Qui định về báo cáo tài chính đối với hệ thống kế toán hành chính sự nghiệp nước ta hiên nay - Pdf 22

BÀI TẬP NHÓM
Môn: Kế toán hành chính sự nghiệp
GVHD: ThS Hà Phước Vũ
Đề tài:
Quy định về BCTC đối với hệ thống kế toán HCSN ở nước ta hiện nay
Điểm khác biệt giữa quy định về BCTC đối với hệ thống kế toán HCSN ở
nước ta và chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS)
A. Quy định về BCTC đối với hệ thống kế toán HCSN ở nước ta hiện nay
I. Quy định chung:
1. Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách
1.1 Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách dùng để tổng hợp tình hình về
tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí ngân sách của Nhà nước; tình hình thu, chi và kết
quả hoạt động của đơn vị hành chính sự nghiệp trong kỳ kế toán, cung cấp thông tin kinh
tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị, là căn cứ quan
trọng giúp cơ quan nhà nước, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám sát điều hành hoạt động của
đơn vị.
1.2 Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải lập đúng theo mẫu biểu
quy định, phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu đã quy định, phải lập đúng kỳ hạn, nộp đúng thời
hạn và đầy đủ báo cáo tới từng nơi nhận báo cáo.
1.3 Hệ thống chỉ tiêu báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải phù hợp
và thống nhất với chỉ tiêu dự toán năm tài chính và Mục lục ngân sách nhà nước, đảm
bảo có thể so sánh được giữa số thực hiện với số dự toán và giữa các kỳ kế toán với nhau.
Trường hợp lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách có nội dung và phương
pháp trình bày khác với các chỉ tiêu trong dự toán hoặc khác với báo cáo tài chính kỳ kế
toán năm trước thì phải giải trình trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.
1.4 Phương pháp tổng hợp số liệu và lập các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính, báo
cáo quyết toán ngân sách phải được thực hiện thống nhất ở các đơn vị hành chính sự
nghiệp, tạo điều kiện cho việc tổng hợp, phân tích, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện
dự toán ngân sách Nhà nước của cấp trên và các cơ quan quản lý nhà nước.
1.5 Số liệu trên báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác,
trung thực, khách quan và phải được tổng hợp từ các số liệu của sổ kế toán .

Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải được người lập, kế toán
trưởng và Thủ trưởng đơn vị ký, đóng dấu trước khi nộp hoặc công khai.
4. Kỳ hạn lập báo cáo tài chính
- Báo cáo tài chính của các đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh
phí ngân sách nhà nước được lập vào cuối kỳ kế toán quý, năm .
- Báo cáo tài chính của các đơn vị, tổ chức không sử dụng kinh phí ngân sách được
lập vào cuối kỳ kế toán năm;
- Các đơn vị kế toán khi bị chia, tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động phải lập báo
cáo tài chính tại thời điểm quyết định chia, tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động;
5. Kỳ hạn lập báo cáo quyết toán ngân sách
Báo cáo quyết toán ngân sách lập theo năm tài chính là báo cáo tài chính kỳ kế toán
năm sau khi đã được chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung trong thời gian chỉnh lý quyết toán theo
qui định của pháp luật.
6. Thời hạn nộp báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách
6.1 Thời hạn nộp báo cáo tài chính
6.1.1 Thời hạn nộp báo cáo tài chính quý
- Đơn vị kế toán trực thuộc (nếu có) nộp báo cáo tài chính quí cho đơn vị kế toán
cấp III, thời hạn nộp báo cáo tài chính do đơn vị kế toán cấp trên cấp III quy định;
- Đơn vị kế toán cấp III nộp báo cáo tài chính cho đơn vị kế toán cấp II và cơ quan
Tài chính, Kho bạc đồng cấp chậm nhất 10 ngày, sau ngày kết thúc kỳ kế toán quý;
- Đơn vị kế toán cấp II nộp báo cáo tài chính cho đơn vị kế toán cấp I hoặc cho cơ
quan Tài chính, Kho bạc đồng cấp chậm nhất 20 ngày, sau ngày kết thúc kỳ kế toán quý;
- Đơn vị kế toán cấp I nộp báo cáo tài chính cho cơ quan Tài chính, Kho bạc đồng
cấp chậm nhất 25 ngày, sau ngày kết thúc kỳ kế toán quý;
6.1.2 Thời hạn nộp báo cáo tài chính năm
a. Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí NSNN
Báo cáo tài chính năm của đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí
NSNN sau khi đã được chỉnh lý sửa đổi, bổ sung số liệu trong thời gian chỉnh lý quyết
toán theo quy định của pháp luật thời hạn nộp cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định
tại tiết 6.2, điểm 6, mục I phần thứ tư.

