MỤC LỤC
Phần mở đầu....................................................................................................... 2
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 2
2. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 3
3. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 3
4.Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 3
5.Bố cuc của tiểu luận ........................................................................................ 3
Chương 1: LỊCH SỬ TỒN TẠI VÀ HÌNH THÀNH CỦA DI TÍCH.................. 4
1.1. Lịch sử vùng đất .......................................................................................... 4
1.2. Lịch sử đền-đền Kim Liên và nhân vật được thờ ......................................... 6
Chương 2: GIÁ TRỊ CỦA ĐỀN KIM LIÊN ....................................................... 8
2.1. Giá trị về mặt kiến trúc ................................................................................ 8
2.1.1. Không gian cảnh quan .............................................................................. 8
2.1.2 Bố cục mặt bằng ........................................................................................ 9
2.2 Giá trị về nghệ thuật ................................................................................... 15
2.2.1 Hoa văn trang trí trên các đơn nguyên kiến trúc ..................................... 15
2.2.2 Các di vật tiêu biểu .................................................................................. 16
3.2. Lễ hội ....................................................................................................... 17
3.2.1. Thời gian diễn ra lễ hội .......................................................................... 17
3.2.2 Công tác chuẩn bị.................................................................................... 17
3.2.3 Phần lễ .................................................................................................... 18
3.2.4 Phần hội .................................................................................................. 19
Chương 3: MỘT SỐ Ý KIẾN RIÊNG VỀ VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH .................................................................................. 21
3.1. Hiện trạng của di tích ................................................................................ 21
3.2. Một số giải pháp về việc giữ gìn,bảo tồn và phát huy giá trị của di tích .... 22
3.3. Phát huy giá tri di tích Đền Kim Liên ........................................................ 23
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 25
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. ............................................................ 26
1
2
phên giậu che chở cho kinh thành Thăng Long về an ninh, chính trị và trực tiếp
cung cấp lương thực, rau quả cho kinh thành. Trải qua hơn năm trăm năm tồn
tại,chịu bao thăng trầm lịch sử, bom đạn trong các thời kỳ khàng chiến nhưng
đền Kim Liên vẫn giữ được nét riêng cho mình,các phần kiến trúc và điêu khắc
mang đậm phong cách thời Lê Trung Hưng.Và đặc biệt hơn cả,đền Kim Liên
lưu giữ được tấm bia sắc phong thần Cao Sơn-một di vật quý của dân tộc Việt
Nam.Quanh tấm bia và tích thần Cao Sơn là những câu chuyện huyền bí. Vì
những lý do trên em quyết định chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Bảo tồn và
phát huy giá trị di tích đền Kim Liên, phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà
Nội”
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là Trấn nam thành Thăng Long- đền
Kim Liên thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
3. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian : nghiên cứu di tích đền Kim Liên,sự hình thành và tồn tại
của di tích từ khi tồn tại đến khi khởi dựng
Về không gian : nghiên cứu di tích đền Kim Liên về lịch sử-văn hóa vùng
đất nơi di tích tồn tại.
4.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về vùng đất,con người nơi di tich tồn tại và phát triển,và những
giá trị về lịch sử,văn hóa trên cơ sở khảo sát thực tiễn với mong muốn bảo tồn
và phát huy giá trị của di tích trong thơi đại ngày nay.
5.Bố cuc của tiểu luận
Ngoài phần mở bài, kết luận, tài liệu tham khảo tiểu luận gồm ba chương :
Chương 1 Lịch sử hình thành và tồn tại của di tích.
Chương 2 Giá trị về kiến trúc và nghệ thuật.
Chương 3 Một số ý kiến riêng về việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích.
Tạ (họ Tạ là ít người nhất). Làng Kim liên cũng là một làng đông dân cư, năm
1927 có 15 nhân khấu theo Ngô Vĩ Liên, trong khi làng Trung Tự có 398 người,
4
Phương Liệt có 621 người. Đời Tự Đức triều đình mở cuộc vận động người đi
lần biển Thái Bình, dân làng Kim Liên cũng có nhiều người ứng mộ đến chỗ đất
mới khá đông. Hiện nay dân làng một phần thì đi phân tán làm ăn ở nhiều nơi
khác nhau, phần còn lại là người trong thiên hạ đến cư ngụ.
