Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hoá vũng rô cho cộng đồng huyện đông hòa, tỉnh phú yên - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN TUẤN

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VŨNG RÔ
CHO CỘNG ĐỒNG HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN TUẤN

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VŨNG RÔ
CHO CỘNG ĐỒNG HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai

HÀ NỘI, NĂM 2017


tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tuấn


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

Cụm từ viết tắt

Ý nghĩa của cụm từ viết tắt

1

DSVH

Di sản văn hóa

2

GD&ĐT

Giáo dục và Đào tạo

3

LS-VH


Văn hóa, Thể thao và Du lịch

9

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục đích nguyên cứu .................................................................................... 3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .............................................................. 4
4. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 4
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
8. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 6
Chƣơng 1: LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CHO CỘNG ĐỒNG .... 7
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ............................................................... 7
1.1.1. Một số nghiên cứu ngoài nước................................................................ 7
1.1.2. Một số nghiên cứu trong nước ................................................................ 8
1.2. Một số khái niệm có liên quan ................................................................... 9
1.2.1. Khái niệm di sản văn hóa ........................................................................ 9
1.2.2. Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa ....................................................... 11
1.2.3. Khái niệm bảo tồn, phát huy, cộng đồng .............................................. 13
1.2. Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa cho cộng đồng ....... 17

2.3.1. Thành tựu .............................................................................................. 41
2.3.2. Hạn chế ................................................................................................. 46
2.3.3. Nguyên nhân hạn chế ............................................................................ 46
2.4. Nhận thức của khách thể nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích
lịch sử - văn hóa Vũng Rô............................................................................... 49
2.4.1. Nhận thức của các cấp chính quyền đối với việc bảo tồn và phát huy
giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô ......................................................... 50
2.4.2. Nhận thức của người dân xã Hòa Xuân Nam (nơi có di tích LSVH Vũng Rô)
đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô........... 53
2.5. Thực trạng giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn
hóa Vũng Rô cho cộng đồng huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên ....................... 55


2.5.1. Nội dung giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa Vũng Rô ............................................................................................. 55
2.5.2. Phương pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử
- văn hóa Vũng Rô ........................................................................................... 57
2.6. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy các
giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô ......................................................... 62
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 65
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VŨNG RÔ CHO CỘNG
ĐỒNG HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN ....................................... 66
3.1. Một số định hướng cụ thể cho việc bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa Vũng Rô ............................................................................................. 66
3.2. Một số biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch
sử - văn hóa Vũng Rô ...................................................................................... 70
3.2.1. Tăng cường đổi mới công tác quản lý Nhà nước đối với bảo tồn và phát
huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Đông Hòa ................................. 70
3.2.2. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cộng
đồng về việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô ......... 71
3.2.3. Xây dựng đội ngũ tình nguyện viên và tập huấn cho các tình nguyện

Biểu đồ 3.2. Mức độ khả thi của các biện pháp.............................................. 83


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, bất kỳ dân tộc nào cũng có
quá trình lịch sử phát triển riêng của mình, đồng thời sản sinh ra giá trị văn
hóa dân tộc và chính giá trị văn hóa đó đã làm nên diện mạo, cốt cách riêng
của mỗi dân tộc để tạo nên sự phong phú đa dạng của nền văn hóa chung của
nhân loại. Thực tế ngày càng khẳng định vai trò to lớn của di tích lịch sử dân
tộc đối với quá trình phát triển của xã hội. Một quốc gia không thể phát triển
bền vững nếu thiếu một nền tảng văn hóa nội sinh, nếu các giá trị di tích lịch
sử bị mai một hoặc không được giữ gìn, phát huy đúng đắn và có hiệu quả.
Trải qua hàng ngàn năm, những giá trị di tích lịch sử Việt Nam vẫn
hiện diện như muôn trùng con sóng cuộn chảy trong dòng sông văn hoá
truyền thống của dân tộc.
Sau khi giành được độc lập, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 65/SL – Sắc
lệnh đầu tiên của Nhà nước ta về bảo tồn di tích trên đất nước Việt Nam. Để
quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh về vấn đề nêu trên, nhằm nêu
cao ý thức trách nhiệm của người đang làm công việc bảo tồn và phát huy các
giá trị di sản văn hóa, trong đó có các di tích. Đồng thời, động viên các tầng
lớp xã hội tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ các di sản văn hóa, chính vì
thế từ năm 2005 Chỉnh phủ Việt Nam đã lấy ngày 23/11 làm ngày di sản văn
hóa Việt Nam. Việc làm trên chứng tỏ, dù trong hoàn cảnh nào hay giai đoạn
nào của lịch sử cách mạng Việt Nam thì việc bảo tồn và phát huy giá trị di
tích vẫn luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và coi đó là tài sản
vô giá, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất quá trình đấu tranh
dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc ta và cũng là sự thể hiện rõ rệt
nhất bản sắc cộng đồng của dân tộc Việt Nam.

