1 Đề tài:
“Vấn đề bảo tồn và phát huy tinh hoa
văn hoá truyền thống trong thời đại mở
cửa, giao lưu và hội nhập quốc tế qua sự
phản ánh của báo” 2
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, khi nói đến thuật ngữ "du lịch" thì mọi người đều biết, vì
vậy Du lịch ra đời từ rất lâu đời khi nền kinh tế phát triển ngành Du lịch
cũng phát triển theo. Du lịch có vai trò quan trọng trong việc phát triển
kinh tế và xã hội. Du lịch không những là sự giao lưu giữa quốc gia này
với quốc gia khác, giữa nền văn hoá này với nền văn hoá khác mà còn là
chiếc cấu nối đi tới hoà bình. Khi du lịch phát triển ở một vùng nào đó,
một quốc gia nào đó cũng có nghĩa rằng ở đó có nền chính trị ổn định và
thúc đẩy kinh tế phát triển. Nhưng để du lịch phát triển tốt, ngoại trừ có
nền chính trị ổn định, một nền văn hoá phong phú đặc sắc ra, điều quan
trọng không kém đó là chính sách giá được sử dụng như thế nào?
Trên thị trường hiện nay, giá đã nhường chỗ cho chất lượng song
không có nghĩa là nó không có vai trò gì trong quyết định của khách du
lịch đối với một thị trường du lịch. Nhu cầu và mong muốn của khách du
lịch có thực hiện được hay không hay nói cách khác nó có trở thành cần
hay không điều đó phụ thuộc và khả năng thanh toán, và điều người ta cần
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ GIÁ VÀ CHÍNH SÁCH GIÁ TRONG KINH
DOANH LỮ HÀNH
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DU LỊCH VÀ KINH DOANH
LỮ HÀNH
1.1 Khái niệm về du lịch
1.1.1 Khái niệm
Du lịch thực sự mới trở thành một ngành công nghiệp không khói ở
một số nước đang phát triển trong vòng 30 năm trở lại đây. Theo nhận
định của các nhà kinh tế trên thế giới, du lịch là một ngành "kỹ nghệ" có
tốc độ phát triển mạnh hơn cả ngay từ những năm đầu của thập kỷ 40 khi
chiến tranh thế giới thứ hai chưa kết thúc. Vào năm 1950, cả thế giới mới
có 25 triệu người đi du lịch thì đến 1980 con số này đã lên tới 285 triệu
(gấp 11 lần) và trong năm 1996 số lượng người đi du lịch lên tới 592
triệu, năm 1997 vừa qua có 613 triệu lượt khách quốc tế và doanh thu là
448 tỷ USD.
Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) đến năm 2000 có 673 triệu
người đi du lịch và đến năm 2010 là 1 tỷ người.
Do sự phát triển kinh tế cùng với sự gia tăng của dân số và sự phát
triển nhanh chóng của giao thông vận tải, du lịch ngày càng phát triển
mạnh mẽ.
Do phạm vi và góc độ nghiên cứu đa dạng, cho nên khái niệm về du
lịch được đề cập rất khác nhau.
- Theo định nghĩa của nhà kinh tế Kens: "Du lịch là hiện tượng
những người ở chỗ khác ngoài chỗ ở thường xuyên đi đến bằng phương
5
tiện giao thông và sử dụng các xí nghiệp du lịch".
- Theo định nghĩa của hai nhà kinh tế Hunsker và Kraff: "Du lịch là
6
1.1.2. Cầu về du lịch:
- Khái niệm về cầu nói chung và cầu du lịch nói riêng:
+ Cầu hàng hoá là số lượng hàng hoá mà người mua muốn đem ra
khỏi thị trường tương ứng với các mức giá nhất định xét trên một đơn vị
thời gian và ở một thị trường nhất định.
+ Cầu về du lịch: Nhu cầu trong du lịch được hình thành trên cơ sở
nhu cầu tự nhiên và nhu cầu có khả năng thanh toán của con người.
"Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận
được". Nhu cầu trong du lịch là một nhu cầu đặc biệt là sự cần thiết tạm
ngừng cuộc sống hàng ngày đến với khung cảnh mới của môi trường thiên
nhiên, sự cần thiết phải giải phóng họ ra khỏi cuộc sống hàng ngay căng
thẳng ồn ào, khỏi sự ô nhiễm môi trường để nghỉ ngơi giải trí phục hồi
sức khỏe, để giải toả sự nhàm chán và tăng cường hiểu biết của mỗi cá
nhân. Vậy cầu trong du lịch là nhu cầu du lịch có khả năng thanh toán.
- Đặc điểm của cầu trong du lịch
+ Cầu trong du lịch là cái chủ yếu về dịch vụ: Theo thống kê cho
thấy trung bình 2/3 cho tới 3/4 chi phí cho các chuyến đi là chi phí về dịch
vụ. Trong đó những dịch vụ phục vụ cho những nhu cầu cần thiết yếu của
con người như dịch vụ vận chuyển, ăn uống lưu trú chiếm một tỷ trọng
lớn đặc biệt là chi phí cho dịch vụ ngủ (khách sạn).
+ Cầu trong du lịch có tính phân tán: Do sản phẩm dịch vụ trong du
lịch tạo ra để thoả mãn nhu cầu chơi giải trí và hiểu biết của con người.
Dõn cư sở tại
Chớnh quyền
địa phương
8
điều kiện tự nhiên, mùa vụ và tâm lý của khách du lịch. Nhưng ở đây
cũng phải thấy rằng trong điều kiện và xu hướng như hiện nay khi thu
nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội ngày càng tăng lên thì tính dễ
thay đổi trong cầu du lịch giảm xuống vì khi đó nhu cầu đi du lịch sẽ được
đáp ứng nhiều hơn và thuộc tính tâm lý nhàm chán với những gì lặp đi lặp
lại của con người cùng với sự phát triển của những thể loại những sản
phẩm và dịch vụ mới trong du lịch thấp hơn nhu cầu và khả năng thanh
toán về du lịch. Đây là những nguyên nhân cơ bản làm giảm tính thay đổi
trong cầu về du lịch.
+ Cầu trong du lịch mang tính chu kỳ
Tính chu kỳ của cầu về du lịch đối với một vài loại sản phẩm dịch vụ
nào đó mạnh hơn nhiều lần so với tính thời phẩm dịch vụ nào đó mạnh
hơn nhiều lần so với tính thời vụ của cầu về một hàng hoá cụ thể. Đặc
điểm này được hình thành do tác động của nhiều nhân tố trong đó nhân tố
tự nhiên chiếm một tác động lớn quan trọng. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này
chúng ta xét một ví dụ sau: Trong một năm tại những khu vực nghỉ biển ở
khu vực phía Bắc nước ta chỉ có khách vào mùa hè còn những tháng còn
lại hầu như không có. Điều này thật dễ hiểu vì chỉ vào mùa nóng thì người
ta mới tắm biển được khi đó cầu về du lịch nghỉ biển mới xuất hiện.
Hơn nữa, do tính vô hình của sản phẩm du lịch lại tăng thêm tính chu
kỳ này. Du khách không thể mua một tour du lịch nghỉ biển vào tháng 1
sau đó để dành tới tháng 8 mới mang ra tiêu dùng. Sản phẩm du lịch
không thể cất trữ được giống như các sản phẩm hàng hoá thông thường
khác, do đó không có hệ thống kho tàng bến bãi tạo nên tính chu kỳ của
cầu trong du lịch.
+ Cầu trong du lịch có khả năng tự thoả mãn
Đây là một vấn đề khá quan trọng trong cầu về du lịch. Vấn đề này
được xác định trên khả năng tự tổ chức các chương trình du lịch của du
10
tính hấp dẫn như nhau. Do đó một sự thay đổi nhỏ nhất trong giá cũng dẫn
tới một sự thay đổi lớn về khối lượng du khách đó là một tác động của lợi
ích vật chất. Tuy vậy nhưng tính đàn hồi của một chủng loại sản phẩm lại
thay đổi rất lớn theo thời vụ của sản phẩm đó. Ngoài thời vụ tính đàn hồi
rất lớn trong thời vụ tính hồi rất nhỏ thậm chí vào chính vụ có thể gọi là
cầu không có giãn. Ngoài ra tính đàn hồi của cầu còn phụ thuộc vào đặc
tính của người tiêu dùng và mối quan hệ giữa giá cả và chất lượng. Có
những người không cần dịch vụ có chất lượng cao, giá đắt mà họ thích
những dịch vụ có chất lượng thấp hơn nhưng giá rẻ. Đây là điều làm cho
các công ty lữ hành phải chú ý. Không phải lúc nào, cứ chất lượng cao,
giá đắt là có thể thu hút được khách mà phải tuỳ theo từng đối tượng
khách mà đưa ra các mức giá chất lượng và giá cả phù hợp với yêu cầu
của họ. Đó là cách định giá sản phẩm của công ty mà tuỳ thuộc vào đó
doanh thu của công ty tăng hoặc giảm.
