PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
Lễ hội cổ truyền là một hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần, bắt nguồn và
phát triển từ thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội, sự giao lưu, tiếp biến văn hoá
của cộng đồng. Lễ hội cổ truyền chứa đựng tất cả những khát vọng, những ước
muốn tâm linh vừa linh thiêng, vừa trần tục của cộng đồng dân cư trong những
hoàn cảnh cụ thể. Đây là một bộ phận quan trọng của văn hoá dân tộc, được lưu
truyền qua hàng nghìn năm lịch sử. Muốn nghiên cứu văn hoá truyền thống, lẽ
đương nhiên là phải tìm đến lễ hội, đặc biệt là lễ hội cổ truyền.
Trong những năm gần đây, lễ hội cổ truyền nước ta được quan tâm nghiên
cứu và đạt được nhiều kết quả. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu tập
trung trên bình diện tổng thể khu vực vùng như Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ…
Nghiên cứu về lễ hội cổ truyền ở phạm vi hẹp, thuộc địa bàn của một địa phương,
một tỉnh vẫn còn chưa nhiều. Mặt khác, do mỗi tiểu vùng văn hoá sắc thái riêng,
cho nên khi nghiên cứu lễ hội cổ truyền của người Việt, chúng ta không thể bỏ qua
việc nghiên cứu ở từng địa phương cụ thể. Chính vì vậy, nghiên cứu lễ hội cổ
truyền ở mỗi tiểu vùng văn hoá là những bước đi cần thiết và quan trọng để kế
thừa, phát huy di sản văn hoá dân tộc. Xuất phát từ những đòi hỏi của công tác
nghiên cứu văn hoá, em chọn đề tài “Quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và
phát huy giá trị văn hoá của lễ hội cổ truyền ở tỉnh Hưng Yên”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
2.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu lễ hội.
Nghiên cứu về lễ hội không phải là một đề tài mới. Từ trước tới nay, đã có
nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Những nghiên cứu của họ có thể tập hợp
và phân loại theo các nhóm sau:
-- Nhóm công trình theo khuynh hướng miêu thuật từng lễ hội cụ thể:
Khuynh hướng sưu tầm nghiên cứu và miêu thuật từng lễ hội cụ thể là khuynh
hướng nổi trội nhất và có số lượng các công trình nhiều nhất như các công trình
của các tác giả Thạch Phương – Lê Trung Vũ, xuất bản năm 1995 có tựa đề: 60 lễ
nghiên cứu và trình bày chi tiết về các lễ hội cổ truyền của Tỉnh.
Ngoài ra còn có cuốn “Những di tích danh thắng tiêu biểu” của Lâm Hải
Ngọc, cuốn sách giới thiệu về các địa danh nổi tiếng của Tỉnh cũng như các lễ hội
của từng đơn vị địa phương.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc khảo
cứu, thống kê giới thiệu, chưa đề cập lễ hội cổ truyền Hưng Yên một cách có hệ
thống và chưa đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo tồn và phát huy lễ hội cổ
truyền trong giai đoạn hiện nay.
Đề tài tiểu luận "Quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy
giá trị văn hoá của lễ hội cổ truyền ở tỉnh Hưng Yên" sẽ cố gắng nghiên cứu lễ hội
cổ truyền Hưng Yên, làm rõ những giá trị văn hoá trong lễ hội, đồng thời đưa ra
những phương hướng, giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá
góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc trên quê
hương.
3. Mục đích, nhiệm vụ của tiểu luận
- Tìm hiểu một số thành tố cơ bản của lễ hội cổ truyền, những giá trị văn
hoá của lễ hội cổ truyền.
- Nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của lễ hội cổ
truyền. Hướng tới một cái nhìn tổng thể về lễ hội cổ truyền ở Hưng Yên.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp, những kiến nghị mong muốn
góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của lễ hội cổ truyền ở Hưng Yên trong
giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống lễ hội cổ truyền, trong đó tập trung làm rõ
một số lễ hội tiêu biểu đang diễn ra hiện nay trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tới lễ hội cổ truyền trên địa bàn
tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến nay (mốc thời gian tỉnh Hưng Yên được tái lập).
