VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC HƯNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số
: 60.34.04.02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Võ Khánh Vinh
Phản biện 1:PGS.TS. TRẦN THỊ AN
Phản biện 2: PGS.TS. TỪ THỊ LOAN
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ họp tại: Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam…. giờ… ngày…
tháng…. năm: 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
1
chăm lo và bảo vệ di tích.Về cơ bản hệ thống di tích của đất nước đã
được bảo vệ, chăm sóc và tu bổ bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài. Tuy
nhiên, do trải qua hàng chục năm chiến tranh, chúng ta chưa có nhiều
điều kiện chăm lo, bảo vệ di tích nên đến nay, mặc dù đã rất cố gắng
nhưng vẫn còn nhiều di tích bị vị phạm chưa được giải tỏa. Phần lớn các
vi phạm này đã diễn ra từ nhiều chục năm nay, nên việc giải quyết cần
có quyết tâm và sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp.
Trong những năm qua, nhiều di tích đã được phát huy giá trị
một cách tích cực dưới các mức độ khác nhau. Các chương trình
festival ở di tích Cố đô Huế, Đêm rằm Phố cổ Hội An, Hành trình du
lịch về nguồn (các di tích cách mạng ở miền Bắc, miền Trung)... đã
thu hút thêm nhiều khách tham quan và dần trở thành những ngày hội
văn hóa lớn của cả nước.
Các di tích lớn, nhất là đối với các di tích sau khi được ghi
vào danh mục di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, đều trở thành
những địa điểm du lịch hấp dẫn, thu hút một lượng lớn khách du lịch
trong và ngoài nước. Điều đó đưa đến kết quả nguồn thu từ bán vé
tham quan tại di tích và những sản phẩm dịch vụ khác không ngừng
tăng lên, tạo việc làm cho nhiều người lao động, góp phần biến đổi
cơ cấu kinh tế của địa phương.
2.2. Tình hình thực hiện và nghiên cứu về chính sách bảo tồn, phát
huy giá trịcác di tích lịch sử - văn hóa tại tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh trung du – miền núi, nằm ở vùng đông
Bắc Việt Nam. Phía Bắc giáp Bắc Kạn; phía đông giáp các tỉnh Lạng
Sơn, Bắc Giang; phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội; phía tây giáp các
tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang.Tỉnh Thái Nguyên có dân số gần 1,3
- Nghiên cứu và tìm ra những giải pháp nhằm tăng cường
thực hiện tốt chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử
văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động triển khai thực hiện chính sách bảo tồn, phát
huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên thông qua các hoạt động quản lý Nhà nước đối với các di
tích của UBND huyện, đồng thời nghiên cứu hoạt động quản lý, bảo
vệ và khai thác phát huy giá trị các di tích (di tích cấp tỉnh và di tích
quốc gia) của các Ban quản lý di tích và nhân dân địa phương trên
địa bàn huyện.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách bảo tồn và phát
huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ từ
năm 2011 đến 2016.
Sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện chính
sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử- văn hóa trên địa
bàn huyện Đại Từ.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội
học và vận dụng triệt để phương pháp nghiên cứu chính sách công.
Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính
sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện, đánh giá chính sách
công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát
huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên.
5
Chương 3. Tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và phát
huy giá trị các di tích lịch - sử văn hóa.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
1.1.Khái quát về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử - văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di
sản văn hoá lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản
ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống
đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di
sản văn hoá nhân loại.
Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định
“Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai
trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân
ta”[24]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó
nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa.
Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng,
1.2.1. Khái niệm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
các di tích lịch sử - văn hóa
Chính sách văn hóa là một bộ phận của chính sách công,
chính sách văn hóa cũng chỉ có thể ra đời khi có Nhà nước. Tuy
nhiên, cũng như chính sách công, thuật ngữ “chính sách văn hóa” ra
7
đời rất muộn, phải đến những năm nửa sau thế kỷ XX. Năm 1967,
trong Hội nghị bàn tròn, các chuyên gia văn hóa tại Monaco đã đưa
ra một quan niệm về chính sách văn hóa như sau:Chính sách văn hóa
là một tổng thể những thực hành xã hội hữu thức và có suy tính kỹ về
những can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động văn hóa nhằm vào
việc đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân, bằng cách sử dụng tối
ưu tất cả những nguồn vật chất và nhân lực mà một xã hội nào đó sắp
đặt vào một thời điểm thích hợp.