Trong quá trình đi du lịch để đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của khách
thì đòi hỏi phải kết hợp nhiều bộ phận với nhau như: vận chuyển, về lưu
trú, ăn uống, vui chơi, giải trí Do đó cầu về du lịch có tính tổng hợp. Nó
đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ của các nhà cung cấp mới có thể đáp ứng
tương đối đầy đủ nhu cầu trong du lịch.
Quá trình biến đổi mong muốn đi du lịch đến cầu về du lịch (có khả
năng thanh toán) đó là cả một quá trình hết sức phức tạp. Để thúc đẩy quá
trình này là nhiệm vụ của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch họ làm gì
và làm như thế nào để đáp ứng nhu cầu đó.
- Để nhu cầu đó được đáp ứng thì phải nghiêm túc và tìm hiểu kỹ xu
hướng phát triển của cầu du lịch. Từ đó có biện pháp hữu hiệu để thu hút
nhằm đạt mục tiêu của công ty.
- Xu hướng phát triển của công ty
+ Du lịch ngày càng được khẳng định là một hiện tượng kinh tế xã
12
dịch vụ bổ sung (vui chơi, giải trí) = 7/3 song cho đến nay tỉ trọng đó là
3/7. Khách tập trung vào các dịch vụ vui chơi giải trí nhiều hơn.
+ Khách du lịch chỉ sử dụng một phần dịch vụ của các tổ chức kinh
doanh du lịch nhiều khi họ không mua các chương trình du lịch hoặc là
các chương trình trọn gói nhất là khách du lịch vì họ được tự do nếu như
họ đi và phần trăm trọn gói được giảm giá nhưng bị các đại lý ăn chặn do
đó tổng giá trong dịch vụ trọn gói lớn hơn bán lẻ. Do đó họ thiệt thòi và
nhu cầu về chương trình trọn gói giảm.
+ Sự hình thành ba thành phần khách trên thị trường thế giới. Đó là
khách du lịch thanh niên, trong độ tuổi lao động tích cực, cao tuổi.
Xu hướng hình thành 3 thành phần khách du lịch thì loại 1 và 3 phải
có chính sách giá hợp lý để thu hút họ.
1.2. Khái niệm về kinh doanh du lịch
1.2.1. Khái niệm
Kinh doanh du lịch là hoạt động sản xuất và bán cho khách du lịch
các dịch vụ và hàng hoá của những doanh nghiệp du lịch (đảm bảo việc đi
lại, lưu trú, ăn uống, giải trí cho khách du lịch) đảm bảo lợi ích cho quốc
gia và lợi nhuận cho tổ chức đó.
Như vậy kinh doanh du lịch bao gồm kinh doanh những hàng hoá và
dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch như vui chơi, giải trí, hàng
lưu niệm, dịch vụ vận chuyển, hướng dẫn, lưu trú, ăn uống
Căn cứ vào việc thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch trong quá
trình du lịch có 3 loại. Kinh doanh lưu trú, kinh doanh dịch vụ bổ sung
vào kinh doanh lữ hành.
Có hai cách nhìn nhận về khái niệm kinh doanh lữ hành:
- Theo nghĩa rộng ta có thể hiểu lữ hành với du lịch là một nghĩa là
13
nói đến lữ hành du lịch là nói đến các hoạt động đi lại và các hoạt động
đa dạng nên cung trong du lịch cũng phải bao gồm sự phối hợp của nhiều
ngành và nhiều lĩnh vực từ giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, xây
dựng Điều này thể hiện tính khác biệt cao giữa các yếu tố cấu thành sản
phẩm dịch vụ trong du lịch đặc biệt là chương trình trong du lịch.
