Luận văn thạc sĩ chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ NGA

CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH
CẤP QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TỪ THỰC TIỄN
KHU DI TÍCH PHỦ CHỦ TỊCH

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ NGA

CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH
CẤP QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TỪ THỰC TIỄN
KHU DI TÍCH PHỦ CHỦ TỊCH

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA


MỞ ĐẦU.....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ CHÍNH
SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH CẤP QUỐC GIA ĐẶC
BIỆT………………………………………………………………………………..12
1.1. Tổng quan chính sách công.............................................................................12
1.2. Khái niệm chính sách văn hóa ........................................................................17
1.3. Đặc trƣng của chu trình chính sách bảo tồn và phát huy giá tri di tích lƣu
niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt ...................................................................18
Kết luận Chƣơng 1 .................................................................................................23
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH PHỦ CHỦ TỊCH 48 NĂM
QUA ………………………………………………………………………..……24
2.1. Thực trạng ban hành chính sách văn hóa và chính sách bảo tồn phát huy giá
trị di sản văn hóa ....................................................................................................24
2.2. Đánh giá kết quả đạt đƣợc của chính sách ......................................................26
2.3. Thực trạng ban hành và thực thi chính sách bảo tồn phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch ...... 27

2.4. Một số vấn đề đặt ra trong bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Chủ tịch
Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế............................59
Kết luận chƣơng 2 ..................................................................................................61
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH...................................63
3.1. Quan điểm đổi mới về hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di
tích quốc gia đặc biệt..............................................................................................63
3.2. Giải pháp tăng cƣờng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị tại Khu
Di tích Phủ Chủ tịch...............................................................................................64
Kết luận Chƣơng 3 .................................................................................................74
KẾT LUẬN ............................................................................................................75
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................78


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Di sản văn hoá, trong đó có các loại hình di tích là tài sản quý giá, có ý
nghĩa quan trọng trong sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc của nhân dân
Việt Nam. Các di tích đó là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng
minh chứng cho lịch sử đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc của nhân dân, là
nơi tham quan, tìm hiểu về cội nguồn dân tộc, tìm hiểu về truyền thống
lịch sử, đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân; từ đó, hiểu đƣợc đặc
trƣng văn hoá và giáo dục các thế hệ tiếp bƣớc truyền thống văn hóa và nhân
văn của dân tộc.
Từ ý nghĩa quan trọng trên, nhiều di tích văn hóa đã đƣợc Nhà nƣớc chú
ý xếp hạng để phân cấp quản lý hiệu quả trong công tác bảo vệ, bảo tồn và
phát huy giá trị di tích. Trong các di tích ở Việt Nam, Khu Di tích Phủ Chủ
tịch đã đƣợc xếp hạng là di tích đặc biệt bởi ý nghĩa lịch sử, chính trị đặc biệt
của mình. Đây cũng là một trong các di tích lớn nhất, có ý nghĩa quan trọng
nhất trong các di tích lịch sử - cách mạng của Việt Nam nói chung và hệ
thống di tích lƣu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nƣớc nói riêng. Với
những giá trị tiêu biểu nổi bật về nhiều mặt, Khu Di tích Phủ Chủ tịch đã nhận
đƣợc sự quan tâm của toàn thể nhân dân trong nƣớc và khách quốc tế đến
tham quan, tìm hiểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh vị Lãnh tụ muôn vàn kính yêu
của nhân dân Việt Nam đƣợc vinh danh là “Anh hùng giải phóng dân tộc và
danh nhân văn hóa thế giới”.
Để phát huy giá trị các di tích trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế, trong thời gian qua, các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc đã quan tâm
ban hành các chính sách quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ và bảo tồn
di tích trên cả nƣớc, đặc biệt là Khu Di tích Phủ Chủ tịch. Tuy nhiên, trong
thực tế bối cảnh mới của quốc tế, khu vực và trong nƣớc, việc bảo tồn, phát
huy giá trị Khu Di tích quốc gia đặc biệt này đã gặp không ít khó khăn nhất


yếu tố bất biến. Chính tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với
2


