1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước gắn liền với giữ nước của dân tộc
đã hun đúc nên một truyền thống văn hóa tốt đẹp. Nền văn hóa đó đã làm nên
sức sức sống trường tồn, đưa dân tộc Việt Nam vượt qua bao thăng trầm của
lịch sử, bảo vệ nền độc lập, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Ngày nay thế giới đang đứng trước xu thế hội nhập và phát triển. Đảng
ta chủ trương xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc.
Trong lịch sử dân tộc, chưa bao giờ văn hóa và vai trò của văn hóa
được đề cao đến như vậy . Văn hóa, được xem là nền tảng tinh thần của xã
hội, là mục tiêu, là động lực của phát triển kinh tế - xã hội như trong sự
nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Báo cáo chính trị của đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng, một lần nữa khẳng định: “Đẩy mạnh việc thực
hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa…làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu
dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con người
Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc, tăng sức đề kháng
chống những văn hóa phẩm đồi trụy, độc hại. Nâng cao tính văn hóa trong
mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và hoạt động của nhân dân”
1
Phát
triển nền văn hóa chính là hiện đại hóa trên cơ sở bảo tồn và phát huy các di
sản văn hóa
Đảng ta khẳng định di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa cổ vật
nói riêng là tài sản của nhân dân, phục vụ lợi ích của toàn xã hội, mọi tổ chức,
mọi ngành, mọi cấp phải có nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ các di sản văn
hóa. Trong quá trình phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với
1
( Đảng cộng sản Việt nam; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG,H.2006.Tr213.)
2
hóa và nghiêm cấm mọi hành vi mua bán cổ vật nhưng trên thực tế vẫn tồn tại
một thị trường “đen” về cổ vật, trong đó có cổ vật gốm sứ. Từ “giới thợ chạy”
ở các địa phương, cổ vật được tuồn về Hà Nội, về thành phố Hồ Chí Minh,
Huế, Đà Nẵng…bày bán công khai trong các tiệm với cái tên danh nghĩa
“Hàng lưu niệm” . Những đường phố như Hàng Đào, Hàng Ngang, Kim Liên,
Nghi Tàm, Đồng Khởi, Lê Công Kiều…đã từng là những tụ điểm buôn bán
cổ vật vô cùng náo nhiệt. Nhiều cổ vật về tay “con buôn” được bán bằng
ngoại tệ mạnh, phần lớn là cho người sưu tập nước ngoài mà trong đó không
ít là con buôn cỡ quốc tế . Cổ vật Việt Nam, vì thế bị thất thoát, “chảy máu”
trầm trọng. Hiện tượng các cổ vật gốm sứ có giá trị kinh tế cao, giá trị thẩm
mỹ đẹp, giá trị lịch sử quan trọng đang có nguy cơ bị sâm hại và “chảy máu”
ra thị trường quốc tế.
Luật di sản văn hóa- 2001 ra đời, cổ vật nói chung và cổ vật gốm sứ
ở nước ta nói riêng đã được nhà nước cho phép công khai mua, bán, trao
đổi , thẩm định, đấu giá …vv. Cổ vật được chính thức nhìn nhận dưới góc
độ là một loại tài sản, loại hàng hóa đặc biệt, không chỉ có giá trị về lịch
sử, văn hóa, khoa học mà còn có khả năng đem lại lợi ích kinh tế cao cho
các chủ sở hữu.
Việc đánh giá, thẩm định, mua bán, trao đổi các tài sản văn hóa cổ
vật, trong đó có cổ vật gốm sứ có nguồn gốc bất hợp pháp không những
chưa chấm dứt mà còn gia tăng một cách sôi động, những điều đó cho thấy
nếu tiếp tục bông lỏng quản lý, thiếu kiểm soát chặt chẽ, vô hình chung,
chúng ta đang dần biến thị trường cổ vật mặc nhiên thành nơi tiêu thụ các
tài sản do trộm cắp, do đào bới trái phép, do không được giám định thật
giả, nông, sâu…vv.. Điều đó không những dẫn đến sự thất thu thuế của nhà
nước, mà quan trọng hơn, là làm thất thoát đi một khối lượng không nhỏ di
sản cổ vật của đất nước, một loại tài sản đặc biệt. Kinh nghiệm của nhiều
4
nước đã phải bỏ ra rất nhiều tiền, nhiều khi gấp hàng trăm, hàng ngàn lần
để mong mua lại những cổ vật của chính dân tộc mình.