Ngày 29 tháng 6 năm 2001, Quốc hội đã thông qua Luật di
sản văn hóa. Luật này đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 (ngày 18
tháng 6 năm 2009).
Luật di sản văn hóa xác định di sản văn hóa vật thể là sản
phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích
lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc
gia; Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các
di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị
lịch sử, văn hóa, khoa học; Tu bổ di tích lịch sử - văn hoá, danh lam
thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh; Phục hồi di tích lịch sử - văn hoá,
danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử
- văn hoá, danh lam thắng cảnh đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu
khoa học về di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh đó.
hợp với tính đặc thù của các di sản.
1.2.3. Vai trò của thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
các di tích lịch sử văn hóa
Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa nói
chung, di tích lịch sử - văn hóa nói riêng có vai trò hết sức quan trọng
trong đời sống xã hội, góp phần phát triển kinh tế đất nước, phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
9
1.3. Nội dung thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các
di tích lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận quan trọng cấu thành
di sản văn hóa, cho nên bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử
- văn hóa cũng cần được thực hiện theo qui trình và nội dung quản lý
nhà nước về di sản văn hóa.
Di sản văn hoá tồn tại dưới dạng vật thể và phi vật thể. Di sản
văn hóa vật thể gồm di tích, di vật và môi trường cảnh quan xung
quanh di tích đó.
Căn cứ vào Luật di sản văn hóa, việc bảo tồn và phát huy giá
trị các di tích lịch sử văn hóa theo những nội dung sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị
di tích lịch sử - văn hóa.
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp
luật về di tích lịch sử - văn hóa.
- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản
lý di tích lịch sử - văn hóa.
triển khai tại khu vực có di tích nhưng dự án không hề đề xuất bất cứ
biện pháp nào để bảo tồn di tích.
11
Chương 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát
huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên
Đại Từ là vùng đất có bề dàylịch sử, văn hóa, là an toàn khu
cách mạng trong thời kỳ chống thực dân Pháp. Trên địa bàn huyện có
169 điểm di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh,
tính đến tháng 12 năm 2016, Đại Từ có 07 di tích được xếp hạng di
tích Quốc giavà 36 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Những nơi này là
minh chứng cho vùng đất Đại Từ giàu truyền thống văn hóa, truyền
thống yêu nước và cách mạng.
Với những giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, hệ thống di tích
của huyện Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên) là bộ phận quan trọng trong di
sản văn hóa Việt Nam, làđịa chỉ đỏ để giáo dục lịch sử, văn hóa,
truyền thống cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Tuy nhiên những năm trước kia sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
của cấp uỷ Đảng và cán bộ các cấp đối với công tác giáo dục, tuyên
truyền phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử - văn hoá của các khu di tích
chưa thực sự được quan tâm. Sự quan tâm đầu tư con người, cơ sở vật
chất phục vụ công tác quản lý, tuyên truyền chưa tương xứng với yêu
cầu nhiệm vụ. Việc đầu tư quy hoạch tổng thể các khu di tích quan
Sau 05 năm thực hiện Đề án 04/ĐA-UBND ngày 15/7/2011
và 01 năm thực hiện Đề án số 04/ĐA-UBND ngày 09/12/2015 về việc
bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa, danh
lam thắng cảnh trên địa bàn huyện Đại Từ gắn với phát triển du lịch
13
giai đoạn 2016 – 2020, đến nay công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di
tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ đã triển khai thực hiện
các nội dung:
2.2.1.1. Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo tồn, phát huy giá trị
di tích lịch sử - văn hóa
Hàng năm, phòng Văn hóa và Thông tin đã tổ chức các lớp
tập huấn cho cán bộ thôn, xã, Ban quản lý di tích của các xã, thị trấn
về Luật di sản văn hóa và giá trị của các di tích tại địa phương. Thành
phần tham dự lớp học có các đại biểu như: Bí thư Chi bộ, Trưởng
thôn, cán bộ xã, Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Mặt trận Tổ
quốc, Đoàn thanh niên, thành viên các Ban quản lý di tích… Từ việc
lĩnh hội tinh thần của lớp học, các đại biểu sẽ có trách nhiệm tuyên
truyền cho nhân dân để nâng cao ý thức bảo vệ di sản văn hóa. Ngăn
chặn các hành vi xâm hại di tích.