xu thế phát triển của thời đại mới là yếu tố làm nên tính chất đặc biệt của
Khu Di tích lưu niệm về Người”. Từ đó, tác giả kiến nghị: “Cần nhìn nhận
hoạt động bảo tồn di sản văn hóa nói chung và Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí
Minh tại Phủ Chủ tịch nói riêng trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, hội nhập quốc tế, đặc biệt là tình hình căng thẳng ở biển Đông
thời gian qua để có thái độ ứng xử văn hóa đúng đắn với kho tàng di sản văn
hóa dân tộc – loại “tài sản có giá trị đặc biệt” do các thế hệ cha ông truyền
lại” [10].
Trong một bài viết khác, bài “Về vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị của
các di tích lưu niệm danh nhân”, tác giả Đặng Văn Bài đã đi từ việc xác định
rõ nguyên tắc: “Nguyên tắc bảo tàng học đặt ra yêu cầu: Muốn bảo tồn và
phát huy giá trị di tích, chúng ta phải nhận thức rõ đối tượng mà mình quản
lý về mặt định tính, định lượng cũng như những nét đặc thù tiêu biểu nhất.
Và, tiếp sau đó, là áp dụng các biện pháp kỹ thuật bảo quản, tu bổ, tôn tạo di
tích và sáng tạo các hình thức, nội dung hoạt động hấp dẫn để tuyên truyền,
phổ biến các mặt giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích cho rộng rãi
công chúng trong toàn xã hội”. Từ đó, ông chỉ ra các nhiệm vụ cần quán triệt
trong việc bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch nhƣ sau: “Lý
luận bảo tàng học hiện đại đặt ra yêu cầu phải thông qua việc nghiên cứu
toàn diện các di tích vật thể trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ
Chủ tịch (động sản và bất động sản, cảnh quan thiên nhiên, vườn cây, ao cá
trong khuôn viên di tích) để xác định rõ các mặt giá trị văn hoá phi vật thể
đang ẩn chứa trong từng kỷ vật gắn với đời sống thường nhật của Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Chỉ khi nào nắm vững được các mặt giá trị phi vật thể (tức nội
dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh còn ngưng đọng trong di tích) thì cán
bộ bảo tàng mới thực sự có những đóng góp xứng đáng vào việc giáo dục, bồi

vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh và hội
nhập quốc tế” [15].


4


Từ góc độ hạ tầng kỹ thuật của Khu Di tích Phủ Chủ tịch, Đỗ Đức
Huỳnh viết: “Hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho nhu cầu tối thiểu của di
tích, nhiều hạng mục trong hạ tầng kỹ thuật cần phải được đầu tư để đáp ứng
nhu cầu hoạt động của con người. Đây chính là mâu thuẫn rất khó giải quyết
giữa bảo tồn và phát triển, giữa nguyên tắc nguyên trạng và mục tiêu đáp ứng
các yêu cầu cần thiết của khách tham quan. Một vấn đề không kém phiền
phức nữa chính là tốc độ đô thị hóa quá nhanh và những tiến bộ vượt bậc của
khoa học công nghệ luôn đòi hỏi phải được đưa vào cuộc sống, chính vì thế
nó càng mâu thuẫn với nguyên tắc, nguyên trạng và nguyên gốc của di tích,
những vấn đề liên quan khác. Đây cũng chính là những vấn đề bức xúc, thậm
chí là “nóng” trong quá trình thực hiện bảo tồn di tích, thực hiện nhiệm vụ
cải tạo phát triển hạ tầng kỹ thuật của di tích”. Tác giả cũng đã đề xuất các
giải pháp để giải quyết hợp lý yêu cầu bảo tồn di tích với đòi hỏi cải tạo và
phát triển, xin tóm tắt nhƣ sau: - một là, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, điều kiện
nào cũng phải tuyệt đối tôn trọng các giá trị nguyên gốc hay tính nguyên trạng
của di tích. Tác giả cho rằng, để làm đƣợc việc đó cần thiết phải có một
chƣơng trình sƣu tầm lại toàn bộ hồ sơ di tích qua các thời kỳ, từ khi còn
là Phủ toàn quyền, đến khi là Văn phòng Chủ tịch nƣớc, Văn phòng Chính
phủ và ngay cả biến động khu vực này khi trở thành Khu Di tích quốc gia đặc
biệt để nắm đƣợc các biến đổi của Khu Di tích qua các thời kỳ để thực
hiện tốt công tác quản lý Khu Di tích trong giai đoạn hiện nay. Hai là, cần
chấn chỉnh và đƣa vào nguyên tắc tất cả các hoạt động tu bổ, sửa chữa, cải
tạo hoặc nâng cấp các hạng mục, các di tích hay Khu Di tích. Vì hoạt động

vận dụng các kết quả nghiên cứu qua các đề tài khoa học cấp Bộ, cấp cơ sở
được thực hiện và đánh giá nghiệm thu trong những năm qua vào việc giải
quyết những vấn đề thực tiễn của Khu Di tích, mặt khác cần đẩy mạnh việc
nghiên cứu, xác minh, tư liệu hóa các di tích, các hiện vật gắn liền với từng di
tích, thực hiện việc tin học hóa, nhằm làm sáng tỏ hơn các giá trị của di tích
và hiện vật, tạo cơ sở cho công tác nghiên cứu khoa học và tuyên truyền giáo
dục” [17].
6