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu của tiểu luận
Trong phạm vi kiến thức còn hạn hẹp, bài viết không tránh khỏi thiếu
sót, em rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung ý kiến của các thầy cô để những
bài viết sau của em được hoàn chỉnh hơn.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI CỔ TRUYỀN
1.1. QUAN NIỆM VỀ LỄ HỘI VÀ LỄ HỘI CỔ TRUYỀN
1.1.1. Lễ hội
Việt Nam là đất nước có nền văn hoá lâu đời, nhiều dân tộc cùng sinh sống
trên một lãnh thổ thống nhất, cùng đóng góp phong tục tập quán măng bản sắc riêng
của mỗi vùng miền, dân tộc, tôn giáo... cho nền văn hoá của dân tộc. Trong đó lễ hội
là yếu tố vừa đặc trưng cho mỗi dân tộc, vừa làm cho văn hoá đất nước đặc sắc hơn.
Cho đến thời điểm hiện nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu và lý giải
khác nhau trong giới nghiên cứu. Tựu trung lại trên thực tế đã xuất hiện một số ý
kiến sau đây: có quan niệm chia tách lễ và hội thành hai thành tố khác nhau trong
cấu trúc lễ hội dựa trên thực tế có những sinh hoạt văn hoá dân gian có lễ mà không
có hội hoặc ngược lại. Theo Bùi Thiết thì “Lễ là các hoạt động đạt tới trình độ nghi
lễ, hội là các hoạt nghi lễ đạt trình độ cao hơn, trong đó có các hoạt động văn hoá
truyền thống”; khác với quan điểm trên, nhà nghiên cứu Thu Linh cho rằng:
Lễ (cuộc lễ) phản ánh những sự kiện đặc biệt, về mặt hình thức lệ trong các dịp
này trở thành hệ thống những nghi thức có tính chất phổ biến được quy định một
cách nghiêm ngặt nhiều khi đạt đến trình độ một “ cải diễn hoá” cùng với không khí
trang nghiêm đóng vai trò chủ đạo. Đây chính là điểm giao thoa giữa lễ với hội, và
độc đáo, vừa phong phú đa dạng của dân tộc Việt Nam, vốn có nguồn gốc phát sinh
và phát triển từ rất lâu đời trong lòng lịch sử văn hoá nước nhà. Có thể coi lễ hội cổ
truyền là hình ảnh thu nhỏ của nền văn hoá dân gian cổ truyền dân tộc. Bởi lẽ, trong
lễ hội cổ truyền bao hàm hầu như đầy đủ các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian,
như: về văn học dân gian, có truyền thuyết, thần thoại, thần tích, thần phả, văn tế,
văn bia, hoành phi câu đối, ca dao hò vè...; về nghệ thuật biểu diễn dân gian, có diễn
xướng, sân khấu dân gian, các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc...; về tôn giáo có
phong tục và tín ngưỡng dân gian gồm, các nghi lễ, nghi thức, trò chơi, trò diễn, trò
chơi dân gian, tục lệ, đối tượng thờ cúng, đức tin và kỵ hèm dân gian... Do vậy, lễ
hội cổ truyền không chỉ là một hiện tượng văn hoá dân gian, mà còn là một hiện
tượng lịch sử xã hội. Nó phản ánh khá trung thực và rõ nét cốt cách, bản lĩnh và bản
sắc dân tộc, cùng với tâm linh, nguyện vọng của nhân dân trong suốt thời kỳ lịch sử
dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Lễ hội cổ truyền được ra đời, bảo tồn và phát huy trong lòng lịch sử- văn
hoá dân tộc, nó phản ánh khá đầy đủ và rất sinh động đời sống văn hoá- xã hội mà
đã trải qua. Nhiều yếu tố văn hoá tinh thần được lễ hội cổ truyền bảo lưu và truyền
tụng từ đời này sang đời khác; và thực sự trở thành di sản văn hoá truyền thống vô
giá. Đó chính là kho tàng các giá trị thuộc về tinh hoa văn hoá, phản ánh rõ nét bản
lĩnh và bản sắc dân tộc Việt Nam. Khái niệm cổ truyền được Từ điển tiếng Việt cắt
nghĩa như sau:
“Cổ: Thuộc về thời xa xưa trong lịch sử”;
“Truyền: Để lại cái mình đang nắm giữ cho người khác, thường thuộc thế hệ sau”;
“Cổ truyền: Từ xưa truyền lại, vốn có từ xưa” .
Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền”, Phan Đăng Nhật cho rằng: “ Lễ hội cổ
truyền là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín
ngưỡng, văn hoá nghệ thuật cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc”
và lễ hội “còn là bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hoá tinh thần của người
Việt. Chúng đã sống, đang sống và với đặc trưng của mình, chúng tạo nên sức cuốn
được hình thành trên cơ sở một nghi lễ, tín ngưỡng nào đó. Các lễ hội cổ truyền là
sinh hoạt văn hoá tiến hành theo định kỳ, mang tính cộng đồng (thường là cộng
đồng làng).