Thống

(*)
1 2 3 4 5 6 7 8
1 B01- H Bảng cân đối tài khoản Quý, năm x x
2 B02- H Tổng hợp tình hình kinh phí
và quyết toán kinh phí đã sử
dụng
Quý, năm x x x x
3 F02-1H Báo cáo chi tiết kinh phí hoạt
động
Quý, năm x x x x
4 F02-2H Báo cáo chi tiết kinh phí dự
án
Quý, năm x x x x
5 F02-3aH Bảng đối chiếu dự toán kinh
phí ngân sách tại KBNN
Quý, năm x x x
6 F02-3bH Bảng đối chiếu tình hình tạm
ứng và thanh toán tạm ứng
kinh phí ngân sách tại KBNN
Quý, năm x x x
7 B03- H Báo cáo thu- chi hoạt động sự
nghiệp và hoạt động sản xuất,
kinh doanh
Quý, năm x x x
8 B04- H Báo cáo tình hình tăng, giảm
TSCĐ
Năm x x x
9 B05- H Báo cáo số kinh phí chưa sử

2 Mẫu số B03/CT-H Báo cáo tổng hợp thu- chi hoạt
động sự nghiệp và hoạt động
sản xuất, kinh doanh
Năm x x x x
1 Mẫu số B04/CT-H Báo cáo tổng hợp quyết toán
ngân sách và nguồn khác của
đơn vị
Năm x x x x
Lưu ý: - Đơn vị dự toán cấp II chỉ gửi báo cáo tài chính cho đơn vị dự toán cấp I
- Đơn vị dự toán cấp I gửi cơ quan Tài chính, Thống kê, Kho bạc
2. Mẫu báo cáo tài chính
(Tài liệu đính kèm)
B. Điểm khác biệt về trình bày báo cáo tài chính so với chuẩn mực kế toán
công quốc tế; nguyên do và hướng giải quyết
Hệ thống chuẩn mực kế toán (CMKT) công quốc tế do Liên đoàn Kế toán Quốc tế
(IFA) ban hành làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC) ở các đơn
vị trực thuộc khu vực công. Theo đó, BCTC của từng đơn vị trong lĩnh vực công và
BCTC hợp nhất của Chính phủ đối với các đơn vị thuộc lĩnh vực công đều phải lập và
trình bày theo một khuôn mẫu thống nhất cho phù hợp với hệ thống CMKT công quốc tế.
Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN) Việt Nam được xây dựng trên cơ sở Luật
Ngân sách Nhà nước (NSNN), Luật Kế toán và các chính sách tài chính áp dụng cho
đơn vị HCSN vẫn còn nhiều điểm khác biệt so với hệ thống CMKT công quốc tế.
I.1 Những điểm khác biệt khái quát
1. Đối tượng áp dụng
Kế toán trong lĩnh vực nhà nước của Việt Nam (viết tắt là kế toán nhà nước) áp
dụng cho: các đơn vị thu – chi NSNN; các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có sử
dụng kinh phí NSNN; các đơn vị sự nghiệp tổ chức không sử dụng kinh phí NSNN; các
quỹ tài chính của Nhà nước. Kế toán nhà nước Việt Nam không áp dụng cho DN nhà
nước và các DN khác thuộc mọi thành phần kinh tế.
Trong khi, CMKT công quốc tế áp dụng cho các đơn vị thuộc chính quyền trung

hợp các đơn vị thuộc đơn vị thuộc sự kiểm soát của Chính phủ) và báo cáo ngân sách
(lập theo yêu cầu của Quốc hội) .

I.2 Những điểm khác biệt cụ thể
1. Về ghi nhận nguồn vốn:
Chế độ kế toán HCSN của Việt Nam qui định số thu được ghi thẳng tăng nguồn
vốn. Còn CMKT công quốc tế qui định phải bù trừ giữa thu và chi, số chênh lệch mới
được ghi tăng nguồn vốn.
2. Về danh mục BCTC:
Kế toán nhà nước Việt Nam qui định: đơn vị thu – chi ngân sách phải lập 28 báo
cáo, đơn vị HCSN phải lập 6 báo cáo và 4 phụ biểu, các đơn vị đặc thù còn có thêm
các báo cáo đặc thù của ngành.
CMKT công quốc tế qui định kế toán trên cơ sở tiền mặt lập 1 báo cáo thu – chi
tiền mặt, kế toán trên cơ sở dồn tích lập 5 báo cáo (Báo cáo tình hình tài chính của đơn
vị; Báo cáo kết quả hoạt động; Báo cáo sự thay đổi về tài sản thuần/Vốn chủ sở hữu;
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Chính sách kế toán và giải trình BCTC)