2.2.1.2. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nguồn nhân
lực quản lý
Tại Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử
- văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện Đại Từ kèm theo
Quyết định số 4259/2015/QĐ-UBND ngày 03/6/2015 của UBND
huyện Đại Từ đã phân cấp quản lý rất rõ về công tác quản lý di tích.
Hàng năm, phòng Văn hóa và Thông tin huyện đều quan tâm
chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tham mưu giúp
tích xuống cấp, đối với các di tích lịch sử cách mạng, UBND huyện sử
dụng kinh phí Nhà nước để trùng tu tôn tạo; Đối với những di tích lịch
sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật gắn với tâm linh (Đình, Đền, Chùa) thì
huy động các nguồn kinh phí xã hộ hóa để trùng tu tôn tạo hoặc sửa
chữa.
2.2.1.5. Công tác quản lý, khai thác và phát huy giá trị của di tích
Thực hiện Luật di sản, Quy chế quản lý di tích của tỉnh Thái
Nguyên, Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ đã ban hành Quy chế quản
15
lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh trên địa bàn huyện Đại Từ kèm theo Quyết định số
4259/2015/QĐ-UBND ngày 03/6/2015, nhằm quản lý, bảo vệ và khai
thác giá trị các di tích lịch sử - văn hóa hiệu quả hơn.
Bên cạnh việc trông coi, bảo vệ các di tích, UBND huyện đã
chỉ đạo ngành Giáo dục và Đào tạo huyện đẩy mạnh thực hiện phong
trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” thông qua việc chăm
sóc các di tích lịch sử trên địa bàn, đồng thời tổ chức các hoạt động
ngoại khóa học tập và tìm hiểu ý nghĩa lịch sử của các di tích nhằm
giáo dục lịch sử địa phương cho các em học sinh. Khuyến khích
UBND các xã, thị trấn, Ban quản lý các di tích tổ chức các Lễ hội
gắn với các di tích nhằm gìn giữ những nét văn hóa truyền thống,
hoạt động văn hóa, tín ngưỡng cho nhân dân, kết quả: 100% các di
tích có Ban quản lý, 25% di tích có tổ chức Lễ hội hàng năm, 10% di
tích thường xuyên có các buổi hoạt động ngoại khóa của học sinh.
Năm 2015 Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ đã biên tập một cuốn sách
với tựa đề “Di tích và danh thắng huyện Đại Từ” nhằm bổ sung cho
các trường học trên địa bàn huyện giáo dục lịch sử địa phương cho
2.3. Đánh giá khái quát kết quả thực hiện chính sách bảo tồn và
phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên
* Những kết quả đạt được:
Trong những năm qua, đặc biệt là từ năm 2010 đến nay, việc
thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn
hóa trên địa bàn huyện Đại Từ đã được các cấp ủy đảng, chính quyền
quan tâm thực hiện và bước đầu đã đạt được nhiều kết quả đáng
khích lệ.
Công tác xây dựng, tôn tạo, bảo tồn, quản lý khai thác giá trị
của di tích được các cấp ủy, chính quyền cơ sở quan tâm chỉ đạo,
từng bước đi vào nền nếp: 43 di tích trong tổng số 169 di tích đã
17
được kiểm kê đã được xếp hạng, 20 di tích đã được trùng tu, tôn tạo,
100% di tích đã có Ban quản lý để quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị
theo quy định của Luật di sản.
Một số điểm du lịch tín ngưỡng - tâm linh trên địa bàn huyện
gắn với di tích lịch sử - văn hóa và loại hình du lịch cộng đồng, sinh
thái gắn với việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
trên địa bàn huyện dần được hình thành và kết nối giữa các vùng,
bước đầu đã có hiệu quả nhất định.
