Vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích, lễ hội đền Trần, tỉnh Nam Định. - Pdf 33

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ÂL
KHCN và NVQG
NXB
UBND
VHTT
VHTT & DL
JICA
TP
TW
P

Âm lịch
Khoa học công nghệ và nhân văn quốc gia
Nhà xuất bản
Ủy ban nhân dân
Văn hóa thông tin
Văn hóa thể thao và du lịch
Japan International Cooperation Agency
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
Thành phố
Trung ương
Phường

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỔ
1


LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới GS.TS Ngô Đức
Thịnh – người thày đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản

Nguyễn Quỳnh Ngân

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

4


Với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước cùng 54 dân tộc anh em, Việt
Nam có một nền văn hóa phong phú, đa dạng, được đúc kết qua bao nhiêu thế hệ. Có thể
thấy cùng với quá trình phát triển kinh tế là những bước thăng trầm của văn hóa. Qua gần
ba mươi năm đổi mới đất nước đã có những bước phát triển đáng ghi nhận. Chúng ta
không chỉ đổi mới về kinh tế, xã hội mà còn đổi mới trong nhận thức và tư duy: Phát
triển kinh tế gắn bó hữu cơ với phát triển văn hóa – đó là định hướng của sự phát triển
bền vững.
Từ khi bước vào công cuộc Đổi mới năm 1986 nền văn hóa nước ta được phục hưng
trở lại: hàng loạt các lễ hội truyền thống được khôi phục. Hàng năm đều diễn ra các đợt
kiểm kê di tích và trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử, Cục Di sản văn hóa ra đời năm 2003
mà tiền thân là Cục (Vụ) Bảo tồn bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa thông tin từ những năm
1960 (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch),….đã làm cho nền văn hóa nước ta như
bước vào một trang mới, cả dân tộc khí thế bắt tay vào công cuộc cải cách kinh tế, xã hội.
Theo thống kê của Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch Việt Nam hiện nay có khoảng hơn
8000 lễ hội mỗi năm, trong đó chiếm 88% là lễ hội dân gian. Qua các quá trình lịch sử
cùng với các chính sách của Nhà nước, địa phương các lễ hội trải qua nhiều sự biến đổi.
Từ năm 2000 trở lại đây cứ đầu xuân năm mới những địa điểm như: hội Phủ Dầy
(Nam Định); đền Sòng (Thanh Hóa); chùa Hương (Hà Nội); đền Bà Chúa Kho (Bắc
Ninh),…hay bất kì đền chùa nào nổi tiếng bởi tính “thiêng” mà người ta đồn thổi nhau thì
nhân dân đều kéo nhau đến thắp hương, cầu tài lộc, công danh, … lễ hội đền Trần, tỉnh
Nam Định là một trong những lễ hội được phục dựng và thu hút đông đảo sự tham gia

quan chức, nhân dân mở đầu cho một năm lao động, làm việc mới) và tính thiêng của “lá
ấn” được đóng vào canh Tý đêm ngày 14 tháng giêng.
Qua đó có thể thấy di tích và lễ hội đền Trần, tp. Nam Định chứa đựng giá trị di sản
văn hóa lớn của một triều đại phong kiến Việt Nam. Do đó vấn đề bảo tồn và phát huy
giá trị di sản này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia, dân
tộc.
6