Bên cạnh đó, còn có một số đề tài nghiên cứu về Khu Di tích Phủ Chủ
tịch của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao Khu Di tích Phủ Chủ tịch thực
hiện nhƣ sau:
- Đề tài cấp Bộ: "Nghiên cứu và xác định khoa học Khu Di tích lịch sử
Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (khu A)";
- Đề tài cấp Bộ: "Xây dựng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp
để bảo vệ và tôn tạo cho vườn cây di tích trong Khu Di tích lịch sử Chủ tịch
Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch";
- Đề tài cấp Bộ: "Nghiên cứu và xác định khoa học việc trưng bày và
phát huy tác dụng Khu Di tích Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch";
- Đề tài cấp Bộ: "Nghiên cứu, xác định khoa học xây dựng hồ sơ cho cho
các di tích động sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh tai (Khu A) Khu Di tích Phủ
Chủ tịch tại Hà Nội";
- Đề tài cấp Bộ: "Hệ thống hoá tư liệu về hoạt động ngoại giao của Chủ
tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch giai đoạn 1954-1969";
- Đề tài cấp Bộ: "Nghiên cứu tư liệu hoá tài liệu, hiện vật tại Khu Di tích
Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch";
- Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu thực trạng môi trường sinh thái Khu Di
tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch”. Kết quả được Hội đồng nghiệm
thu Bộ Văn hóa thông tin đánh giá xuất sắc;

Luận văn vận dụng cách tiếp cận liên ngành sử học, văn hóa học và chính
sách công. Trong đó, cách tiếp cận quy phạm chính sách công đƣợc phân tích
theo chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá
chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách.
Phương pháp nghiên cứu:
10


- Phƣơng pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp đƣợc sử
dụng nhất quán trong luận văn. Các tài liệu đƣợc phân tích bao gồm các
Văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nƣớc, Bộ ngành ở
Trung ƣơng và địa phƣơng; các kết quả, số liệu của công trình nghiên cứu
đƣợc sử dụng kế thừa trong luận văn gồm các báo cáo, tài liệu thống kê
của chính quyền, ban ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp tới vấn đề Chính sách bảo tồn và phát huy giá tri di tích cấp
quốc gia đặc biệt ở nƣớc ta nói chung và thực tế Khu Di tích Phủ Chủ tịch nói
riêng.
- Phƣơng pháp phỏng vấn sâu: Luận văn sẽ áp dụng phƣơng pháp này vào
việc phỏng vấn sâu một số cán bộ làm việc tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận:
Về mặt lý luận: luận văn sẽ làm sáng tỏ các vấn đề của chính sách công
trong triển khai và thực hiện tại một địa bàn cụ thể là Khu Di tích Phủ Chủ
tịch.
Ý nghĩa thực tiễn:
Về mặt thực tiễn: luận văn sẽ có đóng góp trong việc đề xuất các giải pháp
chính sách nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả chính sách đã ban hành và
triển khai tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc

Thomas Dye định nghĩa chính sách công nhƣ sau: “bất kỳ những gì mà
nhà nước chọn làm hoặc không làm” [20]. Khái niệm về chính sách công của
William Jenkins đƣa ra cụ thể hơn định nghĩa trên. Theo ông, chính sách công
là “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một
nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan
đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình
huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ” [21]. Còn James Anderson
đƣa ra một định nghĩa chung hơn, mô tả chính sách công nhƣ là “một đường
lối hành động có mục đích được ban hành bởi một nhà hoạt động hoặc một
12


nhóm các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan
tâm” [19].
Giáo trình “Hoạch định và phân tích chính sách công” của Học viện
Hành chính Quốc gia xuất bản năm 2013 đƣa ra định nghĩa chính sách công
nhƣ sau: “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với
các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều
hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển”. [18]. Tác giả Đỗ
Phú Hải định nghĩa: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính
trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể
và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể
đã xác định” [11].
Trên cơ sở tham khảo các cách tiếp cận khác nhau về chính sách công,
có thể đi đến một khái niệm: Chính sách công là định hướng hành động do
Nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng
đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội
phát triển theo định hướng, mục tiêu chính sách đã đưa ra.
1.1.2. Vai trò của chính sách công trong quản lý nhà nước
Nhà nƣớc sử dụng chính sách công làm công cụ chính để điều hành, giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status