Ngoài ra, lễ hội là một di sản văn hoá, một sản phẩm của lịch sử, tồn tại và
vận hành trong bối cảnh xã hội hiện tại.
1.1.3. Giá trị văn hoá của lễ hội cổ truyền
Nghiên cứu giá trị văn hoá của lễ hội cổ truyền, cũng chính là tìm về lễ hội
cổ truyền trong tư cách là một di sản văn hoá quan trọng.
Khái niệm di sản được hiểu một nghĩa đơn giản nhất là tài sản của thế hệ
trước để lại cho thế hệ sau. Hay “chỉ chung cho các tài sản văn hoá như văn học dân
gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học… mà
các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau”.
Luật Di sản văn hoá của Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam xác
định di sản là “sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học,
được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”.
Khái niệm di sản là một khái niệm tiến triển, có nghĩa là nó thay đổi theo
thời gian và không gian. Giờ đây khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với
khái niệm tài sản từ quá khứ nữa vì nó liên quan đến quá trình chọn lọc quá khứ,
nhất là đối với các di sản của cộng đồng (như đối với trường hợp lễ hội). Rõ ràng
là, không phải bất kỳ quá khứ nào cũng có thể trở thành di sản. Chính vì lẽ đó,
chúng tôi quan niệm: Di sản là sự lựa chọn ký ức, báu vật của cộng đồng từ những
quá khứ lịch sử để thể hiện cho nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện
tại.
Di sản văn hoá được hiểu là những gì có giá trị do tổ tiên, cha ông truyền
lại cho con cháu, hoặc nói rộng hơn là thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau. Tuy
nhiên, điều này trên thực tế chưa hoàn toàn thoả mãn những suy luận logic muốn
tìm hiểu kỹ hơn về khái niệm này. Chúng ta biết rằng, không phải bất cứ tài sản gì
do thế hệ trước để lại cho thế hệ sau cũng được xem như di sản. Lấy ví dụ trong
là gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần phái sinh tích hợp.
Nhìn một cách tổng thể, thì lễ hội chủ yếu vẫn thuộc phạm trù cái thiêng,
của thế giới thiêng liêng chứ không phải “cái tục”, cái thuộc về đời sống trần tục.
Ngôn ngữ của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, vượt lên trên đời sống hiện hữu hàng
ngày. Ngay một số sinh hoạt vui chơi, giải trí, thi tài diễn ra trong lễ hội, như đua
thuyền, đấu vật, kéo co,... thậm chí các trò chơi mang tính phồn thực vẫn mang
tính nghi lễ, phong tục chứ không còn mang tính “trần tục” thuần tuý, mà đã trở
thành “cái tục” của thế giới thiêng liêng. Từ đây rút ra một hệ quả mang tính thực
tiễn là hiện nay chúng ta đang phục hồi, phát huy lễ hội cổ truyền thì phải luôn
nhận thức lễ hội thuộc phạm trù cái thiêng, cái biểu tượng, vượt lên
trên thế giới trần tục, thực tại; nếu biến lễ hội thành cái trần tục, thì lễ hội với đúng
nghĩa của nó sẽ không còn nữa.
Lễ hội là một hiện tượng văn hoá dân gian tổng hợp, nên phải tiếp cận nó
như một hệ thống, phân biệt đâu là yếu tố tạo hệ thống, đâu là yếu tố tích hợp, phái
sinh, tìm ra
mối quan hệ hữu cơ giữa chúng và mối quan hệ giữa lễ hội với thực tại xã hội. Nói
cách khác, phải nhận thức diện mạo, bản chất của xã hội như thế nào đã sản sinh ra
hiện tượng lễ hội như thế.
1.1.4.2. Lễ hội cổ truyền - một hình thức diễn xướng tâm linh
Lễ hội cổ truyền là một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, một hình
thức diễn xướng tâm linh.
Diễn xướng được hiểu với hàm nghĩa khá rộng, bao gồm những hành
động và lời nói nhằm biểu đạt một thông tin nào đó giữa một người hay một nhóm
người với một nhóm người khác. Như vậy có thể coi toàn bộ các sinh hoạt văn hoá
dân gian tồn tại dưới dạng các diễn xướng. Hay nói cách khác, diễn xướng là một
môi trường thể hiện, tồn tại và biến đổi của văn hoá dân gian. Vì vậy, về mặt
các huyện Đông Yên, Kim Động, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù Dung của trấn Sơn Nam
và Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của trấn Nam Định (các huyện Thần Khê,
Duyên Hà và Hưng Nhân sau bị cắt vào tỉnh Thái Bình mới thành lập).