Về sinh hoạt kinh tế, phụ nữ làng chuyên nhuộm vải, làm ruộng, trồng rau
muống nước (gọi là rau muống giải, những ngọn lá cuống to có màu tím, luộc có
nước màu tím trong. Dân làng sống thành từng xóm ven các gò đất cao với nghề
làm ruộng, thả cá, thả rau muống bè và trồng màu. Làng Kim Liên xưa còn nổi
tiếng với nghề thả sen, ướp chè nhờ có đầm nước rộng.
Làng còn có nghề nhuộm vải nâu (dân làng thường lấy bùn để “nhấn bùn”
cho vải màu nâu ngả sang màu đen, từ hồ Bảy Mẫu và hồ Ba Mẫu), nên làng còn
có tên là Đồng Lầm (làng đồng ruộng nhiều bùn). Đây cũng là nét đặc trưng của
làng Kim Liên nay - Đồng Lầm xưa, bởi vải Đồng Lầm trước đây rất nổi tiếng.
Vải Đồng Lầm mỏng như voan, được nhuộm từ bùn của cánh đồng làng
thành vải nâu non hay nâu sồng, đặc biệt là vải Rồng. Vải Rồng đẹp có tiếng gần
xa, sau rồi người ta gọi là vải Đồng Lầm - nghĩa là một vùng đầm nước rộng,
nhiều bùn, từ loại bùn đặc biệt, riêng có của vùng đất này đã tạo nên một sản
phẩm làm đẹp cho người.
Nam giới có các nghề cắt tóc, làm ruộng, bổ củi, làm thuê cho người trên
phố. Theo các cụ trong làng truyền lại, nghề cắt tóc bắt đầu từ ngày hội làng, có
thầy địa lý Tả Ao đến dự. Lý trưởng đã nhờ thầy “xem” cho làng làm thêm
nghề.Ông Tả Ao thấy làng có một số người làm nghề cắt tóc liền khuyên mọi
người nên phát huy nghề này. Từ đó, làng cắt tóc Kim Liên trở nên nổi
tiếng.Thời xưa đa số trung niên đều búi tó,chỉ cạo gáy,sến mai,còn con trẻ đều
cạo đầu.Các tay kéo, tay dao trai làng Kim Liên rất tài hoa và điêu nghệ, họ từng
Mục tàn ác ăn chơi,xúi giục bọn nịnh thần diệt các quan trung thành,đàn áp
dân.Vua lánh nạn vào Tây Đô dấy nghĩa binh,khôi phục cơ nghiệp của vua Cao
Tổ,cứu vớt dân lành khỏi kiếp lầm than cùng với 3 vị đại thần là Tước Uy Quốc
Công Nguyễn Bá Lân,Tước An Hòa Hầu Nguyễn Hoằng Dụ,Tứ Vệ Quân Vụ Sự
Nguyễn Văn Lữ phụng mệnh mang quân đi chinh phạt,cầm cờ tiết mao,vác búa
hoàng kim. Ngang qua vùng Phụng Hoá , trông thấy ngôi đền cổ nằm giữa ngút
ngàn rừng núi , nhờ tấm biển mà biết đó là đền thờ Cao Sơn Đại Vương
, ba vị
tướng quân bèn vào làm lễ cầu thần phò trợ .. Quả nhiên sau mười ngày đã thành
công, đánh tan loạn đảng , giữ được nghiệp bá do vua Lê Thái Tổ gây dựng . Vì
thế, vua Lê Tương Dực cho xây dựng đền thờ thần Cao Sơn được lập ở Phụng
Hóa.Năm đó vào ngày hai tháng chạp nhà Vua lên ngôi ,giành lại được ngai
vàng ,nghĩ đến ơn Thần Ngầm giúp nên năm đó nhà vua đã cho dựng lại đền thờ
6
to đẹp hơn ở phường Kim Hoa gần Thăng Long lúc bấy giờ và dựng 1 tấm bia
đá đồ sộ mang tên “Cao Sơn Đại Vương Thần Từ Bi Minh do tiến sĩ Lê
Tung,thượng thư bộ lễ viết soạn và đã được lưu truyền mãi mãi để hương khói
tưởng nhớ công lao của thần. Tấm bia “Cao Sơn đại vương thần từ bi minh” vốn
ở huyện Phụng Hóa, đến đời Hoằng Định (1600-1619) lại nổi lên bến Bồ Đề và
được dân phường Kim Liên kéo đưa rước về đặt ở di tích như ngày nay.Trong
thời kì kháng chiến đền đã bị thiêu hủy nhiều,chỉ còn lại hậu cung,và bây giờ là
đền mới nhưng vẫn giữ được những nét độc đáo của thời Lê.