số 1543-QĐ/VH, ngày 18/6/1997 (phụ lục hình 1). Ngoài các giá trị về lịch
2


sử, văn hóa, các di di tích còn là nguồn tài nguyên quý giá để huyện Đông
Hòa khai thác, phát triển du lịch, góp phần thúc đẩy kinh tế ở huyện nhà.
Các di tích là tài sản vô giá của quốc gia nói chung và của huyện Đông
Hòa, tỉnh Phú Yên nói riêng. Tuy nhiên, nếu không nhận thức đầy đủ việc bảo
tồn và phát huy giá trị của di tích thì nguồn tài nguyên này chỉ là thứ khô
cứng, lãng phí, nhưng nếu ngược lại khai thác quá mức, không có khoa học
thì sẽ có ngày bị tàn phá, cạn kiệt. Chính vì vậy làm thế nào để di tích sống
mãi với thời gian và giá trị của nó phát huy một cách có hiệu quả thì đó mới
là vấn đề cần các ngành, các cấp, đặt biệt là các nhà quản lý văn hóa hiện nay
ở địa phương cần phải đặc biệt quan tâm.
Kế thừa di sản quá khứ là quy luật phát triển tất yếu của văn hoá. Muốn
kế thừa và phát huy di tích lịch sử thì trước hết cần phải nghiên cứu, tiếp cận
mọi phương diện lý luận về di tích lịch sử dân tộc. Đó là một đòi hỏi bức xúc
về phương diện lý luận. Nhận thức tầm quan trọng cũng như tính cấp bách
của vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài: Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và
phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô cho cộng đồng huyện
Đông Hòa, tỉnh Phú Yên với hy vọng góp phần bảo tồn và phát huy hơn nữa
giá trị các di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Đông Hòa trong thời kỳ hiện đại
hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
2. Mục đích nguyên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng ý thức bảo tồn và
phát huy giá trị di tích LS - VH Vũng Rô của cộng đồng ở huyện Đông Hòa,
tỉnh Phú Yên; đề xuất các biện pháp giáo dục ý thức cho họ để góp phần vào
việc bảo tồn và phát huy hơn nữa giá trị của di tích LS - VH Vũng Rô trong
bối cảnh hiện nay.


trị - xã hội và 47 người dân ở huyện Đông Hòa.

4


- Địa bàn khảo sát: xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa (nơi có di tích
lịch sử - văn hóa Vũng Rô)
6.2. Về thời gian
Nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa
Vũng Rô của cộng đồng huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên từ năm 2014 đến
năm 2016.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu ý thức bảo tồn và phát huy
giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô cho cộng đồng huyện Đông Hòa,
tỉnh Phú Yên.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: lập phiếu điều tra để trưng
cầu ý kiến người dân, cán bộ quản lý văn hóa, cán bộ các cơ quan chức năng,
tổ chức chính trị xã hội về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và các biện pháp quản lý tương ứng.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp người dân, cán bộ
quản lý văn hóa của huyện, xã về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích
lịch sử - văn hóa.
7.2.3. Phương pháp quan sát: Đến trực tiếp di tích lịch sử - văn hóa
Vũng Rô để quan sát về thực trạng của di tích, ý thức của người dân về việc
bảo tồn và phát huy giá trị của di tích.
7.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết những thành quả
của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những bài học cần thiết.
7.3. Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Sử dụng phương pháp toán