Tuy là tỉnh "mới" chỉ non 200 năm, vùng đất Hưng Yên đã nổi danh từ
thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh trước đó với Phố Hiến, vốn là thương cảng đô
hội quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài. Thuyền bè ngược sông Hồng lên Thăng
Long "Kẻ Chợ" đều phải dừng ở Phố Hiến đợi giấy phép nên Phố Hiến trở thành tụ
điểm sầm uất. Người Tàu, người Nhật và người Tây phương đều đến đấy buôn
bán. Do vậy dân gian đã có câu: "Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến"
2.1.2.2. Hưng Yên - vùng đất có nhiều danh thắng và di tích
Hưng Yên có các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh như sau:
• Quần thể di tích Phố Hiến: Văn Miếu Xích Đằng, đền Trần, đền Mẫu,
đền Thiên Hậu, Đông Đô Quảng Hội, Võ Miếu, chùa Chuông, chùa Phố,
chùa Hiến, chùa Nễ Châu, đền Mây, Phố Hiến xưa, hội ả đào...
• Hồ bán nguyệt
• Di tích Chử Đồng Tử - Tiên Dung: (đền Đa Hòa, đền Dạ Trạch, các di
tích liên quan đến Triệu Việt Vương)
• Nhà tưởng niệm Hải Thượng Lãn Ông.
• Cụm di tích Phù Ủng (Ân Thi) liên quan đến danh tướng Phạm Ngũ
Lão, di tích Tống Trân - Cúc Hoa (Phù Cừ)
• Đền thờ bà Hoàng Thị Loan - Thân mẫu chủ tịch Hồ Chí Minh.
• Khu lưu niệm cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh
• Chùa Khúc Lộng - Vĩnh Khúc, Văn Giang ….
2.1.2.3. Hưng Yên - mảnh đất “địa linh, nhân kiệt” trong lịch sử đấu tranh
dựng nước và giữ nước của dân tộc
Nghiên cứu lịch sử hình thành cư dân Hưng Yên, chúng ta có thể rút
ra những nhận xét sau đây:
được tổ chức hàng
năm. Hiện nay các lễ hội đang trong thời kỳ được phục hồi, trong đó có 320
lễ hội được khôi phục. Nhiều lễ hội chưa được khôi phục nhưng các lễ thức
cầu cúng, thờ tự vẫn diễn ra ở hầu hết các di tích thờ tự, tín ngưỡng tôn giáo
nhằm thoả mãn nhu cầu tâm linh của nhiều đối tượng.
Lễ hội cổ truyền diễn ra quanh năm, trong số đó tập trung chủ yếu và
mùa xuân, mang tính đặc thù của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Đây là
Thời điểm mạnh của sinh hoạt cộng đồng. Hầu hết các địa điểm thờ tự, tôn
giáo, tín ngưỡng người dân đều trìm đắm vào một không gian thiêng, trong
một khoảng thời gian thiêng.
Để phân loại lễ hội cổ truyền ở Hưng Yên, có thể dựa trên quan điểm
phân loại của các học giả đã từng nghiên cứu trước đây. Nhà nghiên cứu Lê
Thị Nhâm Tuyết dựa vào tính chất lễ thức, trò diễn mang chức năng văn hoáxã hội, chia lễ hội thành 05 loại: Lễ hội nông nghiệp, lễ hội phồn thực giao
duyên, lễ hội văn nghệ, lễ hội thi tài, lễ hội lịch sử Nhà nghiên cứu Đinh Gia
Khánh phân loại lễ hội theo tính chất tôn giáo và không gian tôn giáo. Nhà
nghiên cứu Lê Trung Vũ chia lễ hội thành 04 loại: Lễ hội tái hiện sinh hoạt
tiền nông nghiệp; lễ hội tái hiện sinh hoạt nông nghiệp; lễ hội tái hiện sự kiện
lịch sử; lễ hội thuộc các đề tài khác,...
2.2.1 Lễ hội đền
Là loại hình lệ hội cổ truyền được tổ chức tại đền và ngôi đền trở
thành không gian lý tưởng- là trung tâm và diễn trường của lễ hội, như lễ hội
đền Tân La thờ bà Bát Nạn đại tướng quân, vị nữ tương xuất sắc của Hai Bà
Trưng. Được tổ chức từ 16 tháng Giêng đến 16 tháng 2 hàng năm.
