi khỏi rơi xuống đất bẩn,
người ta phải đặt một dãy cọc ở ngoài sân; một số đàn bà thích ở trong nhà và
có thể sử dụng được cột bên trong. “Họ bao giờ cũng làm hai việc cuộn sợi:
một chỗ cuốn vào cột, cọc chống, và một chỗ trên thanh ngang cuộn sợi của
khung cửi” [15, tr. 68].
Chuẩn bị bộ phận đan ngang: Công việc chuẩn bị bộ phận đan ngang
gồm có việc cuốn sợi vào cuộn sợi vào trong con thoi. “Người Mường có hai
kiểu con thoi: một kiểu bé hơn, để dệt sợi bông, kiểu kia để dệt sợi lụa. Trong
cả hai kiểu, lõi con thoi chỉ là cuộn sợi dài cắm ngang vào con thoi và đầu chỉ
trực tiếp lòi ra ngoài qua một lỗ nhỏ: bộ phận que nhọn không có và kiểu lõi
thoi đơn sơ, không cho phép ta bắt chéo sợi để tránh tuột sợi. Như vậy người ta
hiểu được rằng công việc của người đàn bà dệt dễ dàng bị sảy ra sự cố, như đứt
sợi, rối sợi...làm cho vải dệt không đều và không mịn” [15, tr. 70]. Tuy vậy,
người đàn bà Mường vẫn kiên trì và chăm chỉ bổ khuyết vào những chỗ thiếu
sót kỹ thuật đó; họ bỏ khá nhiều công phu cho những chiếc băng hình vẽ dùng

để làm loãng mầu, và chất than dùng để làm thẫm thêm, một cái vại như vậy có
thể nhuộm được ba chiếc váy hoặc số sợi tương đương. Sợi hoặc vải nhuộm
được nhúng nguội vào vại ba hoặc bốn lần, mỗi lần nhúng phải phơi khô hẳn
rồi mới lại tiếp tục nhúng lần sau. Người Mường còn biết những phương pháp
nhúng nhuộm khác nữa.
Nói chung, người ta chỉ chuẩn bị khối lượng nhỏ khi nhuộm bằng chất gỗ tô
mộc. Gỗ này được chặt ra làm nhiều miếng nhỏ, bỏ một nắm vào ba phần tư lít
nước đem đun sôi lên, để nguội và lọc, là xong. Người ta không pha gì thêm vào
nước nhuộm, cứ như vậy là có thể nhuộm ba hoặc bốn cuộn sợi to bằng nắm tay,
nhuộm nguội và nhúng nhiều lần, giống như nhuộm chàm.
Sau hết, “muốn nhuộm mầu vàng, người ta đun một số lá "cúng khu"
trong một khối nước lớn hơn số lá gấp năm lần. Với một lít, người ta chỉ có thể
nhuộm được một cuộn sợi, nếu như muốn có một mầu sẫm đặc và bền” [9, tr.
25].
Ngoài những nguyên liệu dùng để kéo sợi và dệt vải ra, ngoài những thứ vải
đem nhuộm trước khi may quần áo, ngoài những loại vải đã được nhuộm màu,
người Mường còn mua thêm ngày càng nhiều, những bộ quần áo may sẵn.
* Trang phục của người Mường.
Trang phục Mường hết sức tinh tế và có những nét riêng nổi bật không
thể pha lẫn với các dân tộc khác. Nam thường mặc áo cánh phủ kín mông, xẻ
ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái. Quần lá
ống rộng dùng khăn thắt giữa bụng còn gọi là khăn quần. Trên đầu quấn khăn
SVTH: Bạch Thị Hà

15

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

một túi nhỏ có gân chéo ở gần miệng túi và làm bằng vả màu trang trí. Áo
không xẻ nách, tay áo dài buông tới mu bàn tay, ống tay áo may vừa phải có
thể xắn tay áo lên tới khuỷu tay.
SVTH: Bạch Thị Hà