Đền Kim Liên được dân làng Kim Liên và các vùng lân cận góp công góp
của. Cũng không thể không kể đến một số lượng tiền không nhỏ của nhiều nhà
hảo tâm cúng tiến để xây dựng, tôn tạo nên ngày càng bề thế. Thế nhưng đền
Kim Liên cũng như bao danh lam khác đâu tránh khỏi những luân trầm của thời
đền, chùa, tháp… thì việc chọn ngày, định hướng xem thế đất bao giờ cũng là
việt hết sức quan trọng đối với mỗi người dân Việt Nam. Việc chọn hướng đất
thường bị chi phối bởi yếu tố phong thủy vì thuyết phong thủy cho rằng “ vị trí
của thế ở, thế đất có một ảnh hưởng to lớn đối với con người sống trên đó”.
Phong thủy là hệ thống những quan niệm nhằm xem xét, đánh giá cảnh quan để
xác định địa điểm tối ưu cho một công trình kiến trúc. Theo thuyết phong thủy
thì chữ “ phong” có nghĩ là gió, chữ “ thủy” có nghĩa là nước, là hai yếu tố quan
trọng nhất trong đó “ đắc thủy” chỉ chỗ có dòng nước chảy quanh là quan trọng
hơn hết sau đó mới đến “tụ phong” nghĩa là kiêng tránh gió, thu giữ gió là điều
quan trọng thứ hai.
Ở Việt Nam, quan niệm về lý thuyết phong thủy được thể hiện rõ nhất
trong hai câu thơ của nhà sư Không Lộ thời Lý : Tuyển đắc long xà, địa khả cư”
nghĩa là “ chọn được thế đất rồng rắn thì có thể ở yên”. Giống như những ngôi
8
đền khác ở Việt Nam, đền Kim Liên cũng được xây dựng theo thuyết phong
thủy đó.
Đền được xây dựng trên một gò đất ở phía đông-bắc đầm Kim Liên. Cổng
đền và cửa chính điện đều hướng về phía tây-nam, trông ra đầm Kim Liên, nay
không còn do bị lấp đi để làm đường Xã Đàn vùng này cũng là nơi mở ra ô Kim Hoa
(còn gọi là ô Đồng Lầm), cửa ngõ giao lưu giữa vùng Sơn Nam về với Kinh thành.
Trước đền là giếng ngọc theo hình bán nguyệt phía trước là bức bình
phong án ngữ,theo thời gian,giếng ngọc đã bị thu hẹp lại và bị ô nhiễm nặng nề
bởi ý thức của người dân xung quanh đền. Trước cửa đền là tấm bình phong
đóng vai trò tiền án, chắn gió độc và những điều không tốt lành. Dáng bình
phong tựa như một cuốn thư đang mở, có đắp nổi phù điêu rồng vờn mây. Phía
sau bình phong là khoảng sân nhỏ dẫn vào cổng ngoài của đền.
Bước vào trong đền ta thấy ngay không gian nơi đây rất thoáng mát,sân
ngói vỏ sò phía trên bờ nóc xây những bờ đinh.Hai gian tảo xá có những cánh
cửa theo kiểu thượng song hạ bản.Hệ thống vì kèo rất chắc chắn tạo được sự
liên kết,vì giá chiêng chồng rường con nhị là gỗ nguyên bản,trên có trang trí các
hình hoa va hình rồng.