TW4 khóa VII, văn kiện đại hội Đảng lần thứ VIII, thứ IX, Nghị quyết TW5
khóa VIII, kết luận Hội Nghị TW 10 khóa IX.
Từ nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCH TW khóa VII đã bàn đến
những khía cạnh kinh tế trong hoạt động và kinh doanh hàng hóa văn hóa ở
nước ta. Ví dụ những vấn đề được nêu ra: bằng mọi cách phải đưa các giá trị
văn hóa của dân tộc và thế giới đến với nhân dân, mở rộng giao lưu văn hóa
với nước ngoài dưới nhiều hình thức như mở rộng xuất nhập khẩu văn hóa
phẩm… Tháng 12 năm 1995, bộ văn hóa thông tin đã triển khai thực hiện văn
bản của Chính phủ về việc tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa và dịch
vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng…vv. Đặc
biệt nghị quyết TW 5 khóa VIII về xây dựng phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đã đưa ra một số chính sách kinh tế trong
văn hóa rất quan trọng.
Có thể nói, đó là những quan điểm chỉ đạo có ý nghĩa định hướng không
những cho công tác nghiên cứu trên lĩnh vực này, mà còn là cơ sở cho các hoạt
động văn hóa nói chung và quản lý thị trường hàng hóa văn hóa nói riêng.
Luật di sản văn hóa (2001). Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Về tăng
cường các biện pháp quản lý bảo vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn đào bới,
trục vớt trái phép di chỉ khảo cổ học (2002). Trong chỉ thị này, đã có phân
công trách nhiệm cho các ngành, các cơ quan chức năng như Bộ Văn hóa-
Thông tin, Bộ công an, Ủy ban nhân dân các Tỉnh, Thành phố trực thuộc
Trung ương, Ban tôn giáo của Chính phủ…trong việc quản lý các cổ vật.
Quyết định số 68/2006/QĐ-BTC Về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp,
quản lý và sử dụng phí thẩm định, nội dung và lệ phí cấp phép xuất khẩu văn
hóa phẩm. Nghị định số 56/2006/NĐ-CP Về sử phạt vi phạm hành chính trong
6
hoạt động văn hóa nghệ thuật. Chỉ thị của Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch số
84/2008/CT-Bộ VH.TT.DL Về tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo nhằm
thúc đẩy sự ra đời, phát triển của các bảo tàng và sưu tập tư nhân. Nghị định
số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 gồm 7 chương, 36 điều, có hiệu lực từ
cấp bộ, Học viện CT. QG HCM - TS Nguyễn Thị Hương chủ nhiệm, đã
nghiệm thu năm 2008)
2.4. Một số công trình và đề tài nghiên cứu về quản lý các hoạt động văn
hóa và cơ chế hoạt động văn hóa trong điều kiện hiện nay ở nước ta , Như :
Theo dấu các văn hóa cổ của tác giả Hà Văn Tấn, Nxb khoa học xã
hội, Hà Nội,1997.
Bảo tồn và phát huy giá trị danh nhân văn hóa truyền thống Việt nam
Tác giả Diêm Thị Đường, Nxb văn hóa thông tin, Hà Nội 1998.
Các nền văn hóa khảo cổ tiêu biểu ở Việt Nam (Phạm Văn Đấu và Phạm
Võ Thanh Hà, Nxb văn hóa thông tin, 2010
Lược sử quản lý văn hóa ở Việt Nam (Tập bài giảng văn hóa của trường
đại học văn hóa Hà Nội, của tác giả Hoàng Sơn Cường- Nxb Văn hóa thông
tin- Hà Nội,1998)
Quản lý hoạt động văn hóa (của tác giả Nguyễn Văn Hy, Phan Văn Tú,
Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà
Nội, 1998).
Thể chế xã hội trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ ở nước ta (Đề tài cấp
bộ, Học viện CTQG. HCM- do GS, TS Hoàng Vinh chủ nhiệm, nghiệm thu
năm 2000).