16

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: Lê Thị Minh Thảo

+ Áo dài: Nam giới Mường thường mặc lồng một đôi áo dài (mặc kép).
Áo dài nam giới có hai loại: loại sang may bằng lụa hoặc đoạn màu xanh, màu
tím hoặc màu vàng; loại thường may bằng vải bông, màu đen sẫm. Áo dài
thường được may đến ngang đầu gối, cài khuy lệch về sườn bên phải, hai bên
xẻ tà cao tới ngang hông, cổ áo đứng và cứng. Áo dài thường được chú rể và
hai phù rể mặc trong lễ cưới.
- Quần: May ống rộng và đứng, đũng rộng, cắt kiểu chân què, cạp quần
rộng, khi mặc dung sợi dây vải buộc chặt để định vị, thường may bằng vải màu
trắng hoặc màu nâu.
- Trang phục tang lễ: Trong tang lễ, nam giới mặc toàn đồ trắng, áo dài
hoặc áo cánh màu trắng, khăn tang trắng, đường chỉ may phải lộn trái, gấu áo
để sổ không viền, áo cánh không cài khuy mà buộc bằng dây vải. Người con
trai thường phải đeo bên hông bao dao có cả dao. Con rể và các con trai thứ,
cháu chắt trai chỉ phải mặc đồ tem (đồ tang). Những người đến phục vụ lễ tang
đều phải chít khăn tang trắng. Con trai, con gái chịu tang bố mẹ phải cắt tóc.
Trước kia phải trụi tóc, ngày nay chỉ cắt tượng trưng. Sau một năm, con cái

+ Áo ngắn: Là áo mặc thường ngày của phụ nữ Mường. Áo may ngắn
thân, xẻ ngực, thường thì không có khuy, nhưng nếu có là một chiếc khuy bấm
ở ngang ngực. Cổ áo tròn, ống tay dài tới mu bàn tay và bó sát cánh tay. Ở
giữa sống lưng áo có một đường may bổ từ cổ áo xuống tận gấu áo. Áo ngắn
được may bằng vải thường hoặc lụa với các màu sắc sặc sỡ. Trong đó phần
nhiều là màu trắng. Áo mặc bó sát thân người, không có khuy nên để lộ phần
cạp váy trước ngực và chiếc yếm bó sát lấy ngực, vừa nền nã, vừa kín đáo
nhưng lại có sức gợi cảm. Trước đây, áo ngắn không may túi, nhưng gần đây
phụ nữ Mường đã cải tiến dần chiếc áo ngắn của mình bằng cách may hai túi
nhỏ ở hai vạt áo trước và cắt lượn tròn hai bên vạt áo tạo dáng mềm mại. Nẹp
áo may to tới 3 – 4 cm với màu sắc sặc sỡ. Đường viền cổ áo, cổ tay áo có thêu
thùa và đính chỉ màu.
+ Áo dài: Thường được mặc tiếp khách hay đi lễ hội. Áo may dài tới quá
đầu gối, phần nửa thân trên giống áo ngắn, phần nửa thân dưới từ eo trở xuống
buông xuôi không xẻ tà, khi mặc phải ôm kín lấy bằng vải mộc tự dệt lấy.
Ngày nay, phụ nữ còn dung chất liệu vải trang trọng. Áo dài truyền thống
thường là màu xanh, màu đen, riêng áo dài của các bà mỡi (mễ mỡi) thường
dùng màu trắng. “Trong lễ cưới, nàng dâu và hai phù dâu (piềng) mặc áo dài
và ngồi xếp mái (ngồi khép chân về một bên, thân người thì nghiêng về phía
bên kia) trình trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng. Các bà (mế) ngồi ăn trầu, uống
rượu trên nhà sàn thường để hai vạt sau của áo dài che kín mông, hai vạt
trước kéo gọn vào lòng” [20, tr. 103]. “Trong những dịp lễ hội, các cuộc vui,
phụ nữ Mường, đặc biệt là các mế, thường mặc áo dài buông vạt cùng chiếc

SVTH: Bạch Thị Hà

18

Lớp: K35 - GDCD


7. CÁI KHĂN ĐÉT ẠO (cái khăn thắt áo) là chiếc khăn sồi không
nhuộm, thít quanh áo chùng ngang tầm hông để khép hai tà áo lại, hai múi
khăn buông ngắn đăng đối hai bên.
“Đồ mặc của phụ nữ Mường không diêm dúa như nữ phục của người Thái,
người Việt. Nó không dụng công kín đáo để đạt đến độ thanh lịch như nữ phục
SVTH: Bạch Thị Hà