Kiến trúc của đền theo kiểu chữ Đinh,hướng bắc phía Khâm Thiên,có đài
thiên văn,phía nam qay ra Đê La Thành,phía tây là Đàn Xã Tắc,nay gọi là Xã
Đàn là vùng đất rộng dùng để luyện quân luyện võ.Đền được dựng ở bên trái
của đền làng Kim Liên, từ sân lên nội tam quan phải qua 9 bậc xây bằng gạch vồ
cổ. Chín bậc như ở hệ thống cửa điện Kính Thiên trong thành Hà Nội, gợi nơi
ngự của thần được xếp ngang cấp với vua ở chốn cửu trùng,.Kiến trúc ngôi đền
là kiến trúc thời Lê Trung Hưng theo kiểu hình tượng rồng,đền là đầu rồng,hậu
cung là sừng rồng hai phần ao ở bên là mắt rồng ( nhưng hiện nay hai phần ao
đó đã bị lấp do dân làm nhà) hai gian đơn nguyên kiến trúc ở hai bên sân đền là
má rồng ( xưa là trường học của làng,và cho đến nay là nơi để hội họp),phía
ngoài mặt đường trước cổng đền có phần ao nhỏ,bức bình phong ở trước là mũi
rồng,còn chính phần ao đó là miệng rồng.Hai con đường ở phía trước đền là râu
10
rồng,con đường phía sau đền là kéo dài hết đường Kim Hoa là đuôi rồng,còn lại
các lối rẽ vào ngõ là chân rồng.
Đền gồm có phía trước là Phương đền,nay là nội tam quan,có kiến trúc
không cầu kỳ. Tam Quan hay nói cách khác chính là cửa đền, nhưng đồng thời
cũng là tuyên ngôn về đạo pháp của phật giáo. Ở ngoài tam quan có rất nhiều
đường đến với đạo tượng trưng là tám vạn tứ pháp môn. Khi đến tam quan là
con người đã được giáo dục bước đầu về đạo phật. Vì tam quan đã mang ý nghĩa
sâu sắc giữ đạo và đời. Tam quan thường được kết cấu ba cửa. Nó là biểu hiện
cho ba điều pháp ẩn : khổ - vô thường – vô ngã, là ba lối nhìn của phật về thế
giới muôn loài đó là không quan, giả quan và trung quan.
một nền đất cao và những hàng đá tảng kê chân cột to,dầy. sau khi trùng tu nay
nền nhà đã được thay bằng gạch đá hoa. Đại bái ( trước đây) gồm năm gian và
hai sảnh là bảy gian,trong có hai ngựa sơn đỏ và trắng,mỗi con có bốn bánh
xe.Gian Đại Bái nằm chính giữa sân đền,có bậc tam cấp cách mặt sân khoảng
60cm. Hệ thống cửa cũng theo kiểu thượng song hạ bản,đã được sơn son thiếp
vàng toàn bộ. Phần mái ngói của gian này cũng là ngói vỏ sò. Hai đầu kìm được
đắp nổi hai con rồng. Đầu rồng có tóc chải dựng ngược về phía sau. Đuôi rồng
là dạng văn xoắn lớn cuộn ngược lên trên. Chiều cao của mái bằng 2/3 chiều cao
của gian với mặt phẳng rộng,phần đầu mái cong lên phía trước theo kiến trúc
của thế kỉ 17. Trên bờ dải cũng trang trí hình lưỡng long chầu nhật,với 2 con
rồng trong tư thế rất vươn dài uy nghiêm,phần vảy rồng rõ ràng,bờm được chạm
nổi như những ngọn lửa.