+ Cung trong du lịch mang tính cố định và thụ động
Cung trong du lịch không tự đến được với cầu như hầu hết các sản
phẩm hàng hoá khác. Nó chỉ có thể ở nơi, tài nguyên du lịch ở Trung
Quốc nếu muốn xem người ở nơi khác không thể mang về xem được mà
phải đến tận nơi xem. Do đó cung trong du lịch là cố định. Nó chỉ được sử
dụng khi du khách đến nơi và tiêu thụ nó tức là xem xét nó chứ không chủ
động mang đến để cung cấp như các hàng hoá hay dịch vụ khác.
+ Cung trong du lịch chịu ảnh hưởng lớn bởi tài nguyên du lịch cả về
không gian và thời gian. Như chúng ta đã biết cung trong du lịch được tạo
ra bởi những yếu tố cơ bản là: Tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ
thuật phục vụ du lịch. Nhưng sản phẩm và dịch vụ tại điểm du lịch phải
phù hợp với tài nguyên du lịch tại nơi đó. Ví dụ: tại một điểm du lịch nghỉ
núi không thể đưa ra các dịch vụ cho thuê phao bơi mà phải là các dịch
vụ săn bắn leo núi.
Hơn nữa những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tại điểm du
lịch phải phù hợp với tài nguyên du lịch tại nơi đó. Ví dụ: tại một bãi chỉ
có thể kinh doanh về tắm biến một ngày không thể xây dựng ở đó những
khạch sạn với tổng số phòng quá cao, như thế không thích hợp. Nếu như
chỉ biết khai thác tài nguyên mà không biết cải tạo giữ gìn thì cho dù đó là
tài nguyên thiên nhiên hay nhân tạo nó cũng sẽ bị kiệt quệ. Các nhà cung
cấp du lịch phải nhìn vào tiềm năng, khả năng của tài nguyên và phải có
chương trình để tôn tạo, bảo vệ nó.
15
+ Cung trong du lịch rất khó tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới
nó đòi hỏi nhiều thời gian, vốn cũng như các yếu tố liên quan khác. Như
dòng chuyển động ngược chiều như các hoạt động kinh doanh khác. Để
giải quyết mâu thuẫn này đòi hỏi phải có các công ty lữ hành đứng ra
chắp nối cung và cầu.
+ Cầu du lịch mang tính tổng hợp trong khi đó mỗi một nhà cung cấp
sản phẩm du lịch chỉ có thể đáp ứng được một trong một vài nội dung của
cầu. Tính độc lập của các thành phẩm trong cung du lịch gây không ít khó
khăn cho khách trong việc tự sắp xếp bố trí các hoạt động để có một
chuyến đi như ý muốn có họ và để giải quyết mâu thuẫn này đòi hỏi phải
có các công ty lữ hành.
+ Các nhà cung cấp sản phẩm du lịch gặp nhiều khó khăn trong việc
quảng bá sản phẩm củamình. Trong khi đó, khách du lịch không có đủ
thời gian và khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin và khả năng để tự tổ
chức các chuyến đi du lịch với chất lượng cao phù hợp với mong muốn
của họ. Do đó công ty lữ hành ra đời.
Sau đây ta xét đến vai trò của công ty lữ hành.
Tất cả các cơ sở nói trên chỉ ra rằng cần có một tác nhân trung gian
làm nhiệm vụ liên kết giữa cung và cầu trong du lịch. Tác nhân đó chính
là các công ty lữ hành du lịch. Là những người thực hiện các hoạt động
kinh doanh lữ hành. Để thực hiện được vai trò liên kết này đòi hỏi các
công ty lữ hành có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động sau đây:
- Tổ chức các hoạt động trung gian và tiêu thụ sản phẩm của các nhà
cung cấp sản phẩm du lịch từ đó rút ngắn khoảng cách giữa khách du lịch
và nhà cung cấp sản phẩm du lịch. Do đó không mất nhiều thời gian và
tiền bạc cho việc thu thập thông tin làm cho giá thành giảm.