sắc văn hoá dân tộc.
Người Nhật quan niệm giá trị văn hoá như một thứ tài sản “tài sản văn
hoá” và họ chia di sản văn hoá thành hai loại: tài sản văn hoá “hữu hình” và
tài sản văn hoá “vô hình”. Các thuật ngữ vật thể, phi vật thể, vô hình, hữu
hình giờ đây được sử dụng rộng rãi trên thế giới khi nói về di sản văn hoá.
Trong Hội nghị quốc tế “Bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể:
Hướng đến Phương pháp tiếp cận tổng thể” tổ chức tại Nara, Nhật Bản từ 19
đến 23/10/2004, đã ra tuyên bố Yamato về phương pháp tiếp cận tổng thể
trong bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể đã được thông qua. Với bản
Tuyên bố này, các quan niệm về di sản văn hóa đã được nhân loại định
nghĩa cụ thể trên phương diện lý luận theo Công ước và Quy chế của
UNESCO. Đây là những quan niệm cụ thể nhằm giúp nhận diện một cách
đúng đắn khoa học về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên thế giới.

7


1.1.2. Một số nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, nghiên cứu về di sản văn hóa trước tiên phải kể đến công
trình Việt Nam Văn hoá sử cương của học giả Đào Duy Anh từ năm 1938 với
quan điểm: “Ta muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh
thần thì phải giữ văn hoá cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hoá
mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hòa tinh tuý của văn hoá phương Đông
với những điều sở trường về khoa học của văn hoá phương Tây [1, tr.371].
Năm 1997, GS,TS. Hoàng Vinh hoàn thành cuốn sách “Một số vấn đề
về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc”. Trên cơ sở những quan niệm
di sản văn hóa của quốc tế và Việt Nam, tác giả đã đưa ra một hệ thống lý
luận về di sản văn hóa, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu di sản văn
hóa nước ta. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đã đưa ra các nhóm giải
pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Di tích Vũng Rô chỉ dừng lại ở việc miêu tả hay chỉ giới thiệu về cảnh đẹp và
các chiến công gắn liền với sự kiện tàu không số vận chuyển vũ khí để chi
viện cho chiến trường Quân khu V và Tây nguyên trong lịch sử chống giặc
ngoại xâm giữ hòa bình cho đất nước. Theo tìm hiểu của tôi, hiện tại chưa có
một công trình nào nghiên cứu về “Biện pháp giáo dục ý thức bảo tồn và phát
huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Vũng Rô cho cộng đồng huyện Đông Hòa,
tỉnh Phú Yên”
1.2. Một số khái niệm có liên quan
1.2.1. Khái niệm di sản văn hóa
Di sản văn hóa theo nghĩa tiếng việt là tài sản do thế hệ trước để lại cho
thế hệ sau. Theo nghĩa hán việt Di là di truyền, để lại; sản là của cải. Trong
tiếng anh từ heritage cũng có nghĩa là tài sản kế thừa, di sản. Thuật ngữ di
sản trong quan điểm của nhân học, văn hóa học là một khái niệm tiến triển,

9


nó có thể thay đổi theo không gian và thời gian, đây cũng là cơ hội để các
nhà nghiên cứu có thể dựa vào từng góc độ nghiên cứu, mục đích nghiên
cứu để đưa ra những khái niệm về di sản khác nhau phù hợp với thời gian
và không gian.
Từ góc độ quản lý, khái niệm di sản văn hóa trong Luật di sản văn hóa
của Việt Nam ban hành năm 2002 được quy định như sau: di sản văn hóa bao
gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh
thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ
này qua thế hệ khác ở Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. [05, tr.13]
Đến năm 2009, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Di sản văn hóa
(Luật số 08/2009/L- CTN ngày 29/6/2009) được ban hành, khái niệm Di
sản văn hóa phi vật thể đã được sửa đổi như sau:“Di sản văn hóa phi vật
thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và

trình xây dựng lẻ loi, những khu di tích ở đô thị hay ở nông thôn, là bằng
chứng của nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một
biến cố về lịch sử . Đây được xem là khái niệm đầu tiên hoàn thiện nhất về di
tích lịch sử - văn hóa được nhiều quốc gia trên thế giới biết đến.
Đến năm1984 Việt Nam đã ban hành “Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di
tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh”, khái niệm di tích lịch sử - văn
hóa được hiểu như sau: Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây
dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học,
nghệ thuật, văn hóa, liên quan đến sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn
hóa xã hội.
Theo giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa (nhà xuất bản đại học
Văn hóa Hà Nội năm 1993) định nghĩa: “Di tích lịch sử - văn hóa là những
không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển
hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong
lịch sử để lại” [09, tr. 17].

