Thực hiện chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa từ thực tiễn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC HƯNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Hà Nội - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC HƯNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số

: 60.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. Võ Khánh Vinh

2.1. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di
tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. .................................. 27
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên .......................................... 29
2.3. Đánh giá khái quát kết quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các
di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. .............................. 44
Chương 3.TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN ...................................................... 48
3.1. Quan điểm, mục tiêu, định hướng tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và
phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa ........................................................ 48
3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các
di tích lịch sử - văn hóa ...................................................................................... 53
KẾT LUẬN...................................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 63


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DSVH

: Di sản văn hóa

HĐND

: Hội đồng nhân dân

UBND

: Ủy ban nhân dân


: Đề án - Ủy ban nhân dân

DTLS

: Di tích lịch sử

DTTC

: Di tích thắng cảnh

Nxb

: Nhà xuất bản

BCH TW

: Ban chấp hành Trung ương


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới là
bằng mọi cách khơi dậy sức sống mãnh liệt của dân tộc để hội nhập quốc tế
và phát triển hợp lý, phù hợp với xã hội hiện đại. Để làm được điều đó, nhiều
nước đã tìm về di sản văn hoá (DSVH), bởi DSVH chính là một trong những
cội nguồn sức sống tiềm tàng to lớn của dân tộc được tạo ra trong quá khứ,
cần phải được bảo vệ, duy trì và phát huy trong xã hội hiện đại. Văn hoá là
tiềm lực tinh thần to lớn của mỗi dân tộc, thể hiện ra ở những giá trị hàm chứa
trong vốn DSVH dân tộc được tích lũytheo thời gian lịch sử. DSVH dân tộc

Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh
vấn đề bảo tồn phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa trong sự nghiệp phát
triển văn hoá, nền tảng tinh thần của xã hội, cần tiếp tục đầu tư cho việc bảo
tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hoá vật
thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hoá nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần
phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc. Bảo tồn và phát huy văn hoá, văn
nghệ dân gian.Kết hợp hài hoà việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hoá với
các hoạt động phát triển kinh tế du lịch.
Huyện Đại Từ là một huyện có nhiều điểm di tích lịch sử - văn hóa,
việc thực hiện chính sách bảo tồn di sản của huyện đã được quan tâm triển
khai thực hiện, tuy nhiên trong quá trình thực hiện chính sách cần có sự
nghiên cứu và đánh giá đúng tình hình thực hiện chính sách để đề xuất những
giải pháp hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện trong thời gian tiếp theo.
Xuất phát từ quan điểm đường lối của Đảng, từ thực tiễn huyện Đại Từ việc
thực hiện đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
các di tích lịch sử - văn hóa từ thực tiễn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” là

2


một hoạt động có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và ý nghĩa thời sự cấp bách đối với
huyện Đại Từ nói riêng, đối với tỉnh Thái Nguyên và cả nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình thực hiện và nghiên cứu về chính sách bảo tồn, phát huy giá
trịcác di tích lịch sử - văn hóa ở Việt Nam
Nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa, giá trị của di sản văn hóa
nói chung, di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh nói riêng ngày
càng được nâng cao. Bảo vệ di tích, phát huy giá trị của di tích phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đấu tranh chống vi phạm đã
trở thành nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân. Hàng ngàn di tích

phẩm dịch vụ khác không ngừng tăng lên, tạo việc làm cho nhiều người lao
động, góp phần biến đổi cơ cấu kinh tế của địa phương.
Nhìn chung, hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn bộc lộ
những thiếu sót cơ bản là:
- Mặc dù nhận thức của các ngành, các cấp và của toàn xã hội về vai
trò, ý nghĩa của di tích và trách nhiệm của toàn xã hội đối với di sản văn hóa
đã được nâng cao nhưng chưa sâu sắc và toàn diện và cũng chưa được cụ thể
hóa bằng các biện pháp, kế hoạch và chương trình cụ thể.
- Chúng ta còn lúng túng trong việc xử lý một cách hài hòa mối quan hệ
giữa bảo tồn và phát triển, chưa nhận thức thật sâu sắc vị trí, vai trò của di
tích trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, cá biệt có nơi, có
lúc vẫn tồn tại xu thế thương mại hóa di tích, đặt các mục tiêu, dự án phát
triển kinh tế cao hơn các mục tiêu về bảo vệ di tích, thậm chí có những dự án
về phát triển kinh tế được triển khai tại khu vực có di tích nhưng dự án không
hề đề xuất bất cứ biện pháp nào để bảo tồn di tích.
- Công tác quản lý di tích vẫn cần tiếp tục được củng cố, còn nhiều di
tích cần phải giải tỏa sự vi phạm.