Mặt khác trong quá trình phục dựng lễ hội nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp dẫn đến
những giải thích và quan niệm sai lầm về một số ý nghĩa của lễ hội. Điều này làm cho lễ
hội đền Trần trở thành một vấn đề nóng bỏng của dư luận xã hội.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng hiện nay khuynh hướng “Nhà nước hóa lễ hội” đang
diễn ra sâu rộng trên cả nước. Điều này thể hiện ở chỗ người dân sở tại với tư cách là chủ
thể của lễ hội đang dần mất vai trò và có thể bị gạt ra ngoài lễ hội, trở thành những người
thụ động.Việc nhà nước can thiệp quá sâu làm cho lễ hội bị sân khấu hóa bởi các diễn
viên nghệ thuật chuyên nghiệp theo một kịch bản có sẵn do đạo diễn dàn dựng. Một số lễ
nghi trong lễ hội cũng bị nhà nước hóa khi có quá nhiều quan chức chính quyền các cấp
đến dự lễ và theo một kịch bản mang tính hành chính nhà nước. Khuynh hướng này đang
làm triệt tiêu tính sáng tạo của dân chúng, làm cho lễ hội mất đi tính hồn nhiên, sinh động
vốn có của một lễ hội dân gian1.
Quần chúng nhân dân là những đối tượng đã sáng tạo nên lịch sử và văn hóa vậy
có nên hay chăng trong công cuộc bảo vệ và phát huy những giá trị di sản văn hóa người
dân trở thành đối tượng thụ động, bị đặt ra ngoài lề công cuộc này.
Do đó cần đặt ra vấn đề phục dựng lễ hội để gìn giữ giá trị nguyên bản cho lễ hội
và trả lại vai trò chủ thể sáng tạo của lễ hội cho cộng đồng cư dân địa phương.
Từ những lý do trên, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Vai trò của cộng đồng
trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích và lễ hội đền Trần, tỉnh Nam Định”
làm luận văn tốt nghiệp hệ đào tạo thạc sĩ ngành Việt Nam học tại Viện Việt Nam học và
khoa học phát triển của chúng tôi sẽ góp phần vào việc bảo vệ di tích, cảnh quan, môi

Có thể kể đến như Alfey, J và Putnam, T 2 cũng như Ashworth, G.L và P.J
Larkham3 đã coi di sản như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di
sản tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic
2 The Industrial Heritage:Maganing Resources and User. Routedge, 1992
3 Building a New Heritage: Tourism, Culture and Identity in the New Europe.Routedge, 1994.
8


quản lý đặc biệt phù hợp với tính đặc thù của di sản. Các nhà nghiên cứu phương Tây lại
cho rằng không thể không đề cập tới phát triển du lịch trong vấn đề bảo vệ và phát huy di
sản như Boniface và Fowler4 Prentice5,....Họ cho rằng quản lý di sản và du lịch có thể
đem lại lợi ích cho cả du khách cùng cộng đồng sở hữu các di sản nếu du lịch được điều
hành một cách đúng hướng. Bên cạnh đó các tác giả cũng đặt việc quản lý di sản dưới
cách tiếp cận toàn cầu hóa. Ở đó các giá trị độc đáo của mỗi nền văn hóa cần được lưu
giữ, được hỗ trợ bởi Nhà nước trước những thách thức của sự đồng dạng về văn hóa như
Corner và Harvey, Boniface và Fowler6.
Ngoài ra các tác giả nước ngoài cũng quan tâm đến việc làm thế nào để lưu giữ
được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương pháp kĩ thuật mới như
Moore7 và Caulton8.Năm 2004 tổ chức JICA của Nhật Bản cùng với Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn có nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công Việt Nam.
2.2 Nhóm nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong nước

Những nhà nghiên cứu văn hóa như: GS.TS Nguyễn Văn Huyên, Phan Khanh,
GS.TS Ngô Đức Thịnh,GS.TSKH Lưu Trần Tiêu, GS. Vũ Khiêu, Cố GS. Trần Quốc
Vượng,.... là những tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn góp phần bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa nước ta.
Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, có nhiều công trình nghiên cứu
về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa như: Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.09
bao gồm Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long – Hà Nội do
PGS.TS Nguyễn Chí Bền chủ biên và Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể

(trường hợp Hội Gióng) là cuốn sách tập hợp các nghiên cứu trong Hội thảo về Hội
Gióng vào tháng 4 năm 2010 do Viện Văn hóa nghệ thuật tổ chức với quá trình nghiên
cứu và sưu tầm hội Gióng ở các địa phương và vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của lễ
hội này.
Hai tập Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam được GS. Nguyễn Văn Huyên
được biên soạn lại vào năm 1996 bao gồm những ghi chép của ông đã cho người đọc một
cái nhìn toàn cảnh về lễ hội truyền thống như Lễ hội Gióng, lễ hội thờ Phục Man ở Yên
Sở,…. cùng một số tục thờ dân gian cùng một số công trình kiến trúc tiêu biểu vào thế kỷ
XIX là những tư liệu vô cùng quý báu để sau này khi phục dựng lại chúng ta có một lớp
căn cứ cơ bản.
Bộ sách Một con đường tiếp cận di sản văn hóa Việt Nam do Bộ Văn hóa Thể thao
và Du lịch cùng với Cục Di sản văn hóa biên soạn từ 2005 – 2012 là tập hợp các công
trình nghiên cứu của nhiều tác giả trên các tạp chí Di sản văn hóa đã góp phần giải mã
một số hiện tượng văn hóa, tiếp cận di sản dưới nhiều góc độ khác nhau đã một phần hỗ
trợ cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc, nâng cao tầm
nhận thức của mỗi cá nhân.
2.3 Nghiên cứu về di tích và lễ hội đền Trần, tỉnh Nam Định
Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh,
sự phối hợp của các cơ quan trung ương, chính quyền địa hương. Sở VHTT & DL đã tổ
10


chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu, tọa đàm nhằm từng bước làm sáng
tỏ các giá trị lịch sử văn hóa của các di tích, lễ hội, danh nhân thời Trần tại Nam Định:
Ngày mùng 8,9/9/1995 Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nam Hà (nay là Nam Định) tổ
chức hội thảo khoa học Thời Trần và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trên quê
hương Nam Hà. Hội thảo có 36 tham luận của các nhà nghiên cứu trung ương đến các vụ,
viện nghiên cứu và địa phương Nam Định. Hội thảo đã có những tham luận nhằm đánh
giá vai trò, vị thế của vương triều Trần trong các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn
hóa xã hội. Đặc biệt hội thảo đi sâu nghiên cứu nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp, công

Trần triều.
Tác phẩm “Di tích lịch sử văn hóa đền Trần – chùa Tháp tỉnh Nam Định” của tác
giả Trịnh Thị Nga như một cuốn cẩm nag cho du khách khi hành hương tới đền Trần –
chùa Tháp với cái nhìn tổng quan và bao quát nhất về di tích và lễ hội. Hay luận văn
“Khu di tích lịch sử văn hóa đền Trần, tỉnh Nam Định” của thạc sỹ Vũ Đại An năm
2008 là những công trình đã khảo tả một cách chi tiết các công trình kiến trúc và lễ hội
đền Trần.
Ngoài ra còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhằm tôn vinh giá trị
văn hóa, lịch sử của di tích và lễ hội đền Trần.
Có thể thấy các công trình nghiên cứu về quần thể di tích đền Trần rất phong phú
nên đã góp phần mô tả cũng như phác họa rất rõ nét các lễ hội và di tích ở tỉnh Nam
Định nói chung và lễ hội đền Trần nói riêng. Qua đó thể hiện màu sắc và giá trị độc đáo
của văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đương đại.
Tuy nhiên trong những năm gần đây (từ năm 2006 – 2011) với sự phát triển ngày
càng rộng về quy mô của lễ hội đền Trần đã diễn ra thực trạng người dân chen lấn, xô
đẩy nhau để tranh giành lá ấn trong đêm 14 tháng giêng. Do đó lễ hội khai ấn đền Trần
trở thành một trong những điểm nóng về dư luận khi xuất hiện nhiều bài viết trên các
báo như “Hậu duệ nhà Trần: Lá ấn bị hiểu sai” (Báo Tiền Phong), “Trẩy hội đền Trần
và khát vọng xin ấn” (Phạm Thu Hà - Tạp chí Người cao tuổi).
12