3. Về hàng tồn kho:
Kế toán nhà nước Việt Nam quy định cuối năm, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ
đa mua chưa sử dụng hết cũng được tính hết vào chi trong kỳ và được quyết toán.
CMKT công quốc tế (IPSAS 12) lại quy định giá trị hàng tồn kho chỉ được ghi
nhận vào chi phí trong kỳ cho phù hợp với doanh thu được ghi nhận.
4. Về giá trị XDCB dở dang, sửa chữa lớn hoàn thành:
Kế toán trong lĩnh vực Nhà nước của Việt Nam qui định cuối năm được tính vào
chi và quyết toán ngay trong kỳ, còn CMKT công quốc tế (IPSAS 11) qui định chi phí
được công nhận là chi trong kỳ phù hợp với khối lượng hoàn thành.
5. Về tài sản cố định:
Theo kế toán Nhà nước của Việt Nam, khi mua sắm TSCĐ, tính toán toàn bộ giá
trị tài sản vào số chi trong kỳ, hàng năm tính hao mòn TSCĐ, ghi giảm nguồn hình
thành TSCĐ mà chưa thực hiện khấu hao TSCĐ vào chi phí trong kỳ đảm bảo phù hợp

khoản chi ngân sách, chi hoạt động chưa được vốn hoá. Còn CMKT công quốc tế
hướng dẫn hạch toán chi phí đi vay, phương pháp vốn hoá chi phí vay liên quan đến
mua tài sản, xây dựng hoặc sản xuất tài sản.

11. Về thặng dư, thâm hụt:
Kế toán Nhà nước Việt Nam qui định thu – chi ngân sách xác định tồn quỹ ngân
sách, trong đó có tính cả các khoản đi vay (trừ khoản vay cho vay lại ) và các khoản
thu, chi chuyển nguồn, chuyển niên độ ngân sách; đơn vị HCSN tính chênh lệch thu,
chi hoạt động do tiết kiệm kinh phí và chênh lệch hoạt động kinh doanh dịch vụ để bổ
sung nguồn kinh phí, tăng thu nhập, trích lập các quỹ.
Trong khi đó, theo CMKT công quốc tế, thu – chi ngân sách xác định thặng dư,
thâm hụt theo thu, chi ngân sách, các khoản đi vay hạch toán riêng bù đắp bội chi; đơn
vị dịch vụ công được nhà nước tài trợ thường xuyên tính thặng dư thâm hụt hoạt động
thông thường, thặng dư thâm hụt hoạt động bất thường.
II. Một số nguyên nhân dẫn đến khác biệt
- Ở Việt Nam, nhu cầu về quản lý chỉ dừng lại ở việc quản lý nhà nước và quản lý
ngân sách nhà nước của Quốc hội.
- Có thể nói, chỉ các nước phát triển mới có khả năng áp dụng ngay IPSAS vì bộ
chuẩn mực này được xây dựng trên cơ sở nền tài chính công ở các quốc gia phát triển ở
mức độ cao, trong đó, quan hệ NSNN với các đơn vị SN được thực hiện theo đơn đặt
hàng, hoạt động sự nghiệp của đơn vị này được coi là các dịch vụ công thực hiện theo
đơn đặt hàng của Nhà nước và khi hoàn thành nghiệm thu sẽ được Nhà nước thanh toán.
- Trình độ quản lý còn hạn chế (chưa có một hiệp hội chuyên biệt để quản lý)
III. Đề xuất hướng giải quyết
- Xem xét lại nhu cầu về báo cáo tài chính của các đơn vị quản lý khác nhau các cấp
của Chính phủ và tổ chức lại hệ thống báo cáo, bao gồm cả hình thức của báo cáo. Các
yêu cầu về báo cáo đối với các đơn vị sử dụng ngân sách cấp 3 cần phải được giảm
xuống và nên để họ chuẩn bị và lập báo cáo về tình hình tài chính, báo cáo hoạt động tài
chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ (hoặc báo cáo thu chi tiền mặt) và thuyết minh báo cáo
tài chính, đây là những báo cáo mà các chuẩn mực quốc tế yêu cầu và hầu hết các nước

kế toán dồn tích chứ không phải là kết hợp với kế toán tiền mặt truyền thống.
- Cơ cấu kết hợp (bao gồm cả việc thanh tra và kiểm toán) cần phải được cải thiện
và thay đổi từ một cơ cấu nhấn mạnh sự phù hợp với các quy định của luật pháp và kiểm
toán sau sang một cơ cấu mà nhấn mạnh đến một khung pháp lý hiện đại để kiểm soát nội
bộ. Tái cơ cấu lại các tổ chức liên quan đến Kế toán Nhà nước để đạt được sự hợp tác
hiệu quả hơn và tìm kiếm nhân sự có kiến thức về kế toán cho từng đơn vị sử dụng ngân
sách trong lĩnh vực kế toán công. Cần phải thực hiện công tác đào tạo cho các cán bộ
trong lĩnh vực Kế toán Nhà nước và cho các nhà lãnh đạo và các quan chức cấp cao của
Chính phủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status