Vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích và lễ hội đền Trần, tỉnh Nam Định - Pdf 50

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong bản luận văn này hoàn toàn trung
thực. các số liệu và kết quả công bố trong luận văn là công trình nghiên cứu nghiêm
túc của tôi. Nếu có gì sai phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước đơn vị đào
tạo và pháp luật.
Hà Nội, ngày…. tháng… năm 2015
Học viên

Nguyễn Quỳnh Ngân

1


LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới GS.TS Ngô
Đức Thịnh – người thày đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi những kiến thức
cơ bản cũng như những đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành bản luận văn
này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các thày cô, các cán bộ Viện Việt
Nam học và khoa học phát triển, Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiến tốt
nhất cho tôi có thể tham gia học tập và hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp thạc sỹ.
Tôi xin gửi lời tới các cụ cao niên trong làng Tức Mặc cùng các đồng chí
lãnh đạo của Ủy ban nhân dân phường Lộc Vượng, tp. Nam Định và Ban quản lý
khu di tích đền Trần – chùa Tháp, tp. Nam Định. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn
bà Trịnh Thị Nga – cán bộ tổ nghiên cứu sưu tầm Ban quản lý khu di tích đền Trần
– chùa Tháp, tp. Nam Định đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú và trả lời nhiều
cuộc phỏng vấn trong suốt quá trình thực tế tại địa phương.
Sau hết, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bàn bè tôi – những người luôn
quan tâm, chia sẻ, động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, ngày…. tháng… năm 2015
Học viên


TP
TW
P

Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
Thành phố
Trung ương
Phường


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỔ
Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

5


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước cùng 54 dân tộc anh em,
Việt Nam có một nền văn hóa phong phú, đa dạng, được đúc kết qua bao nhiêu thế
hệ. Có thể thấy cùng với quá trình phát triển kinh tế là những bước thăng trầm của
văn hóa. Qua gần ba mươi năm đổi mới đất nước đã có những bước phát triển đáng
ghi nhận. Chúng ta không chỉ đổi mới về kinh tế, xã hội mà còn đổi mới trong nhận
thức và tư duy: Phát triển kinh tế gắn bó hữu cơ với phát triển văn hóa – đó là định
hướng của sự phát triển bền vững.
Từ khi bước vào công cuộc Đổi mới năm 1986 nền văn hóa nước ta được

Nam Định. Nhận thấy được giá trị khoa học và lịch sử lớn của triều Trần, ngày
27/9/2012, khu di tích lịch sử văn hóa đền Trần – chùa Tháp được công nhận là di
tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng chính phủ kí quyết định. Ngày 19/12/2014, lễ
hội đền Trần được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Lễ hội đền Trần bao gồm hai lễ hội lớn trong năm là lễ khai ấn tổ chức vào
đêm 14 rạng ngày 15 tháng giêng và lễ hội tháng Tám nhân ngày kỵ Đức Thánh
Trần diễn ra từ ngày mùng 1 đến ngày 20 tháng tám âm lịch hàng năm.
Đặc biệt lễ khai ấn được tổ chức vào đêm 14 rạng ngày 15 tháng giêng hàng
năm là một trong những lễ hội lớn của tỉnh, trong khoảng hơn mười năm trở lại đây
đã vượt ra khỏi phạm vi hương thôn Tức Mặc, trở thành một lễ hội của quốc gia, thu
hút được hàng vạn du khách trên khắp mọi miền đất nước. Trải qua từng thời kì lễ
khai ấn tại đền Trần Nam Định đã có những giai đoạn phát triển khác nhau. Từ một
nghi lễ cung đình của vua quan triều Trần trở thành một nghi lễ lưu truyền trong
dòng họ Trần được tổ chức bởi các vị cao niên trong làng và đến nay tục lệ này
được Nhà nước hóa. Vì vậy lễ khai ấn được diễn ra tại một không gian thiêng (quần
thể di tích văn hóa Trần – hành cung Thiên Trường xưa), vào thời gian thiêng (canh
Tý đêm ngày 14 tháng giêng – thời gian mà các quan chức, nhân dân mở đầu cho
một năm lao động, làm việc mới) và tính thiêng của “lá ấn” được đóng vào canh Tý
đêm ngày 14 tháng giêng.
Qua đó có thể thấy di tích và lễ hội đền Trần, tp. Nam Định chứa đựng giá trị
di sản văn hóa lớn của một triều đại phong kiến Việt Nam. Do đó vấn đề bảo tồn và
phát huy giá trị di sản này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của
quốc gia, dân tộc.
7