Xây dựng thể chế quản lý kinh doanh văn hóa phẩm hiện thời ở nước
ta. (Đề tài cấp bộ. Học viện CTQG.HCM- Do GS,TS Hoàng Vinh chủ nhiệm,
nghiệm thu năm 2005)
8
2.5. Sách về cổ vật gốm sứ, thú chơi cổ vật của một số tác giả như
Vương Hồng Sển (TP Hồ Chí Minh). TS,Trần Đức Anh Sơn (Huế) và một số
bài viết trên tạp chí: Cổ vật Tinh Hoa, Cổ vật Thiên trường, một số bài viết
trên các báo và trên mạng Internet...vv.
Có thể nói, chưa có một công trình nghiên cứu nào liên quan trực tiếp
đến vấn đề nghiên cứu của đề tài. Chắc chắn đề tài sẽ gặp nhiều khó khăn cả
về lý luận và thực tiễn.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng về mối quan hệ giữa văn hóa với phát triển, quan điểm của
Đảng ta về phát triển văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Đề tài sử dụng các phương pháp liên/đa ngành; Phương pháp phân tích-
tổng hợp; phương pháp chuyên gia; phỏng vấn sâu… để phục vụ cho mục
đích nghiên cứu
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đề tài góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề bảo tồn và
phát huy giá trị văn hóa cổ vật gốm sứ Việt Nam và sự vận động của thị
trường cổ vật gốm sứ ở nước ta trong thời gian qua.
Kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy;
làm cơ sở cho các nhà quản lý một hướng tiếp cận về quản lý thị trường văn
hóa gắn với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế
6. Kết cấu của luận văn
Không kể phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu làm 3 chương 9 tiết:
10
Chương I: Di sản văn hóa cổ vật gốm sứ đối với việc bảo tồn di sản
văn hóa dân tộc
Chương II: Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cổ
vật gốm sứ Việt Nam
Chương III: Giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị di sản cổ vật
gốm sứ Việt Nam
11
CHƯƠNG I
DI SẢN VĂN HÓA CỔ VẬT GỐM SỨ ĐỐI VỚI VIỆC
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA DÂN TỘC
1.1. QUAN NIỆM VỀ DI SẢN CỔ VẬT GỐM SỨ
cho nên nó mang tính đa nghĩa. Trong luận văn này, văn hóa được hiểu là toàn
bộ hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ cũng như trong hiện tại,
được đúc kết thành hệ thống các giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định.
Có thể nêu một trong rất nhiều định nghĩa như sau: “Di sản văn hóa dân
tộc là toàn bộ sản phẩm sáng tạo của các thành viên trong cộng đồng dân tộc.
nó thể hiện dưới dạng những đối tượng vật thể (hữu hình) và phi vật thể (vô
hình) mang tính biểu tượng, được lan tỏa (vô thức) và trao truyền (hữu thức)
từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, từ thế hệ trước cho thế hệ sau”
2
Chúng ta biết rằng, không phải mọi vật phẩm do con người làm ra đều
trở thành di sản văn hóa. Cho nên, phải xác định những tiêu chí đặc trưng cho
di sản văn hóa để phân biệt nó với các vật phẩm thông thường khác.
Muốn làm được điều này phải xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của
văn hóa:
Đặc trưng thứ nhất của văn hóa là tính sáng tạo hoặc tính tích lũy
thông tin. Đặc trưng này xuất phát từ chỗ, như người ta thường nói: con
người là một động vật tò mò. Con người vừa hoạt động, vùa kiếm sống,
vừa cần cù quan sát, ghi nhớ, suy ngẫm về cái thế giới mà nó đang tác động
2
:Bảo tồn và phát huy giá trị danh nhân văn hóa truyền thống Việt Nam – Diêm Thị Đường- NXB Văn hóa thông
tin- Tr.21.22.23
13
và thích ứng để tồn tại. Nhờ đó, mà có sự nhận biết về sự tồn tại của thế
giới khách quan, rồi đúc kết thành tri thức,kinh nghiệm, khái quát lên thành
các quy tắc hành xử, thành khoa học. Dù cho là động vật có hiểu biết thì sự
hiểu biết của nó chỉ đủ thích ứng thụ động với thiên nhiên để tồn tại như
hiện hữu. Còn hiểu biết của con người là nhằm thích ứng tích cực với thế
giới khách quan, rồi cải tạo nó phù hợp với hoàn cảnh để không ngừng
hoàn thiện cuộc sống theo hướng nhân bản hóa. Đó là đặc trưng quan trọng
hàng đầu để phân biệt giữa hoạt động hữu thức của con người với hành vi
có giặc ngoại xâm thì vụt lớn mang sức mạnh của cả một dân tộc bất khuất,
không chịu làm nô lệ, sức mạnh ấy như một thiên thần, dũng mãnh, liệt oanh.
