Vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích, lễ hội đền trần, tỉnh nam định - Pdf 49

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN QUỲNH NGÂN

VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH,
LỄ HỘI ĐỀN TRẦN, TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Việt Nam học

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN QUỲNH NGÂN

VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH,
LỄ HỘI ĐỀN TRẦN, TỈNH NAM ĐỊNH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học
Mã số: 60 22 11 13

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Ngô Đức Thịnh


Trấn Sơn Nam Hạ xưa (nay là thành phố Nam Định) còn được gọi là phủ
Thiên Trường – một vùng đất địa linh nhân kiệt, với hào khí Đông A rực rỡ đất trời,
được coi là kinh đô thứ hai sau kinh thành Thăng Long của thế kỷ XIII - XIV. Nơi
đây đã sản sinh ra những vị vua anh minh, những tướng lĩnh kiệt xuất làm nên ba
1


lần chiến thắng vang dội của dân tộc Việt Nam đánh bại quân xâm lược Nguyên
Mông, cùng truyền thống hiếu học góp phần gây dựng nên vương triều Trần hùng
mạnh, trở thành một trong những triều đại đỉnh cao của chế độ phong kiến ở nước
ta. Ngày nay dấu ấn đó còn lưu lại tại di tích và lễ hội đền Trần, nay thuộc phường
Lộc Vượng, thành phố Nam Định.
Di tích lịch sử văn hóa đền Trần là một trong những công trình kiến trúc tiêu
biểu của tỉnh. Hiện nay dưới lòng đất khu vực quanh đền Trần còn rất nhiều dấu
tích của hành cung Thiên Trường xưa mà qua các đợt khảo cổ học các nhà nghiên
cứu đã khai quật được như: các dải gạch ngói vụn tạo dáng hình hoa chanh viền
quanh nền của kiến trúc, đường ống thoát nước được xếp bằng gạch hoặc các ống
cống tròn…. Về công trình kiến trúc được xây dựng lại từ thế kỉ XVII là một ngôi
nhà thờ đại tôn họ Trần, đến thời nhà Nguyễn trải qua nhiều lần trùng tu, dựng thêm
một số gian còn lưu lại như công trình kiến trúc ngày nay. Ngày 15/10/2007, Thủ
tướng chính phủ đã quyết định phê chuẩn xây dựng Dự án bảo tồn, tôn tạo và phát
huy giá trị khu di tích lịch sử văn hóa thời Trần ở Nam Định. Nhận thấy được giá trị
khoa học và lịch sử lớn của triều Trần. Ngày 27/9/2012 khu di tích lịch sử văn hóa
đền Trần - chùa Tháp được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng
chính phủ kí quyết định. Ngày 19/12/2014 lễ hội đền Trần được công nhận là di sản
văn hóa phi vật thể quốc gia.
Lễ hội đền Trần bao gồm hai kỳ lễ hội lớn trong năm là lễ khai ấn tổ chức
vào đêm 14 tháng giêng và lễ hội tháng Tám nhân ngày kỵ Đức Thánh Trần vào dịp
20 tháng tám âm lịch hàng năm.
Đặc biệt lễ khai ấn được tổ chức vào đêm 14 tháng giêng hàng năm là một

Quần chúng nhân dân là những đối tượng đã sáng tạo nên lịch sử và văn hóa
vậy có nên hay chăng trong công cuộc bảo vệ và phát huy những giá trị di sản văn
hóa người dân trở thành đối tượng thụ động, bị đặt ra ngoài lề công cuộc này.
Do đó cần đặt ra vấn đề phục dựng lễ hội để gìn giữ giá trị nguyên bản cho lễ
hội và trả lại vai trò chủ thể sáng tạo của lễ hội cho cộng đồng cư dân địa phương.
Từ những lý do trên, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Vai trò của cộng đồng
trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích và lễ hội đền Trần, tỉnh Nam
Định” làm luận văn tốt nghiệp hệ đào tạo thạc sĩ ngành Việt Nam học tại Viện Việt
1

Bộ VHTT & DL, Cục DSVH: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Hà Nội, 2012, tr.49.