11


Từ các định nghĩa trên có thể nhận ra một số đặc điểm của di tích lịch
sử - văn hóa Việt Nam như sau:
- Di tích lịch sử văn hóa là những nơi ẩn dấu một bộ phận giá trị văn
hóa khảo cổ.
- Di tích lịch sử - văn hóa là những địa điểm, khung cảnh ghi dấu về
dân tộc học.
- Là nơi diễn ra sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy lịch sử
đất nước, lịch sử địa phương phát triển.
- Là nơi ghi dấu những chiến công chống giặc ngoại xâm, hay là nơi
ghi dấu giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn
hóa, khoa học,…

những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là
trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra
cực kỳ sôi động.
Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng “tĩnh”)
Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng “tĩnh” là vận dụng thành
quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện
vật như sự vốn có về kích thước, vị trí, đường nét màu sắc, kiểu dáng. Khi cần
phục nguyên các di sản văn hóa vật thể cần sử dụng hiệu quả các phương tiện
kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi tính công nghệ 3D theo không gian ba chiều;
chụp ảnh; băng hình video; xác định trọng lượng, thành phần chất liệu của di
sản văn hóa vật thể. Sau khi tiến hành bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối
chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không làm biến dạng
di sản văn hóa vật thể.
Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra sưu tầm,
thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa
học nghiêm túc chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng
băng hình (video), băng tiếng (audio), ảnh.v.v... Tất cả các hiện tượng văn
hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng.

13


Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng “động”)
Bảo tồn “động”, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế
thừa. Các di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những
nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng di sản văn hóa vật
thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại. Đối với các di sản văn hóa phi vật
thể, bảo tồn “động” trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó
ngay chính trong đời sống cộng đồng. Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi
trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất

vai trò tích cực của nó trong việc phát huy giá trị của di tích.
Trong giáo trình bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa cùa Trường đại học
văn hóa – Hà Nội, khái niệm phát huy di tích lịch sử - văn hóa được hiểu như
sau: “Phát huy giá trị của di tích là quá trình khai thác các giá trị di tích
phục vụ xã hội hiện tại và tương lai, góp phần phát triển kinh tế và nâng cao
đời sống văn hóa xã hội” [10, tr. 184].
Như vậy, nội dung của định nghĩa trên cũng đã đề cập đến mục đích
của việc phát huy hết giá trị một cách rõ ràng. Thực tế cho thấy, quá trình
phát huy giá trị của di tích sẽ thuận lợi hơn nếu di tích lịch sử - văn hóa đó đã
có nhiều công chúng biết tới, lúc đó, việc tuyên truyền, quảng bá di tích trở
nên dễ dàng hơn so với một di tích chưa có ai biết tới. Với di tích chưa được
nhiều người biết tới, hoạt động phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa là sử
dụng các hình thức tuyên truyền, quảng bá cho đông đảo công chúng những
thông tin về giá trị của di tích. Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của công tác
phát huy giá trị của di tích là làm cách nào để người dân cũng như du khách
trong và ngoài nước hiểu hết giá trị của di tích về các mặt lịch sử, văn hóa,
khoa học, kinh tế, thẩm mỹ,... Theo đó, di tích nào được phát huy giá trị một
cách hiệu quả sẽ đồng nghĩa với việc những người làm công tác bảo tồn và
phát huy giá trị của di tích đó không những sẽ giúp người dân cũng như du
khách được thụ hưởng trọn vẹn các giá trị của di tích, mà còn tạo ra nguồn lực
kinh tế không nhỏ cho quốc gia nói chung và địa phương nói riêng.

15


Như vậy, có thể hiểu, "Phát huy" trước hết là sử dụng giá trị tinh thần
của di tích trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng tình cảm; đồng thời,
khái niệm "phát huy" cũng đã bao hàm cả các hoạt động khai thác, tuy nhiên,
nếu sử dụng từ "khai thác" thay cho "phát huy" di tích thì sẽ bị hiểu là quá
thiên về tính hiệu quả kinh tế trong sử dụng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status