Bên trong gian Bái Đường có hệ thống vì ván mô,các thanh rường có tiết
diện lớn, tạo thành khối tam giác cân hổ phù gồm các hoa văn thực vật. Bên trên
là gỗ liên kết vì kèo và xà tạo ra khung mái, cột có xà, hoành ăn mộng vào . Bộ
vì bao gồm : trên cùng là thượng lương, thương lương được đặt trên đầu hình
thuyền, đầu này được bào trơn, đặt trên một ván lót, hình chữ nhật mỏng, ván lót
này được đặt trực tiếp trên con rường thứ nhất của bộ vì, con rường này hai đầu
đặt lên cột trốn qua một đấu vuông thót đáy mỏng. Quá giang một đầu ăn mộng
vào đầu cột trốn, cột trốn được đặt trên hệ thống xà thượng. Từ đầu cột trốn có
12
các con rường cụt vươn ra để đỡ các con hoành của mái. Từ cột cái sang cột
quân là những con rường được ăn mộng vào đầu cột trốn vươn ra để đỡ các
khoang hoành. Nối giữa cột cái nọ với cột cái gian kia là một xà dọc. Xà dọc
này tì lực lên cột cái.Bên ngoài là hệ thống kẻ ngồi được chạm khắc tinh xảo,đề
tài rất phong phú đều là các tứ linh,hoa mai,vân mây….Bốn cột trụ cái có chu vi
1m, đều được gắn các câu đối lên trên,trên các câu đối đều được chạm trổ tinh
xảo,các hoa văn và họa tiết sắc nét,mang đậm phong cách của thời Nguyễn. Hai
Trong hậu cung đặt hai long ngai và 10 pho tượng từ điện Mẫu của
chùa Kim Liên ở cạnh đưa tới. Hậu cung và Đại bái diện tích khoảng 50 m2
cũng kết cấu vì kèo gỗ, chạm trổ, trên là mái lợp ngói.Gian thứ hai của hậu cung
xây bệ gạch cao 1m để đặt hai long ngai và các đồ tế khí. Gian cuối cùng của
hậu cung là nơi thờ Cao Sơn đại vương và hai nữ thần phối hưởng (là “Thủy
tinh đệ tam tôn nữ Đông hổ trưng vương mẫu” và “Huệ minh phu nhân”).
Hậu cung là một nếp nhà ba gian dọc, xây gạch trần mái lợp ngói mới.
Trong nhà xây vòm cuốn, nội thất được bố trí như sau: gian ngoài cùng, có bệ
gạch cao để đặt hương án; gian thứ hai xây bệ gạch cao để đặt long ngai và các
đồ tế khí. Gian cuối cùng là nơi thờ Cao Sơn Đại Vương và hai nữ thần phối
hưởng (Tôn nữ Động Hồ Trưng Vương công chúa con gái vua Lê và Huệ Minh
công chúa).Ngày trước nơi thờ Cao Sơn Đại Vương chỉ có ngai,hia,mũ,chưa có
tượng còn ngày nay Long ngai thờ thần Cao Sơn có kích thước lớn, chạm khắc
tinh vi, được làm theo kiểu chân quì dạ cá, các lớp trên chạm thủng hoa dây, là
một hiện vật quý, hiếm.
Phía bên trái Bái đường là gian nhà mẫu, tường xây theo kiểu tường hồi
bít đốc. Kết cấu vì theo kiểu chồng rường, gian chính giữa là bàn thờ mẫu, còn
gian ngoài cùng bên phải là nơi để đồ thờ tự và đồ tế khí của chùa. Nền nhà mẫu
lát gạch màu đỏ mái lợp ngói. Nhà mẫu được kết cấu bởi một hang chân cột
14
bằng bê tông vuông. Cột này là nơi chịu lực chính cho tòa nhà, một đầu xà được
đặt lên đầu cột, một đầu được đặt trực tiếp lên tường bao.
Diềm mái hiên nhà mẫu trang trí hoa văn hình lá. Nhà mẫu được trổ hoa cửa,
cửa rộng 1,7m, cao 2,3m. Được làm theo kiểu thượng song hạ bản, trên các cửa
được chạm nổi các đề tài tứ quý như tùng, cúc, trúc, mai. Cửa được làm bằng gỗ
lim, ngoài ra phía ngoài cửa có câu đối.
Trước điện thờ mẫu còn có giếng khơi,vị mẫu này là được đưa từ ngoài
nét uốn lượn uyển chuyển,các cột các hoành phi bên trong đều được sơn son
thiếp vàng.Đồ thờ cùng nổi bật với hai gam đỏ và vàng. Thâm cung trang
nghiêm, ánh sáng hắt từ các ô cửa, vòm mái vừa đủ cho ta cảm giác mờ ảo linh
thiêng…Hương án trang trí kín các đồ án hoa văn theo các ô hình chữ nhật bằng
kỹ thuật chạm thủng, chạm nổi đề tài phong phú như hình hổ phù, long mã tranh
châu, tứ linh, tứ quý, bát bửu.