3


Nam học và khoa học phát triển của chúng tôi sẽ góp phần vào việc bảo vệ di tích,
cảnh quan, môi trường, giữ gìn bản sắc dân tộc, chủ quyền quốc gia, quảng bá hình
ảnh đất nước con người Việt Nam, nâng cao ý thức người dân đối với việc phát huy
những giá trị di sản văn hóa, khẳng định vai trò chủ thể của cộng đồng nhân dân với
di tích và lễ hội là những vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cấp thiết hiện nay.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Di sản văn hóa luôn được xác định là tài sản vô giá của mỗi dân tộc, mỗi địa
phương và mỗi quốc gia, và cả nhân loại, là bằng chứng sinh động, xác thực, cụ thể
nhất về đặc điểm văn hóa của từng cộng đồng, địa phương, dân tộc. Bảo tồn và phát
huy di sản văn hóa vừa nhằm mục đích giữ gìn những tinh hoa văn hóa truyền
thống, vừa kế thừa và khai thác giá trị của di sản phục vụ cho quá trình xây dựng
kinh tế - xã hội của đất nước.
Đặc biệt trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay
văn hóa dân tộc nói chung và di sản văn hóa nói riêng đã và đang phải đối mặt với

Ngoài ra các tác giả nước ngoài cũng quan tâm đến việc làm thế nào để lưu
giữ được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương pháp kĩ thuật
mới như Moore7 và Caulton8. Năm 2004 tổ chức JICA của Nhật Bản cùng với Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn có nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành
nghề thủ công Việt Nam.
2.2 Nhóm nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong nước
Những nhà nghiên cứu văn hóa như: GS.TS Nguyễn Văn Huyên, Phan
Khanh, GS.TS Ngô Đức Thịnh, GS.TSKH Lưu Trần Tiêu, GS. Vũ Khiêu, GS. Trần
Quốc Vượng,.... là những tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn góp phần
bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nước ta.
Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, có nhiều công trình nghiên
cứu về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa như: Chương trình khoa học cấp Nhà
nước KX.09 bao gồm Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long
– Hà Nội do PGS.TS Nguyễn Chí Bền chủ biên và Bảo tồn, phát huy giá trị di sản
văn hóa phi vật thể Thăng Long – Hà Nội do PGS.TS Võ Quang Trọng làm chủ
biên. Mỗi nghiên cứu trên đều có những cách nhìn khác nhau tuy nhiên đã nêu rõ
khái niệm, mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, các di sản
4

Heritage and Tourism in the global village. Routedge, 1993

5

Tourism and Heritage Attractions.Routedge, 1993

6

Entersprise and Heritage:Crosscurents of National Culture, Routedge, 1991

7

2.3 Nghiên cứu về di tích và lễ hội đền Trần, tỉnh Nam Định
Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND,
UBND tỉnh, sự phối hợp của các cơ quan trung ương, chính quyền địa hương. Sở
VHTT & DL đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu, tọa đàm
nhằm từng bước làm sáng tỏ các giá trị lịch sử văn hóa của các di tích, lễ hội, danh
nhân thời Trần tại Nam Định:
Ngày mùng 8,9/9/1995 Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nam Hà (nay là Nam
Định) tổ chức hội thảo khoa học Thời Trần và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc
Tuấn trên quê hương Nam Hà. Hội thảo có 36 tham luận của các nhà nghiên cứu
trung ương đến các vụ, viện nghiên cứu và địa phương Nam Định. Hội thảo đã có

6


những tham luận nhằm đánh giá vai trò, vị thế của vương triều Trần trong các lĩnh
vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội, đặc biệt là việc nghiên cứu về thân
thế, sự nghiệp, công lao của người anh hùng dân tộc Quốc Công tiết chế Hưng Đạo
Đại Vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Định.
Năm 2006 Sở VHTT (nay là Sở VHTT&DL) thực hiện đề tài khoa học cấp
tỉnh Lễ hội và các giải pháp quản lý lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định nhằm nghiên
cứu, đánh giá giá trị, thực trạng và đề ra các biện pháp tích cực trong việc tổ chức,
quản lý và phát huy các giá trị của lễ hội, trong đó có lễ hội đền Trần tại phường
Lộc Vượng, tp. Nam Định
Ngày 4 tháng 7 năm 2009 được sự đồng ý của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nam
Định và Bộ VHTT & DL, Sở VHTT&DL Nam Định phối hợp với UBND tp. Nam
Định và Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học: Lễ
khai ấn đầu xuân tại đền Trần Nam Định giá trị và giải pháp bảo tồn, phát huy
truyền thống văn hóa dân tộc.
Tháng 9 năm 2011 Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nam Định tổ chức hội thảo khoa
học: Luận cứ khoa học tổ chức kỷ niệm 750 năm Thiên Trường - Nam Định. Hội