* Những hạn chế, tồn tại:
Mặc dù huyện đã có nhiều tích cực trong công tác lập hồ sơ đề
nghị xếp hạng di tích, xong việc xếp hạng di tích còn hạn chế so với số
lượng di tích trong danh sách được kiểm kê.Kinh phí dành cho công
tác trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử còn hạn chế, số lượng di tích
được trùng tu, tôn tạo chưa nhiều.
quyết trong thời gian tới:
+ Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác bảo
tồn, tôn tạo di tích hàng năm.
+ Tích cực tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức trách
nhiệm của các tổ chức, cơ quan đơn vị và nhân dân đối với giá trị các
di tích.
+ Làm tốt công tác quản lý, khai thác hiệu quả các di tích gắn
với phát triển du lịch.
+ Thực hiện tốt công tác chăm sóc, bảo vệ giá trị các di tích.
19
+ Thực hiện việc trùng tu, tôn tạo, tu bổ, sửa chữa các di tích bị
xuống cấp.
+ Đẩy mạnh công tác xã hội hóa, thu hút đầu tư cho công tác
trùng tu, tôn tạo các di tích.
+ Từng bước xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù.
3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và
phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa
Như chúng ta đã biết, bảo tồn, tôn tạo và khai thác phát huy
giá trị của di tích luôn đặt ra trong hoạt động quản lý.Nhưng vấn đề ở
chỗ là bảo tồn, tôn tạo và khai thác, phát huy giá trị của các di tích
như thế nào để đạt được hiệu quả và có tính bền vững (khai thác, phát
huy giá trị di tích đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội mà không làm
xâm hại đến môi trường di tích). Cần lưu ý những giải pháp sau:
3.2.1. Tăng cường và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của các
cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương
Sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị trong việc bảo
tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa huyện Đại Từ. Để thực
khu vực có di tích để góp ý cho bản quy hoạch.
3.2.3. Đẩy mạnh công tác quản lí, giám sát và định hướng hoạt
động bảo tồn, khai thác các di tích lịch sử - văn hóa
- Về hoạt động quản lí, giám sát, kiểm tra xử lý
+ Huyện Đại Từ cần tiếp tục triển khai có hiệu quả phân cấp
về quản lí di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện. Phòng Văn hoá
và Thông tin huyện Đại Từ trực tiếp quản lí hồ sơ của tất cả các di
tích lịch sử - văn hoá; phân công chuyên viên quản lý, giám sát hoạt
động bảo tồn, khai thác di tích lịch sử - văn hoá.
+ Công tác quản lí di tích lịch sử - văn hoá nên có cơ chế quản
lí mang tính chuyên biệt trên sơ sở tuân thủ nghiêm túc các quy định
của Luật di sản văn hóa, Quy chế Bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích
lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh của bộ Văn hoá - thông tin.
21
+ Việc bảo vệ chỉ giới cho các khu di tích cần được thực hiện
nghiêm túc bằng cách: chuyển những hộ dân sinh sống trong chỉ giới
bảo vệ di tích ra ngoài, giải toả việc lấn chiếm trái phép tại các khu di
tích để trả lại cảnh quan, môi trường vốn có.
- Khai thác các giá trị lịch sử - văn hóa vào hoạt động du
lịch mang lại hiệu quả kinh tế cao.
+ Khai thác, phát huy giá trị quý giá của các di tích vào hoạt
động phát triển du lịch là việc làm cần thiết.
3.2.4. Giải pháp xã hội hoá công tác bảo tồn, phát huy giá trị di
tích lịch sử - văn hoá.
Sớm hoàn chỉnh hệ thống chính sách về di tích, nhất là những
chính sách về xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích.
Đặc biệt là những quy định của các Luật thuế cho phép các doanh
Huyện, Tỉnh hay Trung ương tổ chức. Cung cấp cho họ những tài
liệu hướng dẫn về di sản văn hoá vật thể để họ được tiếp cận, nghiên
cứu vận dụng phù hợp với địa phương.
3.2.6. Tăng cường hội nhập, giao lưu giới thiệu văn hoá, con
người Đại Từ
Đối với một đất nước, một dân tộc thì giao lưu văn hoá
không chỉ là quy luật mà trở thành chiến lược phát triển quốc
gia.Không nằm ngoài xu hướng trên, văn hoá huyện Đại Từ muốn
tồn tại và phát triển bền vững cần có sự giao lưu, hội nhập về con
người, văn hoá.
23