Ngoài cổng tam quan đôi lan can có chạm trổ vân mây và đôi rồng đá
cách điệu mang phong cách thời Lê. Lư hương và đôi cây đèn bằng đá được
chạmkhắc điêu luyện đặt ngay tại sân lớn trước cửa Đền.Trên đỉnh của đôi đèn
được chạm khắc hoa sen và vân mây uốn lượn.
2.2.2 Các di vật tiêu biểu
Hiện nay trong đền còn lưu lại rất nhiều di vật quý,đặc biệt trong đó còn
lưu giữ tấm bia “Cao sơn Đại Vương thần từ bi minh” cao 2,34m, rộng 1,57m,
dầy 0,22m do học sĩ bộ lễ Thượng thư,tiến sĩ ,tề tựu Quốc Tử Giám Lê Trung
vào kho sách nhà vua soạn thảo năm 1510, nói về công lao của thần Cao
Sơn.Đến năm Bính Tý (1516) vua Lê Tương Dực mất khi chưa hoàn thành xong
cuốn sách này,và đến năm Cảnh Hưng (1772 ) đã được khắc lại trọn vẹn.
Tấm bia gồm hai mặt chữ,bốn mươi bảy dòng,nội dung ca ngợi tài
năng,đức độ,sự thiêng liêng của Cao Sơn đại vương, có trang trí các hình rồng,
mây, hoa, lá, sóng nước, trán bia trang trí hình rồng uốn khúc yên ngựa, bờm lửa
đặc trưng của thế kỷ XVIII.Theo truyền thuyết kể lại,bia theo sông Hồng về đến
bến Bồ Đề ( tức làng Ô Cách-Gia Lâm ) có dừng lại,dân làng ra vớt nhưng
không được,đến địa phận Kim Liên cạnh sông Kim Ngưu thì dừng lại.Điều kì lạ
ở chỗ, bia trôi ngược dòng nước,một số làng ra vớt không được,bia lại trôi
16
đi,qua sông Tô Lịch rồi trôi về sông Kim Ngưu thuộc cánh đồng Tháp trước cửa
đền làng.Các làng lân cận Phương Liên,Khương Thượng,Trung Tự,Kim Hoa
tranh nhau ra vớt.Các cụ cao tuổi làng Kim Hoa vào đền làm lễ khấn thần Cao
Đến ngày 16 tháng 3,ngày rước thần,các trai gái làng được phân công
rước thần hôm trước đã nhận quần áo cùng các đội tư văn,vãi con nhang đẹ tử
chuẩn bị rước.
Từ 6 giờ đến 7 giờ 30 đội tế nam của làng “tế Thượng Đẳng thần Cao Sơn
Đại Vương,và đội Tế nữ dâng hương chuẩn bị.Đội tế nam và tế nữ được chọn lọc rất
kĩ lưỡng,nam phải là trai chưa vợ,gái chưa chồng.Đầu tiên là chủ tế đọc văn khấn
“Thượng Đẳng thần Cao Sơn Đại Vương “,sau đó các vị quan chức chính phủ,thành
phố,quận và phường lên làm lễ dâng hương, tiếp đến là các vị lão làng cao tuổi dâng
hương,sau đến các đoàn (các phường bạn,đình-đền bạn ) và cuối cùng là các quý
khách thập phương,cá dòng họ và nhân dân lên dâng hương.
Từ 9 giờ đến 11 giờ là phần rước lễ.Tại sân đền trước hai ngựa gỗ ba kiệu
bày theo hàng ngang : Kiệu ông-Long Đền-Kiệu võng.Nam khiêng kiệu là trai
chưa vợ.Kiệu ông mười tám người khiêng,kiệu Long đền là tám người
khiêng.Và con gái cùng phải chưa chồng mới được rước kiệu.Các cô phải mặc
áo nâu vải rồng thắt lưng xanh đỏ.