- Tổ chức các chương trình du lịch trọn gói. Các chương trình du lịch
17
trọn gói này nhằm liên kết sản phẩm du lịch mang tính đơn lẻ như: vận
chuyển, lưu trú, tham quan vui chơi giải trí thành một sản phẩm thống
nhất. Do được ưu đãi của các nhà cung cấp do đó chương trình thường
vào số lượng khách du lịch trong đoàn. Vì vậy, người ta nhóm toàn bộ chi
phí vào 2 loại cơ bản.
+ Chi phí biến đổi là chi phí tính cho một khách du lịch. Nó bao gồm
chi phí của tất cả các loại dịch vụ và hàng hoá mà đơn giá của mỗi loại
này quy định cho từng khách. Các chi phí này thông thường gắn liền trực
tiếp với sự tiêu dùng riêng biệt của từng khách.
+ Chi phí cố định: là chi phí tính cho cả đoàn khách, loại này bao
gồm tất cả các chi phí của các loại hàng hoá và dịch vụ mà đơn giá của
chúng được xác định cho cả đoàn khách. Nhóm chi phí này thường là các
chi phí mà mọi thành viên trong đoàn đều tiêu dùng chung, không bóc
tách được cho từng thành viên.
Có nhiều loại giá trong kinh doanh lữ hành.
- Giá trọn gói: Giá bao gồm hầu hết các loại dịch vụ và hàng hoá
phát sinh trong quá trình đi du lịch. Đây là hình thức chủ yếu cảu các
chương trình du lịch do các công ty lữ hành tổ chức.
- Giá cơ bản: Bao gồm giá của một số dịch vụ chủ yếu trong chuyến
đi.
- Mức giá tự chọn: Khách du lịch tuỳ ý lựa chọn các cấp độ phục vụ
khác nhau với các mức giá khác nhau. Cấp độ chất lượng phụ thuộc vào
thứ hạng của sản phẩm lưu trú và thứ hạng của các sản phẩm lưu trú và
thứ hạng của các sản phẩm vận chuyển và chất lượng của bản thân hàng
hoá cụ thể.
Mức giá tự chọn này ít được lựa chọn vì nó rất phức tạp cho công tác
19
tổ chức đối với một chương trình du lịch.
2.2. Chính sách giá:
Giá cả giữ một vai trò thiết yếu trong Marketing - Mix và dù trong
nền kinh tế phát triển của thế giới cạnh tranh về giá đã nhường chỗ cho
cạnh tranh về chất lượng. Nhưng các quyết định về giá là quan trọng trong
- Đặc tính của tài nguyên du lịch đất nước. Điều này hoàn toàn phụ
thuộc vào chất lượng của môi trường thiên nhiên, tài nguyên du lịch các
điều kiện và kết cấu cơ sở hạ tầng.
- Chất lượng sản phẩm: Khi có chất lượng cao của sản phẩm thì có
thể mưu cầu giá cao cho sản phẩm đó.
- Cơ cấu chi phí của sản phẩm: Giá bán phải bù đắp được chi phí và
có lãi. - Sự tác động của các chính sách khác trong Marketing - Mix vì
chính sách giá nằm trong hệ thống các chính sách cảu Marketing - Mix
điều này đưa tới những ảnh hưởng của các chính sách khác tới chính sách
giá cả.
Ngoài các yếu tố trên ra chính sách còn chịu sự tác động của các yếu
tố bắt buộc về thị trường. Đó là quan hệ cung - cầu, mức độ cạnh tranh
trên thị trường, hai yếu tố này sẽ điều chỉnh mức giá của thị trường. Đó là
mức giá để lựa chọn xác định chính sách giá cho phù hợp.
2.2.3. Nguyên tắc xác định giá trong các công ty lữ hành:
- Các chi phí phải được tâp hợp đầy đủ và chính xác.
- Các đơn vị tiền tệ khi sử dụng để tính giá thành phải thống nhất,
nếu thay đổi phải quy định trước để tính theo thời giá hiện hành lúc thanh
toán.