Mặt khác trong quá trình phục dựng lễ hội nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp
dẫn đến những giải thích và quan niệm sai lầm về một số ý nghĩa của lễ hội. Điều
này làm cho lễ hội đền Trần trở thành một vấn đề nóng bỏng của dư luận xã hội.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng hiện nay khuynh hướng “Nhà nước hóa lễ

Di sản văn hóa luôn được xác định là tài sản vô giá của mỗi dân tộc, mỗi địa
phương và mỗi quốc gia, và cả nhân loại, là bằng chứng sinh động, xác thực, cụ thể
nhất về đặc điểm văn hóa của từng cộng đồng, địa phương, dân tộc. Bảo tồn và phát
huy di sản văn hóa vừa nhằm mục đích giữ gìn những tinh hoa văn hóa truyền
thống, vừa kế thừa và khai thác giá trị của di sản phục vụ cho quá trình xây dựng
kinh tế - xã hội của đất nước.
Đặc biệt trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay văn
hóa dân tộc nói chung và di sản văn hóa nói riêng đã và đang phải đối mặt với nhiều
thời cơ và thách thức lớn. Nhằm thực hiện mục tiêu “xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã có không ít công trình nghiên cứu về bảo
tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của các học giả trong và ngoài nước.
2.1 Nhóm nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nước ngoài

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là một đề tài nghiên cứu luôn thu
hút được sự quan tâm đông đảo của các học giả. Ở mỗi quốc gia có một sự hình
thành và phát triển văn hóa khác nhau nên chính phủ lại có một phương pháp, cách
tiếp cận vấn đề bảo tồn và phát huy di sản riêng biệt và có những bài học kinh
nghiệm sâu sắc.
Trên phương diện pháp lý, UNESCO đã có Công ước về bảo vệ di sản văn
hóa và thiên nhiên thế giới (năm 1972) sau quá trình thực hiện bảo vệ di sản văn
hóa từ những năm 45 của thập niên 90.
Có thể kể đến như Alfey, J và Putnam, T 2 cũng như Ashworth, G.L và P.J
Larkham3 đã coi di sản như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản
lý di sản tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với
những logic quản lý đặc biệt phù hợp với tính đặc thù của di sản. Các nhà nghiên
cứu phương Tây lại cho rằng không thể không đề cập tới phát triển du lịch trong
vấn đề bảo vệ và phát huy di sản như Boniface và Fowler 4 Prentice5,....Họ cho rằng
2 The Industrial Heritage:Maganing Resources and User. Routedge, 1992
3 Building a New Heritage: Tourism, Culture and Identity in the New Europe.Routedge, 1994.
4 Heritage and Tourism in the global village. Routedge, 1993

giá trị di sản văn hóa của các quốc gia trên thế giới và bài học rút ra cho chúng ta.
Nghiên cứu về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa còn một số
công trình khác như Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam
6 Entersprise and Heritage:Crosscurents of National Culture, Routedge, 1991
7 Museum Management. Routedge, 1997
8 Hands on Exhibitions. Routedge, 1998.

10


đương đại (trường hợp Hội Gióng) là cuốn sách tập hợp các nghiên cứu trong Hội
thảo về Hội Gióng vào tháng 4 năm 2010 do Viện Văn hóa nghệ thuật tổ chức với
quá trình nghiên cứu và sưu tầm hội Gióng ở các địa phương và vấn đề bảo tồn và
phát huy giá trị của lễ hội này.
Hai tập Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam được GS. Nguyễn Văn
Huyên được biên soạn lại vào năm 1996 bao gồm những ghi chép của ông đã cho
người đọc một cái nhìn toàn cảnh về lễ hội truyền thống như Lễ hội Gióng, lễ hội
thờ Phục Man ở Yên Sở,…. cùng một số tục thờ dân gian cùng một số công trình
kiến trúc tiêu biểu vào thế kỷ XIX là những tư liệu vô cùng quý báu để sau này khi
phục dựng lại chúng ta có một lớp căn cứ cơ bản.
Bộ sách Một con đường tiếp cận di sản văn hóa Việt Nam do Bộ Văn hóa
Thể thao và Du lịch cùng với Cục Di sản văn hóa biên soạn từ 2005 – 2012 là tập
hợp các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trên các tạp chí Di sản văn hóa đã
góp phần giải mã một số hiện tượng văn hóa, tiếp cận di sản dưới nhiều góc độ khác
nhau đã một phần hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa
dân tộc, nâng cao tầm nhận thức của mỗi cá nhân.
2.3 Nghiên cứu về di tích và lễ hội đền Trần, tỉnh Nam Định
Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND,
UBND tỉnh, sự phối hợp của các cơ quan trung ương, chính quyền địa hương. Sở
VHTT & DL đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu, tọa đàm