4


- Công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn
thiếu định hướng, thiếu những chính sách, chế tài để khuyến khích, kêu gọi sự
đóng góp của các tổ chức, cá nhân. Các nguồn lực do dân đóng góp chưa
được qui tụ dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước, nên không được định
hướng để sử dụng có hiệu quả.
2.2. Tình hình thực hiện và nghiên cứu về chính sách bảo tồn, phát huy giá
trịcác di tích lịch sử - văn hóa tại tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh trung du – miền núi, nằm ở vùng đông Bắc Việt
Nam. Phía Bắc giáp Bắc Kạn; phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang;

đồng bào Tày, lễ cấp sắc của các dân tộc Tày, Dao, Sán Chay, Sán Dìu; nghệ
thuật diễn xướng Then Tày; các làn diệu Sli (Nùng); lượn Nàng ới, lượn Cọi
(Tày, Nùng), Páo dung (Dao), Sình ca (Sán Chay), Soọng cô (Sán Dìu); Múa
Tắc Xình (Sán Chay); múa rối cạn (Tày) và trong văn hóa dân gian, trong các
phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc…. đã trở thành di sản văn hóa
vô giá của tỉnh.
Xác định di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) là một tài sản quý, vô
giá, là bộ phận cấu thành “nền tảng tinh thần” của nhân dân các dân tộc trong
tỉnh và là tiềm năng to lớn cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội nên nhiều
năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa đã
được Đảng bộ và chính quyền tỉnh dành cho sự quan tâm đặc biệt, cả trong
công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư:
Để công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn toàn
tỉnh thực hiện thống nhất, nâng cao hiệu quả hiệu lực, hiệu quả trong công tác
quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân
tỉnh Thái Nguyên thường xuyên chỉ đạo triển khai tuyên truyền quảng bá sâu,
rộng các văn bản Luật, dưới Luật tới các cấp chính quyền địa phương để nắm
bắt và chỉ đạo, triển khai thực hiện bằng nhiều hình thức như: Hội nghị, hội
thảo, tập huấn chuyên môn, tham mưu ban hành và trực tiếp ban hành các văn

6


bản…, do vậy trong thời gian gần đây công tác quản lý di sản văn hóa trên
địa bàn toàn tỉnh được thực hiện có hiệu quả góp phần bảo tồn, phát huy giá
trị di sản văn hóa vật thể và phi thể; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản
lý nhà nước tại địa phương, tạo sự đồng thuận trong nhân dân nhằm xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo chủ trương của
Đảng, Nhà nước.
Thái Nguyên là tỉnh đã hoàn thành quy hoạch xếp hạng di tích lịch sử văn hóa – danh lam thắng cảnh. Trong quy hoạch, di tích nào được lập hồ sơ

huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, qua đó phát hiện những vấn đề chính sách và
trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá
trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và
phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa.
- Nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
các di tích lịch sử- văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Nghiên cứu và tìm ra những giải pháp nhằm tăng cường thực hiện tốt
chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động triển khai thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị
các di tích lịch sử - văn hóa huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên thông qua các
hoạt động quản lý Nhà nước đối với các di tích của UBND huyện, đồng thời
nghiên cứu hoạt động quản lý, bảo vệ và khai thác phát huy giá trị các di tích
(di tích cấp tỉnh và di tích quốc gia) của các Ban quản lý di tích và nhân dân
địa phương trên địa bàn huyện.

8


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ từ năm 2011 đến 2016.
Sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử- văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và
phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Chương 3. Tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
các di tích lịch sử- văn hóa.

10


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO
TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
1.1. Khái quát về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử
- văn hóa
Di tích lịch sử - văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá
lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc
trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước
hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ
phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại.
Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá
Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ
phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng
nước và giữ nước của nhân dân ta” [23]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa. Nghị
quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa là tài sản
vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để

Giá trị của di tích kiến trúc nghệ thuật thể hiện ở quy hoạch tổng thể và
bố cục kiến trúc, ở sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc với cảnh quan, ở những
bức chạm khắc trên kết cấu gỗ, ở vẻ đẹp thánh thiện của những pho tượng cổ,
ở nét chạm tinh xảo của những đồ thờ tự...