Trước thực trạng đó báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ “Lễ hội và các giải
pháp quản lí lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định” (Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định - Sở
văn hóa thông tin và du lịch tỉnh Nam Định) năm 2007 và hội thảo Ủy ban nhân dân tỉnh
Nam Định đã kết hợp cùng Bộ Văn hoá thể thao và du lịch cùng Viện văn hóa nghệ thuật
tổ chức hội thảo “Lễ khai ấn đầu xuân tại đền Trần Nam Định, giá trị và giải pháp bảo
tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc” (năm 2009) nhằm đưa ra giải pháp để bảo
tồn các giá trị truyền thống vốn có của lễ hội đền Trần. Có thể nhận thấy rằng báo cáo
tổng hợp đề tài cũng như như những hội thảo trên chỉ đề cập tới vấn đề quản lý lễ hội,

Mặc, cộng đồng cư dân tại phường Lộc Vượng và cộng đồng cư dân tại tp. Nam Định.
5. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Khu di tích lịch sử văn hóa đền Trần với trọng tâm là ba ngôi đền
chính: đền Cố Trạch – đền Thiên Trường – đền Trùng Hoa tại làng Tức Mặc, phường
Lộc Vượng, tỉnh Nam Định.
Phạm vi thời gian: Số liệu và tài liệu thu thập được từ năm 2001 đến năm 2015.
6. Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành đề tài nghiên cứu: “Vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo tồn và
phát huy giá trị di tích, lễ hội đền Trần, tỉnh nam Định” chúng tôi tiến hành các phương
pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu; phương pháp điều tra
định lượng, định tính; phương pháp hồi cố, phương pháp quan sát và phương pháp liên
ngành để tiến hành thu thập thông tin, số liệu, hình ảnh nhằm phục vụ cho quá trình
nghiên cứu của luận văn
6.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu: Đối với các nghiên cứu trong
nước và quốc tế thu thập tư liệu trên cơ sở các sách, bài báo chuyên khảo đã được công
bố tự đó phân loại, hệ thống và hình thành hệ thống thư mục các tài liệu quan trọng nhất
trên cơ sở áp dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu để thấy được các đặc điểm chung
14


cũng như các đặc trưng riêng hiện trạng di tích, của cộng đồng xã hội dẫn đến nghiên cứu
vai trò của cộng đồng đối với quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp thu thập thông tin
thực địa cơ bản của đề tài. Phiếu trưng cầu ý kiến xây dựng dựa trên cơ sở của nội dung
nghiên cứu để thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu.
6.3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này được sử dụng nhằm bổ sung
thêm thông tin định tính cho điều tra định lượng. Các vấn đề không trực tiếp thu nhận
được trong phiếu trưng cầu ý kiến được chúng tôi đưa vào nội dung của các cuộc phỏng

Chương 3: Sự tham gia của cộng đồng trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích,
lễ hội đền Trần.

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
16


1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Là một tỉnh nằm trong đồng bằng châu thổ sông Hồng, Nam Định là vùng đất có lịch
sử hình thành lâu đời. Nơi đây cũng chứa đựng những di sản văn hóa độc đáo mà tới nay
vẫn còn lưu giữ được, đó là đền Trần, chùa Phổ Minh, Phủ Dầy, chùa Cổ Lễ, nhà thờ Bùi
Chu,.... Theo thống kê hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 1655 di tích lịch sử văn hóa 9, có
hai tôn giáo lớn là đạo Thiên Chúa và đạo Phật. Có hơn 700 ngôi chùa và hơn 400 nhà
thờ đạo Thiên Chúa. Nam Định còn có hàng trăm lễ hội truyền thống, trong đó có lễ hội
mang tính quốc gia và vùng miền rộng lớn như lễ hội đền Trần, lễ hội Phủ Dầy.
Dân gian ta có câu: “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”. Ý thức về Cha chính là
Đức Thánh Trần, Mẹ chính là Mẫu Liễu Hạnh. Vì thế hàng năm vào các dịp lễ hội tháng
Ba, tháng Tám du khách thập phương nô nức kéo nhau về tham dự lễ hội.
Khu di tích đền Trần – chùa Tháp với những giá trị văn hóa, lịch sử tiêu biểu đã được
công nhận là di tích cấp quốc gia đặc biệt của tỉnh Nam Định, đã và đang thu hút được sự
tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân. Hành cung Thiên Trường xưa với vị thế là
kinh đô thứ hai sau kinh thành Thăng Long chiếm một vị trí quan trọng đối với triều Trần
dưới thế kỉ XIII - XIV. Sau một thời gian dài do điều kiện chiến tranh và thiên tai hành
cung Thiên Trường xưa không còn nữa. Hiện nay khu cung điện được dựng trên nền cũ
tại làng Tức Mặc, phường Lộc Vượng, tp. Nam Định, có tên là khu di tích đền Trần. Khu
di tích đền Trần bao gồm đền Thiên Trường (còn gọi là đền Thượng), đền Cố Trạch (còn
gọi là đền Hạ) và đền Trùng Hoa. Xung quanh di tích còn có các địa danh lưu lại dấu ấn