19

Lớp: K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: Lê Thị Minh Thảo

Tày hay Cao Lan. Nó cũng không thừa thãi hoa văn và màu sắc như quần áo của
một số người Mèo, Dao. “Cái gì đó” làm nên đặc điểm ấn tượng của nữ phục
Mường, xem như một biểu hiện của cảm quan thẩm mỹ dân tộc, chính là tính hai
mặt của nó: đối chọi mà nhạt nhẽo; tương phản trong thầm lặng” [8, tr. 54].
Đối chọi hay tương phản chủ yếu ở màu sắc, giữa trắng và đen. Vì trừ cái
tênh lục, trừ cạp váy nhiều màu ra, các bộ phận khác của nữ phục Mường chỉ
hoặc trắng, hoặc đen. Khăn trắng, yếm trắng, áo (cánh) trắng, áo chùng trắng.
Váy đen, áo chùng đen (phủ lên áo chùng trắng trong trường hợp mặc “mớ
hai”).
1.2.2. Cạp váy (klốc wặl) – nơi làm nghệ thuật tạo hình
Tác giả Từ Chi đã phân tích một cách chi tiết và đầy đủ cạp váy trong
cuốn “Hoa văn Mường”, Ông dành phần lớn cho việc nghiên cứu “cạp váy
Mường”. Theo Phó Giáo sư Từ Chi thì hoa văn trên cạp váy phụ nữ Mường về
cơ bản giống như hoa văn trang trí trên trống đồng Đông Sơn. Bằng cách so

đứng màu đỏ, vàng, nâu xen kẽ giữa các hình cỏ cây hoa lá cách điệu giống
như kiểu hoa văn mặt phà (là loại hoa văn trang trí ở 2 mặt của chiếc chăn).
+ Phần tlốk có nhiều kiểu khác nhau: Wẽn, poong, bông lái mê. Tlốk
thường phối với các màu xanh, đỏ, vàng, tlốk wẽn bố trí hoa băn nhỏ, màu tối
sẫm, ấm, giản dị. Tlốk poong, tlốk lái mê có hoa văn rực rỡ, màu đỏ hoặc màu
vàng, là loại tlốk đẹp nhất.
+ Sang trọng và cầu kỳ hơn cả là loại tlốk buôn, được dệt bằng lụa tơ tằm,
bền và bóng mịn; trên mặt nổi nhiều hoa văn hình động vật như: Hươu, chim,
gà, rắn, rùa và đặc biệt là đầu rồng. Kiểu trang trí hoa văn này giống như trang
trí trên mặt trống đồng. Các hình con vật chạy theo một hướng nối đuôi nhau
theo từng dải. Nếu dải trên chạy theo hướng phải thì dải dưới chạy theo hướng
ngược lại, mỗi dải được ngăn cách bằng những hình núi đồi.
Trong ba bộ phận đó, Rang dưới được người Mường xem là quan trọng
nhất, nó gắn liền với ý thức hệ tôn giáo cổ của tộc Mường, nó không rộng hơn
rang trên là bao, nhưng vượt xa rang cao. Rang dưới nổi bật lên giữa hai bộ
phận kia, trước hết là ở tính chất trang trí, hoa văn rang dưới chủ yếu là hoa
văn động vật, còn hoa văn của cao là hoa ăn hình học.
Nếu rang dưới là bộ phận quan trọng nhất của cạp váy, thì phần thứ yếu
hơn hết chắc chắn là cao. Cao là bộ phận mà người Mường bắt buộc phải có
mặt trên cạp váy.
Hoa văn cạp váy được dệt từ chất liệu thực vật, đây toàn là màu nguyên, với
sắc độ chói chang. Với cảm năng thẩm mỹ tinh tế của mình, người Mường đã
biến chất rậm rạp để “đập vụn” các màu nguyên sặc sỡ ấy thành mảnh màu nhỏ
chen nhau trên cạp váy, hy sinh tính tập trung của “hình họa” để đạt cho kỳ được
hiệu quả màu sắc, nhằm nâng bối cảnh đen trắng của trang phục lên một bậc,

SVTH: Bạch Thị Hà

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status