trị văn hóa, lịch sử của di tích đền Trần và các nghiên cứu về lễ hội đền Trần.
Như vâ ̣y có thể thấ y các công trình ng hiên cứu về quần thể di tích đền Trần
rất phong phú nên đã góp phần mô tả cũng như phác họa rất rõ nét các l ễ hội và di
tích ở tỉnh Nam Định nói chung và lễ hội đền Trần nói riêng. Qua đó thể hiê ̣n màu
sắc và giá trị độc đáo của các lễ hội ta ̣i Nam Đi nh.
̣
Tuy nhiên trong những năm gần đây với sự phát triển ngày càng rộng về quy
mô của lễ hội đền Trần đã có nhiều bài viết thể hiện quan điểm về lễ hội đền Trần
cũng như phản ánh thực trạng lễ hội đang diễn ra như thế nào dưới cách quản lí của
Nhà nước và địa phương “Hậu duệ nhà Trần: Lá ấn bị hiểu sai” (Báo Tiền Phong),
“Trẩy hội đền Trần và khát vọng xin ấn” (Phạm Thu Hà - Tạp chí Người cao tuổi).
Trước thực trạng đó báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ “Lễ hội và
các giải pháp quản lí lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định” (Ủy ban nhân dân tỉnh
Nam Định - Sở văn hóa thông tin và du lịch tỉnh Nam Định) năm 2007 và hội thảo
Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định đã kết hợp cùng Bộ Văn hoá thể thao và du lịch
cùng Viện văn hóa nghệ thuật tổ chức hội thảo “Lễ khai ấn đầu xuân tại đền Trần
Nam Định, giá trị và giải pháp bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc”
(năm 2009) nhằm đưa ra giải pháp để bảo tồn các giá trị truyền thống vốn có của lễ
hội đền Trần. Có thể nhận thấy rằng báo cáo t ổng hợp đề tài cũng như những hô ̣i
thảo trên chỉ đề cập tới vấn đề quản lý lễ hội , chứ chưa đề cập nhiều tới di tích . Mă ̣t
khác việc quản lý lễ hội được xây dựng từ góc nhìn qu ản lý nhà nước , chưa đề câ ̣p
8


tới vai trò của người dân điạ phư ơng. Trong khi đó làng xã là nơi không gian văn
hóa linh thiêng đó tồn tại và chính người dân địa phương là những người trực tiếp
tham gia vào lễ hô ̣i , thực hiê ̣n những nghi thức cúng tế và đảm nhiê ̣m những vai trò
chính trong quá trình diễn ra lễ hội.
Vì vậy công trình nghiên cứu của chúng tôi đứng dưới góc nhìn của cộng
đồng dân cư với những thành viên trực tiếp tham dự lễ hội và bảo vệ di tích đố i với

Để tiến hành đề tài nghiên cứu: “Vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo
tồn và phát huy giá trị di tích, lễ hội đền Trần, tỉnh nam Định” chúng tôi tiến hành
các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu;
phương pháp điều tra định lượng, định tính; phương pháp hồi cố, phương pháp quan
sát và phương pháp liên ngành để tiến hành thu thập thông tin, số liệu, hình ảnh
nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu của luận văn
6.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu: Đối với các nghiên cứu
trong nước và quốc tế thu thập tư liệu trên cơ sở các sách, bài báo chuyên khảo đã
được công bố tự đó phân loại, hệ thống và hình thành hệ thống thư mục các tài liệu
quan trọng nhất trên cơ sở áp dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu để thấy
được các đặc điểm chung cũng như các đặc trưng riêng hiện trạng di tích, của cộng
đồng xã hội dẫn đến nghiên cứu vai trò của cộng đồng đối với quá trình bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa.
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp thu thập
thông tin thực địa cơ bản của đề tài. Phiếu trưng cầu ý kiến xây dựng dựa trên cơ sở
của nội dung nghiên cứu để thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu. Chúng tôi đã
tiến hành phát 200 bảng hỏi tại địa bàn làng Tức Mặc, một số trường học và một số
phường xã trong tỉnh, du khách đến tham quan tại di tích và lễ hội.
6.3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này được sử dụng nhằm bổ
sung thêm thông tin định tính cho điều tra định lượng. Các vấn đề không trực tiếp
thu nhận được trong phiếu trưng cầu ý kiến được chúng tôi đưa vào nội dung của
các cuộc phỏng vấn sâu tới các đối tượng có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Cơ
cấu đối tượng được lựa chọn dựa trên cơ sở giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn,
nơi ở sao cho sự phản ánh của thông tin thu được có thể mang tính đại diện cho
tổng thể trong nghiên cứu.
6.4. Phương pháp quan sát: Quan sát kết hợp với phỏng vấn nhanh để tìm
hiểu thực trạng của di tích, nhận thức và nguyện vọng của cộng đồng về các vấn đề
nghiên cứu. Để có thêm cơ sở phục vụ cho những phân tích đánh giá cho nghiên
cứu, tác giả sử dụng phương pháp quan sát trong quá trình đi phỏng vấn bảng hỏi.
10