lễ hội đền Trần. Vấn đề nghiên cứu của chúng tôi dựa trên một số khái niệm và lý thuyết
nghiên cứu như sau.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1.
Khái niệm vai trò cộng đồng
a. Khái niệm “Vai trò”

Vai trò là việc triển khai thực hiện các chức năng những điều kiện kinh tế xã hội văn
hoá mang tính lịch sử xã hội cụ thể bằng việc tổ chức các hoạt động xã hội để giải quyết
những vấn đề nào đó mang lại những lợi ích mà xã hội mong đợi.
18


b. Khái niệm và lý thuyết “cộng đồng”

Trong đời sống xã hội, khái niệm “cộng đồng” được sử dụng một cách tương đối rộng
rãi để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô, đặc tính
xã hội.
Theo nghĩa rộng thì “cộng đồng” là nói đến những khối tập hợp người, các liên minh
rộng lớn như cộng đồng thế giới, cộng đồng Châu Âu, cộng đồng các nước Asean...
Theo nghĩa hẹp hơn thì “cộng đồng” được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia
đình, làng, hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính chung về lý tưởng xã hội, giới,
tuổi, nghề nghiệp, thân phận xã hội.
“Cộng đồng” theo quan niệm Mác-xít là mối liên hệ qua lại giữa các cá nhân được
quyết định bởi sự cộng đồng các loại lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các
điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm
các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về tư
tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị, chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đương về điều kiện sống
cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động.

mua bán, tương trợ về nông sản, liên quan tới hoạt động thủy nông của một làng hay liên
làng, các quan hệ biếu xén, quà cáp, các mạng lưới liên quan tới nghi lễ, hội hè, tang lễ,
cưới xin, mạng lưới liên quan đến các nhóm người đồng niên, đồng khóa... Một loại
mạng lưới xã hội khác mang tính chính thống (quan phương), như quan hệ quyền lực
(chính quyền, đảng phái), các tổ chức đoàn thể, hội đoàn... Hai hoạt động mạng lưới xã
hội mang tính chính thống và phi chính thống này thường xuyên xen trộn, hòa quyện,
tương tác, thậm chí xung đột nhau10
Có thể kết luận vai trò của cộng đồng là một quá trình mà trong đó người dân, tổ
chức xã hội, đoàn thể, chính quyền địa phương nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến
hành các hoạt động nhằm đáp ứng những mong đợi của xã hội.
10

Ngô Đức Thịnh, Tiếp cận nông thôn Việt Nam từ mạng lưới xã hội và vốn xã hội cho phát triển trên tapchicongsan.org.

20


Vai trò của cộng đồng không chỉ đơn giản là huy động nguồn lực cho xã hội mà
yếu tố quan trọng nhất là phải đảm bảo cho những người chịu ảnh hưởng được tham gia
vào các quyết định của cộng đồng.
Như vậy theo hai khái niệm trên có thể thấy ngay từ thuở Trần sơ, dòng họ Trần
với nguồn gốc từ những người dân làng chài chuyên đánh bắt cá để mưu sinh, sau này
làm ăn giàu có nên đã có những vị trí nhất định trong triều Lý, giúp nhà Lý dẹp loạn, khôi
phục triều chính. Từ đó từ nhà Lý được chuyển giao sang triều Trần trong hòa bình mà
vẫn thu phục được lòng dân, làm nên thắng lợi của quân dân Đại Việt trong ba lần kháng
chiến chống Nguyên Mông cùng sự thịnh trị của chế độ phong kiến dưới vương triều
Trần.
Với tinh thần cố kết cộng đồng dòng tộc, họ Trần luôn phát huy tinh thần yêu
nước, chống giặc ngoại xâm và đồng lòng tri ân với các bậc tiên tổ. Ngày nay dòng họ
Trần tại làng Tức Mặc, phường Lộc Vượng nói riêng và cộng đồng địa phương tại tp.