dẹp xong giặc dữ, lại bay về trời một cách vô tư. thánh thiện. Giá trị của chùa
Một Cột là ở tài năng thiết kế của một nhà kiến trúc vô danh nào đó, đã khéo
tạo ra một công trình có kết cấu giản dị, hài hòa nhất là công trình ấy đã thể
hiện thành công đề tài nói về “Giấc mơ của vua Lý thấy Phật hiện ra trên tòa
sen”. Ngôi chùa là biểu tượng kiến trúc tuyệt vời, về mặt hình thái nó như một
bông sen ngoi lên từ hồ nước, trên đó có Phật hiện ra. Chùa Một Cột là một
công trình kiến trúc tuyệt đẹp được du khách trong và ngoài nước thán phục.
Đặc trưng thứ tư của văn hóa là tính lịch sử. Tính lịch sử của văn hóa
được thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng được hình thành trong một quá trình,
được tích lũy và sàng lọc qua sự vận động của xã hội. Tính lịch sử làm cho
vốn di sản văn hóa có bề dày thời gian có sự phong phú về hình loại.
Di sản văn hóa nào cũng mang dấu ấn thời gian, nó là vật chứng cho
một thời kì lịch sử nhất định. Quá khứ không chỉ là đối tượng quan sát, mà
còn là một đối tượng suy ngẫm, có khả năng gây xúc động thẩm mĩ đối với
con người. Bằng năng lực liên tưởng mạnh mẽ, con người có thói quen giữ
gìn di vật của quá khứ, tìm sức mạnh tinh thần từ quá khứ, tựa vào đó để hồi
15
suy lại cuộc hành trình của mình. Thói quen ấy tạo tiền đề cho sự ra đời các
sưu tập hiện vật, để cuối cùng hệ thống các nhà bảo tàng xuất hiện - nơi bảo
quản và giới thiệu những di sản văn hóa.
Do di sản văn hóa mang tính lịch sử, cho nên bất cứ vật thể nào đại
diện cho một sự kiện lịch sử trọng đại, một giai đoạn lịch sử tiêu biểu hay một
nhân vật lịch sử kiệt xuất thì đều có thể trở thành di sản văn hóa.
Dựa vào quan điểm của UNESCO, người ta phân chia di sản văn hóa
thành hai loại:
Di sản văn hóa vật thể bao gồm những tạo phẩm vật thể (hữu hình) có
giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử và tự nhiên, do một cộng đồng văn
hóa - xã hội nào đó tạo ra. Đó là những di vật, di tích như đền đài, cung điện,
tộc, chủ quyền quốc gia, quảng bá hình ảnh của đất nước và sự giao thoa giữa
các nền văn hóa.
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay, di
sản văn hóa được xác định là cốt lõi của bản sắc dân tộc, là cơ sở để chúng ta
nghiên cứu, kế thừa xây dựng và phát triển nền "văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc"; xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức,
tâm hồn, tình cảm, lối sống; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự
phát triển xã hội.
Di sản văn hóa là tài sản vô giá của toàn dân, kết tinh truyền thống dân
tộc, do các thế hệ người Việt Nam, nối tiếp nhau từ đời nay qua đời khác sáng
tạo nên trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc.
Chăm lo cho di sản văn hóa cũng có ý nghĩa là chăm lo cho sự gắn kết
Truyền thống - Hiện tại và Tương lai; chăm lo cho việc bồi đắp cái cốt lõi của
bản sắc dân tộc. Không có truyền thống thì sẽ không có hiện tại và càng
không thể có cơ sở vững chắc để hướng tới tương lai tốt đẹp.