I. Tài liệu văn bản
1. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ “Lễ hội và các giải pháp quản lí
lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định” (2007), Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định
- Sở văn hóa thông tin và du lịch tỉnh Nam Định.
2. Bộ VH – TT (1999): Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc: thực tiễn và giải pháp, văn phòng Bộ VHTT, báo
Văn hóa, tạp chí Văn hóa nghệ thuật.
3. Bộ văn hóa, Thể thao và du lịch, Cục Di sản văn hóa (2010): Một con đường
tiếp cận di sản văn hóa, tập 5, 6 Nxb Thế giới.
4. Bộ Khoa học và công nghệ - Chương trình KX03/06-10, GS.TS Dương Phú
Hiệp (chủ biên) (2011): Vấn đề phát triển văn hóa và con người Việt Nam
hiện nay, Nxb Hà Nội.
5. Hoàng Chí Bảo (2006): Văn hóa và công nghiệp Việt Nam trong tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb chính trị
quốc gia.
6. Nguyễn Chí Bền (1998): Từ mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa nghĩ về
chính sách kinh tế trong văn hóa hiện nay, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 7.
7. Nguyễn Chí Bền (1996): Vấn đề xã hội hóa với việc bảo tồn kho tàng văn
hóa phi vật thể, Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 11.
8. Nguyễn Chí Bền - Phan Hồng Giang (2005): Đổi mới và phát triển văn hóa
ở Việt Nam, một số vấn đề lí luận và thực tiễn.
9. Nguyễn Chí Bền (2005): Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: thực tiễn và giải pháp.
10. Trương Quốc Bình (2014), Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, Nxb.
Văn hóa thông tin.
11. Chương triǹ h khoa ho ̣c cấ p Nhà nước KX .09, Nguyễn Chí Bền (Chủ biên )
(2010), Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở Thăng Long - Hà
Nội, Nxb Hà Nội.

12

29. Phạm Xuân Nam (2005): Văn hóa vì phát triển, Nxb Khoa học xã hội.
13


30. Phan Ngọc (1999): Một cách tiếp cận văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin.
31. Nhiều tác giả (2007): Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt
Nam, Viện văn hóa nghệ thuật, Hà Nội.
32. Nguyễn Ôn Ngọc, Nam Định dư địa chí.
33. Phạm Quỳnh Phương (năm 2000), bài Từ Trần Hưng Đạo đến Đức Thánh
Trần trên Tạp chí Văn học nghệ thuật số 9.
34. Phạm Quỳnh Phương (năm 2006) bài Đức Thánh Trần trong xã hội Việt
Nam đương đại – Tăng quyền và xung đột, sự đa nghĩa của một hiện tượng
văn hóa trên Tạp chí Văn hóa dân gian số 3, tr.30-40.
35. Nguyễn Hồng Sơn (2002): Quan hệ biện chứng giữa văn hóa và sự phát
triển xã hội trong quá trình định hướng XHCN ở Việt Nam, Luận án PTSKH
Triết.
36. Đỗ Thị Minh Thúy (2004): Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nm tiên
tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc: thành tựu và kinh nghiệm, Viện Văn
hóa & Nxb VHTT.
37. 39. Tài liệu hội thảo khoa học (năm 2009): “Lễ khai ấn đầu xuân tại đền
Trần Nam Định, giá trị và giải pháp bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa
dân tộc, (Bộ VHTT & DL, Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, UBND tỉnh
Nam Định, Sở VHTT & DL tỉnh Nam Định).
38. Trần Thị gia huấn viết năm Thành Thái, mùa xuân năm Ất Tỵ. Bản dịch lưu
tại Bảo tàng tỉnh Nam Định.
39. GS. Hà Văn Tấn (1996): Nguyễn Văn Huyên - Góp phần nghiên cứu văn hóa
Việt Nam, tập 1 - 2, Nxb Khoa học xã hội,.
40. Ngô Đức Thịnh (2012), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb
Trẻ.
41. Ngô Đức Thịnh (2008), Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền, NXB Viện Văn


cho

phát

triển

trên

Tạp

chí

cộng

sản,

link:

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/NghiencuuTraodoi/2008/1537/Tiepcan-nong-thon-Viet-Nam-tu-mang-luoi-xa-hoi-va.aspx.

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status