Việt Nam tổ chức cuộc hội thảo Mô hình quản lý và tổ chức lễ hội đền Trần, Nam
Định. Từ khi thực hiện đề án được đề ra trong cuộc hội thảo này đến nay lễ khai ấn
đã được tổ chức trang trọng, đảm bảo nghi thức truyền thống, đặc biệt là công tác an
ninh trật tự đảm đảo, việc chuẩn bị và phát ấn được chuẩn bị chu đáo, đáp ứng được
nhu cầu của đông đảo du khách, không còn hiện tượng chen lấn, xô đẩy như trước.
Là một nhà nghiên cứu rất tâm huyết với triều Trần bởi vậy tác giả Hồ Đức
Thọ có rất nhiều tác phẩm như: Vương phi, công chúa triều Trần; Trần miếu – Di
sản văn hóa, Trần triều Hưng Đạo Đại vương trong tâm thức người Việt...viết về
công trình kiến trúc của di tích và những vị vua anh minh, những vị danh tướng,
hoàng hậu, công chúa của Trần triều.
Tác phẩm “Di tích lịch sử văn hóa đền Trần – chùa Tháp tỉnh Nam Định” của
tác giả Trịnh Thị Nga như một cuốn cẩm nag cho du khách khi hành hương tới đền
Trần – chùa Tháp với cái nhìn tổng quan và bao quát nhất về di tích và lễ hội. Hay

12


luận văn “Khu di tích lịch sử văn hóa đền Trần, tỉnh Nam Định” của thạc sỹ Vũ Đại
An năm 2008 là những công trình đã khảo tả một cách chi tiết các công trình kiến
trúc và lễ hội đền Trần.
Ngoài ra còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhằm tôn vinh giá
trị văn hóa, lịch sử của di tích và lễ hội đền Trần.
Có thể thấy các công trình nghiên cứu về quần thể di tích đền Trần rất phong
phú nên đã góp phần mô tả cũng như phác họa rất rõ nét các lễ hội và di tích ở tỉnh
Nam Định nói chung và lễ hội đền Trần nói riêng. Qua đó thể hiện màu sắc và giá
trị độc đáo của văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đương đại.
Tuy nhiên trong những năm gần đây (từ năm 2006 – 2011) với sự phát triển
ngày càng rộng về quy mô của lễ hội đền Trần đã diễn ra thực trạng người dân chen
lấn, xô đẩy nhau để tranh giành lá ấn trong đêm 14 tháng giêng. Do đó lễ hội khai
ấn đền Trần trở thành một trong những điểm nóng về dư luận khi xuất hiện nhiều

Thể hiện tầm quan trọng của vai trò nhận thức, tìm hiểu về di sản văn hóa,
tuyên truyền, giáo dục cho thế hệ trẻ để làm đưa nó trở thành biện pháp chính trong
việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Qua đó đề xuất một số giải pháp trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa đền Trần, tp. Nam Định nhằm đưa di sản văn hóa này ngày càng thu hút đông
đảo quần chúng, trở thành những giá trị văn hóa tốt đẹp, đưa tín ngưỡng Đức Thánh
Trần trở thành niềm tin tâm linh sâu sắc trong tiềm thức người dân Việt.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: vai trò của cộng đồng nhân dân trong quá trình bảo
tồn và phát huy giá trị di tích và lễ hội đền Trần.
Khách thể nghiên cứu: cộng đồng nhân dân trong bao gồm cộng đồng làng
Tức Mặc, cộng đồng cư dân tại phường Lộc Vượng và cộng đồng cư dân tại tp.
Nam Định.
5. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Khu di tích lịch sử văn hóa đền Trần với trọng tâm là ba
ngôi đền chính: đền Cố Trạch – đền Thiên Trường – đền Trùng Hoa tại làng Tức
Mặc, phường Lộc Vượng, tỉnh Nam Định.
Phạm vi thời gian: Số liệu và tài liệu thu thập được từ năm 2001 đến năm 2015.
6. Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành đề tài nghiên cứu: “Vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo
tồn và phát huy giá trị di tích, lễ hội đền Trần, tỉnh nam Định” chúng tôi tiến hành
14