17
1.1.3. Phân loại di sản cổ vật gốm sứ
Theo quan niệm phổ thông thì cổ vật gốm sứ được chia làm 3 loại :
gốm, sành và sứ, trong đó sứ còn phân chia thành sứ và bán sứ. Tuy vậy trong
xã hội và trong dân gian, thường không phân biệt một cách rạch ròi đâu là
làng gốm, đâu là làng sứ… mà thường gọi một danh từ chung là gốm, hoặc
dùng từ ghép là gốm sứ, ví dụ như làng gốm Bát Tràng (Hay gốm sứ Bát
Tràng), làng gốm Chu Đậu, gốm Cây Mai, gốm Lái Thiêu…vv
Gốm: là một loại hàng hóa được làm từ chất liệu đất nung với các họa
tiết đơn giản, kĩ thuật chưa cầu kì và dặc biệt là nhiệt độ nung ở nhiệt độ thấp
dưới 1000 độ C. Một đặc điểm cơ bản rất dễ phân biệt với đồ sành và đồ sứ là
đồ gốm thường thấm nước.
Gốm đất nung được làm chủ yếu từ các loại đất sét dẻo, tương đối mịn
hạt, pha thêm cát, nung ở nhiệt độ trên dưới 800 - 900
o
rằng đồ bán sứ là bước chuyển tiếp giữa đồ gốm và đồ sứ - xong quan điểm
này chưa thật sự thuyết phục và còn phải bàn luận kỹ hơn. Đồ sứ chủ yếu
được làm bằng kaolin có thêm đất sét trắng và một số loại đá. Nguyên liệu
làm sứ là loại nguyên liệu “tinh chất”, chịu lửa cao, đến 1500
o
C, có màu
trắng, thủy tinh hóa trở thành trong suốt, rắn chắc, bóng loáng như thuỷ tinh.
Người Việt biết sử dụng đất sét trắng và kaolin để làm gốm sứ khá
muộn so với người Trung Quốc - vào các thế kỉ đầu Công nguyên. Các đồ
được gọi là đồ sứ trong thời kì này thật ra là đồ bán sứ hoặc đồ bán sành bán
sứ. Thường là các loại vò có văn hoa ô vuông, ô trám, xương không được
trắng lắm. Gốm thời Hán - Lục triều được làm bằng đất sét trắng nhưng
không tráng men.
Loại hình đồ bán sứ tương đối phong phú, bao gồm các loại gốm gia
dụng, như bát đĩa, vò, bình lọ, âu, bình con tiện, chõ, nậm rượu, bình có quai
xách, bình đầu gà, mô hình nhà, chậu, mâm, cốc… các loại đồ dùng trong thờ
cúng, như cốc đốt trầm, đồ đựng ba chân.
19
Men tráng trên đồ bán sứ cũng có nhiều loại khác nhau, như màu ghi, sữa,
nâu, xanh, nâu đen, men tro, men màu kem, vàng, trắng hơi xám, da lươn…
Việc phát hiện và khai quật các khu lò gốm Tam Thọ, Bãi Định, Tam
Sơn, Đại La, Đồng Đậu, Thanh Lãng, Cổ Loa…đã khẳng định nguồn gốc bản
địa của các loại sành, sứ mà nhiều người lâu nay vẫn cho hoặc nghi là “gốm
Hán”. Tất nhiên, bên cạnh gốm sứ Việt cũng có mặt một số ít gốm sứ Hán do
quá trình giao thương giữa hai nước cũng như của các quan binh nhà hán đi
cai trị mang theo. Cũng phải nói thêm rằng cũng tồn tại một số gốm sứ Việt
mang phong cách Hán.
Trong thời kì này đã xuất hiên một số trung tâm gốm sứ lớn như Tam
Thọ (Thanh Hóa), Cổ loa (Hà Nội), Đại La, Luy Lâu, Đương Xá (Bắc Ninh).