- Chi phí được tính phải là chi phí gốc tức là không được tính các
21
khoản hoa hồng mà công ty được hưởng từ các nhà cung cấp dịch vụ du
lịch. Đảm bảo các chi phí được tính là chi phí thực, không bị chồng chéo
lên nhau.
2.2.4. Các phương pháp định giá trong công ty lữ hành
- Giá tính theo chi phí: Nghĩa là tính trên tổng chi phí để tạo ra sản
phẩm (gồm cả chi phí cố định và biến đổi). Đây là phương pháp xác định
giá cơ bản nhất, nó được áp dụng cho mọi ngành kinh tế, mọi cơ sở sản
phẩm. Giá sản phẩm dịch vụ được xây dựng theo phương pháp này được
= Z (1 + X )
Trong đó: G: Giá bán chương trình
P: Lợi nhuận
Cb: Chi phí bán và chi phí quảng cáo
Ck: Chi phí khác: chi phí quản lý
T: Thuế
X: Hệ số các khoản chi phí tính trên giá thành
X
: Hệ số tổng cộng
- Định giá dựa vào cạnh tranh: Theo phương pháp này chi phí cá biệt
không được quan tâm tới mà chỉ căn cứ vào giá trên thị trường của đối thủ
cạnh tranh để định giá của mình.
- Các chiến lược sản phẩm mới
+ Đối với các sản phẩm mới có thể sử dụng những chiến lược định
giá sau:
* Với các sản phẩm mới sáng chế:
* Định giá cao (hớt váng sữa): Khi tung ra sản phẩm mới sáng chế ra
thị trường, công ty khác biệt với các sản phẩm khác trên thị trường, sau
khi mức bán ban đầu giảm, công ty hạ giá xuống để lôi kéo khách hàng kế
tiếp vốn nhạy cảm với giá. Trong kinh doanh du lịch, khi quan hệ cung
cầu căng thẳng, cầu quá nhiều, cung quá hạn hẹp, chiến lược này thường
được áp dụng.
* Định giá thấp nhằm thâm nhập thị trường. Do là thị trường mới do
đó công ty sử dụng chính sách này để thu hút lượng khách lớn. (tăng khối
23
lượng)
* Với các sản phẩm mô phỏng:
Cao 1. Chiến lược
* Chiết giá theo mùa
* Trợ giảm quảng cáo
+ Thặng giá (theo mùa, theo đối tượng khách và theo tiêu dùng cụ
thể của khách trong chương trình) Thặng giá nhằm mục đích khai thác tối
đa thị trường cũng như nhằm tăng uy tín của chương trình du lịch. Trong
du lịch, giá trị của chương trình du lịch là do cảm nhận cảu khách hàng,
đồng thời các chương trình khác nhau đối với tất cả những đoàn khách
nên chiến lược thặng giá có thể thực hiện một cách dễ dàng có hiệu quả.
+ Định giá phân biệt: Định giá khác nhau cho các đối tượng khách
24
khác nhau nhằm khai thác triệt để các đoạn thị trường.
3.Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
Như ta đã biết, muốn kinh doanh phải có thông tin của thị trường.
Thông tin về giá là thông tin đầu tiên quan trọng nhất mà mọi nhà kinh
doanh phải tìm biết vì không có thông tin này không có cơ sở để ra các
quyết định kinh doanh của công ty.
Các quyết định giá cho dịch vụ đặc biệt được đưa ra giá trị vô hình
của sản phẩm dịch vụ. Giá được trả cho một dịch vụ báo hiệu cho khách
hàng biết về chất lượng dịch vụ có thể họ sẽ nhận được.
Tầm quan trọng của giá được thể hiện trong các mặt:
- Giá là tín hiệu để các công ty lựa chọn các mặt hàng và những khối
lượng hàng hoá để sản xuất khi có yếu tố khác nhau như chi phí, năng lực
doanh nghiệp không đổi.
- Trên thị trường, giá hàng hoá nào cao và có xu hướng gia tăng thì
đây chính là cơ hội để thu lợi nhuận cho công ty.
- Giá được coi là công cụ để thực hiện gia tăng lợi nhuận và doanh
thu.
Quyết định về giá cả của một dịch vụ mới phải xem xét nhiều đặc
điểm phù hợp. Điều quan trọng nhất là các quyết định về giá cần phải