ứng đời sống (đặc biệt trong xu thế đô thị hoá hiện nay).
Trong Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh
ban hành ngày 4/4/1984, di tích lịch sử văn hoá được quy định như sau: Di tích lịch sử
văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá
trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác, hoặc liên quan đến
các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá xã hội.
Những quy định trên đây có thể hiểu đó là nội dung rộng bao gồm cả di tích lịch sử
văn hoá, các hiện vật bảo tàng, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Chính vì vậy, sau này
trong nội dung của văn bản luật di sản, những khái niệm đã được bóc tách riêng biệt cho
di tích, di vật cụ thể hơn và sát thực hơn và trong Luật Di sản văn hóa ban hành năm
2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 di tích lịch sử văn hóa được định nghĩa là công trình
xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
b. Khái niệm “Bảo tồn di tích”

Theo điều 4 chương I của Luật di sản: Bảo quản di tích lịch sử văn hóa, danh lam
thắng cảnh, cổ vật, bảo vật quốc gia là những hoạt động khoa học nhằm phòng ngừa và
hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc
vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, cổ vật, bảo vật quốc gia đó.
22


Bảo tồn mang nghĩa rộng hơn, là “hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại,
sự xuống cấp hoặc phá hoại” hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết cấu một
địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu đó.
c. Khái niệm “phát huy giá trị di tích”

Theo điều 9 chương I của Luật Di sản:
1. Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản nhằm nâng cao đời sống tinh


nước ta một cách tự nhiên.
Di tích lịch sử văn hoá là một bộ phận của di sản văn hoá dân tộc được biểu hiện ở
dạng vật thể. Chúng được tạo ra trong suốt những thời kỳ lịch sử dân tộc, nó khẳng định
sự sáng tạo của văn hoá dân tộc, ở chúng là những thông tin quan trọng: thông tin các giá
trị tiêu biểu về khảo cổ học; về những sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước,
giữ nước; những thông tin về những sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng,
kháng chiến; những thông tin về thân thế sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, danh nhân
văn hoá của đất nước, những đóng góp của danh nhân trong lịch sử phát triển đất nước,
dân tộc; những thông tin về giá trị (phong cách) mỹ thuật truyền thống thông qua các
công trình kiến trúc hoặc tổng thể công trình của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử; những
thông tin về những nơi, địa điểm danh lam thắng cảnh có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu, đ ồng
thời qua đó (địa chất, địa mạo, đa dạng, sinh học) cung cấp những thông tin nghiên cứu
khoa học về các lĩnh vực nêu trên.
Như vậy có thể thấy bảo tồn và phát huy là hai mặt hoạt động, phải có sự tương hỗ
với nhau. Có thể hiểu bảo tồn là để phát huy giá trị và cũng nhằm tạo khả năng tăng
trưởng kinh tế nhanh sẽ có điều kiện vật chất và kĩ thuật tốt để bảo tồn di sản văn hóa tốt
hơn. Vấn đề quan trọng là cần tạo sự cân bằng hợp lý giữa bảo tồn và phát huy các giá trị.
1.2.1.3.

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường và
toàn cầu hóa.

Văn hóa Việt Nam hình thành và phát triển trong khu vực Đông Nam Á với cơ tầng
văn hóa gần gũi với phương Nam. Trong quá trình phát triển văn hóa Việt giao lưu và
tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của những nền văn hóa lớn trên thế giới như Trung
24


Hoa, Ấn Độ, phương Tây, Đông Âu,…Bởi vậy dân tộc ta đã tích lũy được kho tàng di
sản văn hóa phong phú và đa dạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status