Sự ra đời gốm kiến trúc (gạch, ngói), đồ sành và đồ bán sứ thực sự là một
tròn). Câu chuyện về cụ nghệ nhân tóc bạc trắng chỉ là truyền khẩu. Còn theo
những gì được ghi lại trong sử sách thì làng nghề Bát Tràng cũng đã có đến
500 năm tuổi. Một số thư tịch cổ có ghi việc thời Lê sơ, thế kỷ 15, các cống
phẩm triều đình cống nạp cho nhà Minh bên Trung Quốc gồm các sản vật quý
như gấm, vóc, lụa là, châu ngọc , và có cả đồ gốm Bát Tràng. Nhưng có thể
nói, nghề gốm ở Bát Tràng cực thịnh là vào thế kỷ 16, thế kỷ 17. Nhiều đồ
thờ quý giá ở những đình, đền, chùa, miếu còn đến nay, thấy có ghi tên tuổi
những người cúng tiền và thời gian chế tác, thì biết những đồ gốm Bát Tràng
cực kỳ đẹp cả cốt, dáng, nét và men đã ra đời vào thời Mạc Mậu Hợp và thời
Lê Trung Hưng.
Từ xưa, dân Bát Tràng đã sống và phát triển bằng nghề gốm sứ. Đất sét
để làm đồ gốm, người Bát Tràng phải mua từ làng Cổ Điển bên Vĩnh Phú,
hoặc mua từ làng Dâu bên Bắc Ninh. Hàng gốm Bát Tràng thời kỳ đầu là đồ
21
gốm trắng, mãi sau mới chuyển sang làm đồ đàn. Gốm đàn là loại gốm
"xương" đỏ, miệng loe, mỏng và thấp. Nghĩa là người thợ làm "xương" gốm
bằng đất đỏ, rồi mới lót một lượt đất trắng mỏng ra ngoài. Quy trình gia công
này có công đoạn phải đàn cho "xương" và "da" gốm mỏng ra, do vậy mới gọi
là đồ đàn. Đất đỏ làm đồ đàn phải mua từ Hồ Lao, Hồ Lễ bên Hải Dương
hoặc mua của Thổ Hà bên Bắc Ninh. Lò đàn của Bát Tràng truyền thống làm
theo cấu trúc dưới vuông trên cuốn. Khi đưa đồ vào nung phải xếp trong
những bao thơi. Bao thơi là 4 viên gạch vuông cỡ lớn, rộng chừng 33cm, dày
8 đến 9cm, ghép lại thành hình hộp, trong lòng vừa đặt 4 cọc bát hoặc những
đồ khác tương đương. Các bao thơi chứa đồ gốm bên trong được xếp vào lò,
chồng lên nhau từ thấp lên cao. Mỗi mẻ lò nung được hàng trăm ngàn bát đĩa.
Gạch làm bao thơi sau mỗi lần dùng, nếu không vỡ, sẽ được dùng tiếp cho lần
sau. Bởi thế mà độ già, độ rắn chắc của gạch này rất cao, chất lượng tuyệt tốt,
nên người tứ xứ ưa mua loại gạch này về để xây cất. Người xưa hay dùng nó
để xây nhà, lát sân, xây mộ, xây giếng... Từ đó mà có câu ca : "Anh mua về
gạch Bát Tràng - xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân."
truyền Việt Nam đã được sản xuất tại vùng mà nay thuộc làng Chu Đậu và làng
Mỹ Xá, thuộc các xã Minh Tân và Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Loại gốm sứ này thường được nhắc đến với tên gốm Chu Đậu là do lần
đầu tiên người ta khai quật được các di tích của dòng gốm này ở Chu Đậu.
Sau này, khi khai quật tiếp ở Mỹ Xá (làng bên cạnh Chu Đậu) thì người ta
phát hiện ra khối lượng di tích còn đa dạng hơn và có một số nước men mà
người ta không tìm thấy trong số các di tích khai quật được tại Chu Đậu. Gốm
Chu Đậu là dòng gốm nổi tiếng vì màu men và họa tiết thuần Việt. Nó đã
từng xuất khẩu sang nhiều nước Châu Âu. Năm 1997 sau khi tìm dược rất
nhiều gốm Chu Đậu trong con tàu đắm ở Cù Lao Chàm (Nghệ An) của người
Bồ Đào Nha dòng gốm này mới được biết đến và nổi tiếng.
23
Cả hai vùng Mỹ Xá và Chu Đậu đều coi ông Đặng Huyền Thông,
người Hùng Thắng, Minh Tân là ông tổ của dòng gốm sứ này. Mới đây các
nhà khảo cổ đã khẳng định bà Bùi Thị Hý là tổ nghề gốm Chu Đậu.