12


Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều di tích khảo cổ. Các di
tích, di vật khảo cổ học là nguồn sử liệu quan trọng giúp việc biên soạn lịch
sử trái đất và lịch sử dân tộc từ thời tiền/sơ sử tới các thời kỳ lịch sử sau này.
Danh lam thắng cảnh thường được kết hợp giữa công trình tôn giáo tín
ngưỡng với cảnh quan thiên nhiên đẹp. Đất nước ta ở miền nhiệt đới, trải dài
trên nhiều vĩ tuyến, có rừng vàng biển bạc với một hệ động, thực vật đặc biệt
phong phú và nhiều hang động kỳ thú đủ sức hấp dẫn mọi du khách.
Việt Nam, mảnh đất của di tích, từ miền núi tới hải đảo đâu đâu cũng
có di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh. Hàng vạn di tích là nguồn tài
nguyên vô giá cho việc khai thác du lịch bền vững. Khái quát hệ thống di tích
lịch sử văn hóa của Việt Nam có thể đi đến nhận định rằng: Số lượng di tích
của cả nước rất lớn, đa dạng về loại hình và có giá trị to lớn về nhiều mặt.
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản và chính sách nhằm bảo tồn và
phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa: Luật Di sản văn hóa số
28/2001/QH10, ngày 29/6/2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Di sản văn hóa số 32/2009/QH12, ngày 18 tháng 6 năm 2009; Nghị định số:
98/2010/NĐ-CP, ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Di sản văn hóa; Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của
Chính phủ về việc Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy
hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam
thắng cảnh;Thông tư số18/2012/TT-BVHTTDL, ngày 28/12/2012 của Bộ

năm nửa sau thế kỷ XX. Năm 1967, trong Hội nghị bàn tròn, các chuyên gia
văn hóa tại Monaco đã đưa ra một quan niệm về chính sách văn hóa như
sau:Chính sách văn hóa là một tổng thể những thực hành xã hội hữu thức và
có suy tính kỹ về những can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động văn hóa
nhằm vào việc đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân, bằng cách sử dụng tối

14


ưu tất cả những nguồn vật chất và nhân lực mà một xã hội nào đó sắp đặt vào
một thời điểm thích hợp. Năm 2002, UNESCO đưa ra một định nghĩa về
chính sách văn hóa như sau: Chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên
tắc hoạt động quyết định các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành
chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt
động văn hóa.
Chính sách bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử văn hóa là một bộ
phận của chính sách văn hóa, chính sách bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa đã được cụ thể hóa ở nhiều loại văn bản như: Văn kiện của các kỳ đại
hội Đảng, Nghị quyết các hội nghị Trung ương Đảng, Hiến pháp, Chiến lược
phát triển văn hóa, Luật di sản văn hóa và các Thông tư, Nghị định hướng dẫn
thực hiện Luật di sản văn hóa.
Ngày 29 tháng 6 năm 2001, Quốc hội đã thông qua Luật di sản văn hóa.
Luật này đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 (ngày 18 tháng 6 năm 2009).
Luật đã quy định một số điều về bảo tồn và phát huy di tích lịch sử - văn hóa:
Luật di sản văn hóa xác định di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật
chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa,
danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; Di tích lịch sử- văn hóa
là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc
công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Tu bổ di tích lịch sử
-văn hoá, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di
tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; Phục hồi di tích lịch sử - văn hoá,

1.2.2. Đặc điểmthực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
lịch sử - văn hóa
Di sản văn hóa (trong đó có di tích lịch sử - văn hóa) cần được bảo vệ
và phát huy giá trị với tư cách là một bộ phận cấu thành môi trường sống của
nhân loại (môi trường văn hóa xã hội, cái thiên nhiên thứ hai), trong đó lãnh
thổ quốc gia, không gian sinh tồn và hệ thống đô thị và các địa điểm cư dân là