Mỗi ngựa có một ông trang phục võ tướng ngày xưa,càm thanh long đao
và một lính cầm lọng đẩy ngựa.Ba cụ cũng mặc quần áo tướng cầm kiếm,một
kiếm vàng và hai kiếm bạc đi hàng ngang.Đúng 8 giờ hoặc 8 giờ 30 bắt đầu
rước.Đoàn rước theo thứ tự có: Đoàn cờ xí 10 người mặc quần áo lính đi hai
bên,Bát bửu 10 người,Đội múa rồng lân sư tử,Các sư các vãi,Tổng phệ,đội lốt
hổ biểu diễn,Hai ông cầm biển vía,Ba tướng cầm kiếm đi hàng ngang,Đội
ngựa,Đội trống,Lọng đền,Đoàn tế áo thụng xanh,Phường bát âm : 8 người
đàn,sáo,nhị,tiêu,bộc,Kiệu ông có cụ cầm trống chỉ huy,Đoàn tế gồm các bà áo
đồng màu,Đoàn sinh tiền gồm các em nhỏ,Kiệu võng,có bà cầm thanh la chỉ
huy,Đoàn con nhang đệ tử ,mặc áo đủ màu,có giá ông ,bà ,cô,cậu,Đoàn đại diện
các giáp các chi,Nhân dân trong làng.
Đoàn rước kéo lễ kéo dài dọc qua tuyến phố Xã Đàn, vòng lại ở ngã tư
trên nóc hầm Kim Liên và rẽ vào đường Kim Hoa.
18
xôi,trái quả,giò chả,cỗ ba tầng cũng vậy nhưng trên cùng là điển tích
19
Biểu tượng của cỗ trung đền nói lên được năm đó có được mùa lúa nặng
hạt trĩu bong,hoa nở muôn màu muôn sắc,trái quả xum xuê,chăn nuôi phát triển
của người nông dân lao động có được trưng bày các sản phẩm lên cúng thần Cao
Sơn phù hộ cho dân làng.
Hiện nay hội đền Kim Liên vẫn diễn ra vào đúng ngày 16 tháng 3 âm lịch
nhưng những trò chơi dân gian ngày trước đã khan hiếm hơn,chỉ còn lễ rước
kiệu và một số trò chơi ca hát,và cỗ bảy tầng cũng không còn được tổ chức .
20
Chương 3
MỘT SỐ Ý KIẾN RIÊNG VỀ VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
CỦA DI TÍCH
3.1. Hiện trạng của di tích
Đền Kim Liên trước khi được tu bổ đã không thể thoát khỏi những ám
ảnh đau lòng trước một số không gian bị xâm hại và thu hẹp. Một số hạng mục
đã xuống cấp đến mức không thể nhận ra. Diện tích khu đền bị lấn chiếm thu
hẹp nay chỉ còn 1/3 diện tích trước đây. Đáng chú ý là một số di tích được coi là
linh hồn của quần thể, nay đã không còn nữa. Đơn cử như hai ao nằm ở phía tả,
hữu Hậu cung đã bị các ngôi nhà dân cao 4,5 tầng che lấp cả không gian vốn
thoáng đãng và nghiêm trang của đền.. Trước cửa đền, xưa có một cái ao rộng
khoảng gần 400 m2 (gọi là miệng Rồng) thì nay đã được san lấp, lát gạch bê
tông làm hè phố. Duy chỉ có phía tả cửa đền là còn lại một cái giếng đường kính
khoảng 30 m, xưa gọi là giếng Ngọc (truyền thuyết coi giếng này là viên ngọc
của Việt Nam.Theo người dân xung quanh làng cho biết,khi trùng tu đền Kim
Liên thì cổng nghi môn đã xây mới một cách sao chép giống với cổng tam quan
của chùa Láng,dạng tứ trụ có mái, bên cạnh đó vẫn có 2 cổng phụ và tổng thể
trở thành Ngũ môn.Đặc biệt hơn là cổng nghi môn mới không hề tuân theo quy
luật nào. Điều này đã làm phá vỡ đi kiến trúc của đền.