2.2.2. Lễ hội chùa
Là loại hình lễ hội cổ truyền được tổ chức tại chùa; vì chùa trở thành
không gian tâm linh lý tưởng và là trung tâm, diễn trường của lễ hội. Loại
hình lễ hội này chiếm con số nhỏ tổng số lễ hội đang được tổ chức trên địa
bàn tỉnh như: Chùa Chuông, Chùa Đông, Chùa Am…
ngưỡng dân gian.
• Miếu: Miếu là công trình kiến trúc nhỏ với quy mô rất đa dạng.
Thường có 3 gian chạy dọc vừa có nội điện vừa có nhà tiền tế.
Không có tả hữu gian, sân nhỏ và không có tam quan. Tuy nhiên
cũng có những ngôi miếu đồ sộ như toà nhà lớn, nhiều gian và
nhiều lớp cấu trúc.
• Đền: Đền là nơi thờ thần thánh hoặc những nhân vật lịch sử được
tôn sùng như thần thánh.
• Đình: Đây là công trình kiến trúc công cộng của làng xã nên
thường toạ lạc ở giữa làng. Mỗi làng ở Vĩnh Phúc đều có một ngôi
đình, gọi chung là đình làng.
2.4.2. Bài trí thờ tự- Một thiết chế thực hiện nghi lễ
Trong không gian thiêng liêng ở miếu, đền, đình thì vị thế của khu
nội điện xếp hạng bậc nhất. Đó là trung tâm của sự thờ cúng, nơi định
hình, sản sinh ra nội dung của các giá trị tế lễ và hội hè, tức là các giá trị
văn hoá tâm linh của cả cộng đồng.
Ở vị thế trang trọng nhất của khu di tích (giá trị văn hoá vật thể) các
làng đã tạo ra một sự bài trí theo một thiết chế hoặc là sâu thẳm, hoặc là
hoành tráng nhằm tôn lên sự uy nghiêm của các cuộc hành lễ.
Sự bài trí như sau:
Bài vị: Trên cùng của cung cấm là nơi đặt tượng hoặc bài vị của
các vị thần (Mộc bản có dáng người của các vị thần gọi chung là thần vị -
nơi ở của thần).Tượng và bài vị đều có dòng ghi duệ hiệu của các thần,
gọi là dòng thánh tâm.
Mỗi vị thần là một tượng hoặc một bài vị đặt trong long ngai hoặc
trong khám.
Trước nơi an phụng thần vị là ban thờ, trên đó đặt hòm sắc phong
của các triều đại cùng tư liệu ghi lại thần tích các vị thần.
* Ống sáo (tiêu).
* Bàn cờ.
Mỗi thứ được tạo thành mảng chạm lộng, đặt trên đầu một cán dài
sơn son thếp vàng, cắm vào hai cái giá đặt hai bên trong gian giữa tiền tế.
Phía đầu hàng có hai biển “Tĩnh túc” (yên lặng, trang nghiêm) và “Hồi tị”
(tránh ra xa), dùng đi đầu trong lễ rước.
Lỗ bộ:
Trước hương án có dàn lỗ bộ, hay còn gọi là “chấp kích” gồm 8 thứ vũ
khí thời xưa:
* Long đao
* Mác trường
* Chuỳ
* Kiếm
* Câu liêm
* Đinh ba
* Tay thước
* Nắm tay
Trong thần điện, các làng đều có sắm sửa treo lên các bức hoành
phi hoặc câu đối, những hoành phi câu đối này đều để nói lên công trạng
Từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, ở nước ta nói
chung và Hưng Yên nói riêng lễ hội cổ truyền được phục hồi và phát triển
nhanh chóng. Coi đây là sự “bùng nổ” về lễ hội. Vấn đề này có nguyên
nhân sâu xa của nó. Trước hết là nguyên nhân khách quan, đó là sau nhiều
năm chiến tranh, đất nước được hoà bình, thống nhất, nhân dân phấn khởi
và tin tưởng vào tương lai của cuộc sống. Mặt khác, nền kinh tế đất nước
có những thay đổi căn bản và phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân ngày
càng được nâng cao và cải thiện không ngừng... Đối với tỉnh Hưng Yên,
sau năm 1997 được tái lập tỉnh, nền kinh tế tăng trưởng và phát triển với