các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu;
phương pháp điều tra định lượng, định tính; phương pháp hồi cố, phương pháp quan
sát và phương pháp liên ngành để tiến hành thu thập thông tin, số liệu, hình ảnh
nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu có được chúng tôi mong muốn cung cấp
được một số thông tin cơ bản hữu ích và cần thiết về thực trạng quá trình bảo tồn và
phát huy di sản văn hóa đền Trần, tỉnh Nam Định (bao gồm di sản văn hóa vật thể
và văn hóa phi vật thể) cũng như tìm hiểu về nhận thức, vai trò của cộng đồng đối
với việc bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa đền Trần.
Từ đó có những tác động tới người dân để họ ngày càng tham gia vào hoạt
động bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích, lễ hội đền Trần nói riêng và các di
sản trên cả nước nói chung. Làm cho chính sách xã hội hóa công tác bảo tồn, trùng
tu và phát huy giá trị di tích ngày càng hiệu quả và hữu ích trong quá trình phát triển
của tỉnh Nam Định.
8. Cấu trúc luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Chương 2: Thực trạng quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích, lễ hội đền Trần.
Chương 3: Sự tham gia của cộng đồng trong quá trình bảo tồn và phát huy
giá trị di tích, lễ hội đền Trần.

16


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Là một tỉnh nằm trong đồng bằng châu thổ sông Hồng, Nam Định là vùng đất
có lịch sử hình thành lâu đời. Nơi đây cũng chứa đựng những di sản văn hóa độc
đáo mà tới nay vẫn còn lưu giữ được, đó là đền Trần, chùa Phổ Minh, Phủ Dầy,
chùa Cổ Lễ, nhà thờ Bùi Chu,.... Theo thống kê hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có
1655 di tích lịch sử văn hóa9, có hai tôn giáo lớn là đạo Thiên Chúa và đạo Phật. Có

đã được Nhà nước hóa, vượt qua khỏi tính chất của một địa phương, thu hút đông
đảo sự tham gia của quần chúng nhân dân trong, ngoài tỉnh cùng các vị lãnh đạo cấp
cao của Nhà nước. Trong khoảng mười năm trở lại đây, lễ hội khai ấn đã trở thành
điểm nóng của dư luận. Khi gõ từ khóa “lễ khai ấn” trên Google có thể thấy xuất
hiện hàng loạt các bài viết nói về lễ hội này: “Cướp lộc ấn đền Trần, Trèo lên bàn
thờ cướp lộc thì đi lễ để làm gì ?....”. Ngay trước giờ khai ấn đền Trần những năm
trước đây khi trực tiếp quan sát lễ hội tôi chứng kiến cảnh người dân giẫm đạp lên
nhau để ném tiền lên kiệu rước từ đền Cố Trạch sang đền Thiên Trường, cảnh người
dân vượt qua các hàng rào để được vào tham dự lễ khai ấn hay có những người dân
sau một hồi chen chúc vào đền thì ngất đi vì mệt lả,... Nếu như lễ hội là nơi con
người tìm cho mình một chốn giao hòa với thần linh, cầu mong những điều tốt đẹp
cho cuộc sống thì bước vào lễ hội này do sự nhận thức sai lệch, đôi khi là sự mê tín
dị đoan họ đã tự đưa mình đến với những cảnh tượng tiêu cực, gây ấn tượng xấu
cho một lễ hội mang tính quốc gia.
Trước thực trạng di tích và lễ hội những năm vừa qua có quá nhiều tiêu cực,
trong tâm tư chúng tôi thôi thúc đi tìm lời giải đáp cho vấn đề nhận thức của cộng
đồng về một di sản văn hóa và vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo tồn và phát
huy giá trị di tích và lễ hội đền Trần. Vấn đề nghiên cứu của chúng tôi dựa trên một
số khái niệm và lý thuyết nghiên cứu như sau.
1.2. Một số khái niệm và hướng tiếp cận lý thuyết nghiên cứu
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1.
Khái niệm vai trò cộng đồng
a. Khái niệm “Vai trò”

Vai trò là việc triển khai thực hiện các chức năng những điều kiện kinh tế xã
hội văn hoá mang tính lịch sử xã hội cụ thể bằng việc tổ chức các hoạt động xã hội
để giải quyết những vấn đề nào đó mang lại những lợi ích mà xã hội mong đợi.