Dòng gốm sứ này có thể đã được hình thành và phát triển trong khoảng
từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 18. có nguồn thông tin cho rằng: nó bị hủy diệt do
chiến tranh Lê - Mạc cuối thế kỷ 16.
Gốm Thanh Hà:
Nằm cách Hội An 3 Km về hướng Tây, làng gốm Thanh Hà từng đóng
vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đô thị cổ Hội An. Vào
thế kỷ 16, 17, Thanh Hà là một ngôi làng rất thịnh đạt, nổi tiếng về các mặt
hàng gốm, đất nung được trao đổi, bán buôn khắp các tỉnh miền trung Việt
Nam. Chính những người thợ gốm Thanh Hà đã làm nên và cung cấp gạch,
ngói lợp, ngói lát nền cho các ngôi nhà cổ ở Hội An và các khu vực chung
quanh. Hiện nay, người dân làng gốm Thanh Hà đang làm đúng những công
việc và theo đúng cách cha ông họ đã làm trong những thế kỷ trước. Trong
đôi bàn tay khéo léo và điêu luyện của họ, những chiếc lọ hoa xinh xắn,
những bình trà, bình rượu, những chiếc ấm, bồng binh, những chum, lu, hũ,
vại và cả những con vật thân thương như trâu, Bò, mèo, lợn... cứ lần lượt ra
như nghệ nhân mộc Kim Bổng, họ cũng được phong hàm Cửu phẩm, Bát
phẩm. Từ vài thập niên gần đây gốm Thanh Hà vẫn có mặt ở khắp nơi trong
nước và thỉnh thoảng lại xuất hiện ở nước ngoài (Canada, Mỹ, Pháp).
Ngoài gốm, làng Thanh Hà còn nổi tiếng về gạch, ngói. Nơi đây từ xưa
đến nay đã từng cung cấp ngói âm dương, ngói mấu, ngói ống để phục vụ cho
các công trình kiến trúc cổ, biểu trưng là đô thị cổ Hội An trong các công
trình trùng tu, tôn tạo di tích.
Gốm Phù Lãng:
25
Làng Phù Lãng (thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh),
cách thị xã Bắc Ninh khoảng 10km và cách sông Lục Đầu khoảng 4km.
Nay Phù Lãng có ba thôn: Trung thôn, Thượng thôn, Hạ thôn. Theo Tô
Nguyễn, Trình Nguyễn trong sách Kinh Bắc - Hà Bắc thì ông tổ nghề gốm
Phù Lãng là Lưu Phong Tú. Vào cuối thời Lý, ông được triều đình cử đi sứ
sang Trung Quốc. Trong thời gian đó, ông học được nghề làm gốm và truyền
dạy cho người trong nước.
Đầu tiên, nghề này được truyền vào vùng dân cư đôi bờ sông Lục Đầu
sau đó chuyển về vùng Vạn Kiếp (Hải Dương). Vào khoảng đầu thời Trần
(thế kỷ XIII) nghề được truyền đến đất Phù Lãng Trung.
Có thể thấy, sản phẩm chính của gốm Phù Lãng xưa là chum vại, ấm
đất, chậu cảnh, tiểu sành... Ngày nay với những bàn tay tài hoa muốn khôi
phục và gìn giữ nghề truyền thống của làng, các nghệ nhân thế hệ mới như
nghệ nhân Vũ Hữu Nhung (với cái tên quen gọi là Gốm Nhung). nghệ nhân
Thiều (với tên quan thuộc Gốm Thiều) đã phát triển những tinh hoa của nghề
gốm với nghệ thuật tạo hình khối, hoa văn.
Nhiều sản phẩm và mẫu gốm mới như: tranh gốm, lọ hoa gốm, ấm chén
gốm, gốm trang trí, gốm ốp tường, lư hương... đã và đang được khách hàng,
doanh nhân, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước yêu thích.
Nét đặc trưng nổi bật trong trang trí gốm Phù Lãng là sử dụng phương pháp
đắp nổi theo hình thức chạm bong, mà người Phù Lãng quen gọi là chạm kép các