3.2. Một số giải pháp về việc giữ gìn,bảo tồn và phát huy giá trị của
di tích
Tính cho đến thời điểm này,đền Kim Liên vẫn đang trong quá trình tu
sửa,chủ yếu là bên trong gian hậu cung.Muốn bảo tồn được các giá trị về mặt
kiến trúc cũng như về mặt nghệ thuật,chúng ta cần nghiên cứu kĩ lưỡng trước
khi bắt đầu tu sửa.Phải làm đúng phần việc là tu sủa chứ không phải là tái tạo lại
di tích hoàn toàn.Phải giữ những nét kiến trúc riêng của đền như phần tam quan
( nội nghi môn ) với đặc trưng của thời Lê Trung Hưng, hay như nơi đặt tấm bia
thờ không thể dỡ bỏ cây cổ thụ ngàn năm để xây đơn nguyên kiến trúc khác.
Tình trạng xâm lấn di tích cũng cần được ngăn chặn kịp thời để đảm bảo
cảnh quan cho di tích.Xung quanh khu di tích không nên để làm chỗ kinh doanh
22
buôn bán của người dân.Đặc biệt hơn là chúng ta cần bảo vệ khu giếng Ngọc
đang bi ô nhiễm bởi chính ý thức của người dân khi đã vứt rác xuống mặt
hồ.Ban quản lý di tích nên phổ biến cho nhân dân nhận thức được hơn nữa về
giá trị của di tích là một trong tứ trấn quan trọng của Hà Nội.
Bên cạnh đình là Giếng Ngọc vốn xưa là giếng nước ăn của làng. Các
cụ cao niên trong làng cho biết: "Giếng có diện tích chừng hơn 400m2, hình
tròn, được đào rất sâu, nước trong và mát, có bậc lên xuống bằng gạch để
dân làng tiện lấy nước sinh hoạt"; nhưng hình ảnh đó chỉ còn nằm lại trong
ký ức của những bô lão trong làng. Giờ đây, Giếng Ngọc đã trở thành một
ao nước tù đọng, lềnh bềnh rác ruởi, bốc mùi hôi hám. Trước đây, cứ đến xế
chiều khu giếng đã trở thành nơi nghỉ ngơi - giao hòa cuả các cụ, nay Giếng
Để thực hiện một cách tốt nhất việc phát huy giá trị của di tích Đền Kim
Liên thì những người làm công tác quản lý di tích phải nghiên cứu, sử dụng hợp
lý những giá trị chứa trong di tích, lập kế hoạch phù hợp đúng đắn trong công
việc bảo tồn và phát huy tác dụng ở cả hai mặt giáo dục và kinh tế một cách triệt
để góp phần xây dựng xã hội mới.
24
KẾT LUẬN
Ngày nay chúng ta luôn tự hào vì khắp các nơi trên đất nước Việt trải dài
từ Bắc tới Nam nơi đâu cũng có những di tích lịch sử văn hóa. Nó không chỉ có
giá trị tinh thần lớn lao mà còn là nguồn động lực quan trọng để phát triển kinh
tế xã hội bền vững. Đền Kim Liên đã và đang góp phần làm phong phú cho kho
tàng di sản văn hóa của dân tộc và cũng là một mắt xích không thể thiếu trong
chuỗi hạt tinh hoa của văn hóa Việt Nam.
Đền Kim Liên là công trình kiến trúc, tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân
địa phương. Đây không những là nơi thờ thần trấn giữ phía Nam mà còn là nơi
nhân dân thể hiện niềm tin linh thiêng của mình vào phật giáo.
Là một người con tự hào về nền văn hóa lịch sử Việt Nam, hơn nữa lại là
một sinh viên của ngành bảo tàng em đã chọn đề tài : “ tìm hiểu di tích Đền Kim
Liên” ở thuộc làng Kim Liên phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội với
mong muốn dùng kiến thức của mình đã được học được góp phần vào bảo vệ di
tích quê hương Việt Nam.
Trong nền văn hóa Việt Nam, Đền Kim Liên là một trong hàng trăm,
hang ngàn những điểm sang tụ hội bản sắc văn hóa dân tộc. Tìm hiểu di tích
Đền Kim Liên không những để khẳng định những giá trị của nó mà còn góp
phần bảo tồn và phát huy những giá trị ấy trong tương lai. Khẳng định giá trị của
ngôi chùa trong văn hóa, văn minh Việt Nam và cũng là dịp để chúng ta có thái
độ tích cực hơn đối với những di sản mà lịch sử đã để lại.