18

dạng liên kết mang tính sinh học, huyết thống, liên kết trên cơ sở cùng cư trú và lợi
ích, còn làng xã là dạng liên kết dựa trên cơ sở cùng cư trú và lợi ích. Do vậy, gia
đình, dòng họ và làng xã là ba dạng liên kết đặc trưng cho xã hội nông nghiệp, nông
19


thôn, hình thành từ lâu đời ngay trong lòng xã hội nguyên thủy, tồn tại trong các
hình thái xã hội có giai cấp tiền công nghiệp và chừng mực nào đó trong xã hội
công nghiệp và hậu công nghiệp.
Từ ba dạng liên kết, ba hình thức tổ chức xã hội nông thôn cơ bản nêu trên
tạo nên các mạng lưới xã hội (social network) khá đa dạng của nông thôn. Mạng
lưới xã hội được hiểu như là mối liên hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội khác
nhau trong một thực thể xã hội nhất định, dù đó là chính thống hay phi chính thống,
thường xuyên hay bất thường. Các mạng lưới xã hội "chuyên chở" các mối quan hệ
qua lại về kinh tế, xã hội và văn hóa giữa các cá nhân hay nhóm xã hội, bảo đảm
tính liên thông, cân bằng, ổn định, gắn kết của một thực thể xã hội. Mạng lưới xã
hội này thường liên quan tới tính xã hội, gắn kết xã hội và vốn xã hội”. Thể chế xã
hội có ảnh hưởng quan trọng đối với sự hình thành các mạng xã hội. Trong một thực
thể xã hội nhất định, luôn luôn có sự hiện diện của hai hoạt động mạng lưới xã hội.
Một loại mang tính phi chính thống (phi quan phương). Thí dụ trong nông thôn
Việt Nam cổ truyền các mạng lưới liên quan tới việc mua bán, tương trợ về nông
sản, liên quan tới hoạt động thủy nông của một làng hay liên làng, các quan hệ biếu
xén, quà cáp, các mạng lưới liên quan tới nghi lễ, hội hè, tang lễ, cưới xin, mạng
lưới liên quan đến các nhóm người đồng niên, đồng khóa... Một loại mạng lưới xã
hội khác mang tính chính thống (quan phương), như quan hệ quyền lực (chính
quyền, đảng phái), các tổ chức đoàn thể, hội đoàn... Hai hoạt động mạng lưới xã hội
mang tính chính thống và phi chính thống này thường xuyên xen trộn, hòa quyện,
tương tác, thậm chí xung đột nhau10
Có thể kết luận vai trò của cộng đồng là một quá trình mà trong đó người
dân, tổ chức xã hội, đoàn thể, chính quyền địa phương nhận một số trách nhiệm cụ

đã nêu ra một số định nghĩa (khái niệm) về di tích lịch sử văn hoá cách mạng.
Chúng tôi tập hợp giới thiệu một số khái niệm cơ bản nhất để tham khảo và vận
dụng:
-

Khái niệm di tích nêu trong Hiến chương Venice (Hiến chương Quốc tế về
bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ 1964). Trong điều 1 của bản Hiến
chương: Khái niệm di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc
mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng,
một phát triển có ý nghĩa, hoặc một sự kiện lịch sử. Khái niệm này không chỉ áp
dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả đối với những công trình khiêm
tốn hơn vốn đã cùng với thời gian thâu nạp được một ý nghĩa văn hoá.
Khái niệm nêu ra trên đây chúng ta nhận thấy chủ yếu tập trung vào các
công trình kiến trúc, hoặc tổng thể công trình kiến trúc lớn (đô thị) ngoài ra còn đề

21


cập đến các công trình khiêm tốn hơn, nhưng cùng với thời gian khi đã thâu nạp
được ý nghĩa văn hoá cũng trở thành di tích. Trường hợp như những công trình
kiến trúc nhà ở dân gian, có một thời kỳ nào đó trong lịch sử phát triển loại hình
kiến trúc này rất phổ biến nhưng sau đó do đời sống kinh tế, văn hoá phát triển,
người dân đã phá đi cải tạo để xây mới đáp ứng đời sống (đặc biệt trong xu thế đô
thị hoá hiện nay).
Trong Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng
cảnh ban hành ngày 4/4/1984, di tích lịch sử văn hoá được quy định như sau: Di
tích lịch sử văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các
tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác,
hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá xã hội.
Những quy định trên đây có thể hiểu đó là nội dung rộng bao gồm cả di tích

3. Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứng
dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Phát huy giá trị di tích có nghĩa là tập trung sự chú ý của công chúng một
cách tích cực tới các giá trị của di tích làm cho đông đảo người biết đến giá trị của
di tích bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua một hình thức nào đó. Cũng
phải nhận thấy rằng quá trình phổ biến những thông tin về giá trị di tích đến với
công chúng có thể diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau.
Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa ở đây có thể hiểu là truyền đạt những
giá trị mang tính tích cực, có ích cho thời đại, sử dụng có hiệu quả các giá trị vốn có
của di tích vào việc giáo dục truyền thông lịch sử văn hóa thẩm mỹ, khoa học. Đồng
thời trên cơ sở đó tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng, nâng cao ý thức trách
nhiệm bảo vệ di sản văn hóa của cộng đồng.
Mỗi di tích lịch sử văn hóa thường gắn với một địa danh nhất định và địa
điểm đó cũng thường xuyên diễn ra lễ hội gắn với di tích đó. Hoạt động bảo tồn
không chỉ diễn ra với di tích lịch sử văn hóa mà còn là bảo lưu những giá trị lễ hội.
Giá trị văn hóa của lễ hội được coi là những di sản văn hóa phi vật thể.
d. Mối quan hệ của bảo tồn và phát huy giá trị của di tích

Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển ngang bằng các nước trong khu vực và thế
giới giao lưu và hội nhập toàn cầu về mọi mặt là một chủ chương đúng và là con
đường ngắn nhất. Xong một thực tế lại đặt ra với những giá trị văn hoá truyền thống
và bản sắc văn hoá dân tộc khi những luồng văn hóa ngoại nhập từ phương đông và
phương tây vào nước ta một cách tự nhiên.
Di tích lịch sử văn hoá là một bộ phận của di sản văn hoá dân tộc được biểu
hiện ở dạng vật thể. Chúng được tạo ra trong suốt những thời kỳ lịch sử dân tộc, nó

23


khẳng định sự sáng tạo của văn hoá dân tộc, ở chúng là những thông tin quan trọng:

vào nước ta một cách rất tự nhiên, những giá trị văn hóa mới ra đời, con người càng
24


ngày càng có cái nhìn cởi mở trước mọi vấn đề. Những khung cố kết cộng đồng
truyền thống như kinh tế, chính trị, thậm chí cả ngôn ngữ đang bị phá vỡ. Thực tế
đó đã đưa văn hóa trở thành nhân tố hàng đầu trong sự hiện diện dân tộc. Từ đầu thế
kỉ XX nhà nhân học người Mỹ là Franz Boas đã đưa ra một nhận xét hết sức sâu
sắc: “Mỗi nền văn hóa là một tồn tại độc đáo, hơn thế là một kho báu độc đáo; sự
biến mất của bất cứ nền văn hóa nào cũng làm cho chúng ta nghèo đi”.
Từ ý nghĩa này có thể thấy vai trò của di sản trong xu thế toàn cầu hóa được
thể hiện ở hai khía cạnh. Thứ nhất di sản văn hóa là hiện thân của bản sắc văn hóa,
giữ gìn di sản văn hóa chính là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Thứ hai di sản văn
hóa là biểu hiện của sự đa dạng và phong phú của văn hóa nhân loại, vì thế giữ gìn
di sản văn hóa dân tộc là giữ gìn sự phong phú đa dạng của văn hóa nhân loại.
Có thể nói chưa bao giờ quy mô giao lưu lại mở rộng đến như vậy. Chúng ta
có thể cùng một thời điểm giao lưu với nhiều nền văn hóa có trình độ phát triển
khác nhau trên thế giới bởi những phương thức giao lưu cũng rất đa dạng, thậm chí
khó có thể quan sát được. Không chỉ giao lưu qua tiếp xúc trực tiếp, trao đổi các giá
trị văn hóa mà còn qua con đường thương mại, qua sự phân công lao động toàn cầu
và đặc biệt là qua các phương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình, internet,

Trong quá trình giao lưu giữa các quốc gia nhân loại ngày càng coi trọng tính
khác biệt, coi trọng bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, phản đối khuynh hướng đồng
nhất văn hóa, đồng hóa về văn hóa. Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế thì bản sắc
văn hóa và sự đa dạng về văn hóa là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia. Nếu xử lý
đúng đắn mối quan hệ giữa giao lưu và hội nhập với việc gìn giữ bản sắc dân tộc sẽ
mở đường cho văn hóa phát triển, đồng thời đảm bảo điều kiện cho sự phát triển
bền vững.
Chính vì vậy mà quốc gia nào cũng có các cơ chế, chính sách để bảo vệ và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status