16


những đại diện điển hình nhất. Di sản văn hóa còn được coi trọng và tôn vinh
vì đó là loại tài sản quý giá không thể thay thế, không thể tái sinh, nhưng lại
rất dễ bị biến dạng và tổn thương trước tác động của các nhân tố tự nhiên và
cách hành xử thiếu văn hóa do chính con người gây ra. Theo định nghĩa tại
Điều 1 Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam: Môi trường bao gồm các yếu tố
tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh
con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của
con người và thiên nhiên. Môi trường sống của con người có 3 bộ phận cấu
thành: môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường văn hóa xã
hội, trong đó di sản văn hóa hàm chứa trong bản thân nó cả 3 hợp phần (nơi
chúng ta sống - văn hóa vật thể, cách chúng ta sống - văn hóa phi vật thể và
môi trường thiên nhiên quanh ta). Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa và danh
lam thắng cảnh lại bao hàm: các hạng mục kiến trúc, các địa điểm lịch sử;
môi trường - cảnh quan thiên nhiên bao quanh di tích và giá trị văn hóa phi
vật thể gắn với di tích. Từ đặc trưng đó đặt ra yêu cầu bảo tồn di sản văn hóa
phải gắn với bảo vệ môi trường thiên nhiên và ngược lại, bảo vệ môi trường
thiên nhiên là tạo ra môi trường tự nhiên trong lành cho sự tồn tại lâu dài của
di sản, cao hơn nữa, còn tạo nên sức hấp dẫn thẩm mỹ cho di sản văn hóa.
Về quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cũng có nhiều
quan điểm khác nhau. Nhưng trên thế giới vẫn tựu trung 2 quan điểm như sau:

cứu Anh, Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice,… thì cho rằng không thể không
đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản. Cách
tiếp cận của các nhà khoa học này sống động hơn, quan tâm di sản văn hóa để
phát triển du lịch, để khẳng định tính đa dạng trong sáng tạo của con người.
Còn các tác giả như Corner và Harvey cũng cho rằng việc quản lý di sản cần
đặt dưới một cách tiếp cận toàn cầu hóa. Ngoài ra, các tác giả như Moore và
Caulton cũng cho rằng cần quan tâm làm thế nào lưu giữ được các di sản văn
hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương tiện kỹ thuật mới. Nhìn chung,

18


quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải được thực hiện
nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể. Khi di sản
ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn
hóa - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không
phù hợp với xã hội ấy.
Với quan điểm thứ nhất là đóng gói các sản phẩm văn hóa cần được
bảo vệ trong môi trường khép kín để tránh mọi tác động bên ngoài làm
phương hại đến chúng. Khuynh hướng này mang lại một số kết quả rất đáng
quan tâm. Nhờ các hoạt động bảo tồn đó, trong nhiều năm qua, chúng ta đã
lưu giữ được nhiều sắc thái văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, văn hóa nói chung
trong đó có văn hóa phi vật thể luôn gắn bó với đời sống, con người, với môi
trường xã hội. Do đó, nó luôn biến đổi để phù hợp với mọi thay đổi của cuộc
sống. Bởi vậy, bảo tồn theo khuynh hướng này bộc lộ hạn chế là làm khô
cứng các sản phẩm văn hóa.
Với quan điểm thứ hai là quan điểm thả nổi. Sản phẩm văn hóa nào có
sức sống mãnh liệt, có giá trị, có nền tảng vững chắc do được chắt lọc, chưng
cất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử sẽ có nhiều cơ hội
và lợi thế tự khẳng định mình nhiều hơn. Điều đó phụ thuộc vào các tiêu chí

bảo vệ một cách bất di bất dịch, Hiến chương cũng nêu rõ việc đưa các yếu tố
đương đại vào mà hài hòa được với tổng thể khung cảnh là có thể chấp nhận,
bởi vì các yếu tố mới đó có thể góp phần làm cho khu vực thêm phong
phú.Nói tóm lại là bảo tồn di sản văn hóa cần phải đi kèm với khai thác, phát
huy giá trị của nó trong đời sống. Mặt khác, việc bảo tồn cần phải quan tâm
đến những đặc điểm xã hội trong từng thời điểm cụ thể, tức là phải lựa chọn
để bảo tồn những gì phù hợp với thời đại. Chỉ có như vậy, hoạt động bảo tồn
mới có ý nghĩa và có tính khả thi mà không trở thành lực cản đối với sự phát
triển của xã hội.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status