Bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Keo Hành Thiện xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định - Pdf 41

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Chùa Keo Hành Thiện từ lâu đã nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp, không gian
yên tĩnh. Chùa tọa lạc trên một khu đất rộng, bằng phẳng gần sông Hồng và
sông Ninh Cơ. Phía trước Tam quan có hồ bán nguyệt và hòn non bộ theo thế
tam sơn, long chầu hổ phục; trên bờ có đôi voi đá khổng lồ, quanh chùa là hàng
cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm. Gác chuông trước cửa chùa là kiến trúc
tam quan nội 5 gian, làm theo kiểu chồng diêm cao 7,5m gồm có 8 cột đại trụ và
16 cột quân được đặt trên đá tảng chạm khắc hoa văn, cảnh hoa sen mang đậm
phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê. Sau gác chuông là cụm kiến trúc trung tâm
gồm tiền đường 5 gian, tòa đệ nhị 3 gian, tòa đệ nhất 3 gian thờ Phật và Thiền sư
Không Lộ. Các nghệ nhân xây dựng chùa đã dồn toàn bộ trí lực tài hoa để tạo
dựng và thể hiện những đường nét chạm khắc tinh vi trên các mảng đố, xà, bảy,
kẻ của từng tòa nhà. Ở 3 bộ cửa ô tiền đường chùa Phật, mỗi cánh cửa được
chạm gỗ với đề tài khác nhau. Kỹ thuật chạm gỗ bong kênh ở mặt tiền hai gian
tòa tiền đường đã đạt tới trình độ cao với đề tài vô cùng phong phú: Long cuốn
thủy, ly ngậm ngọc, phượng ngậm cành hoa, tứ linh, nghê đội nóc đao… Đặc
biệt hình rồng được thể hiện lúc ẩn, lúc hiện ở các trạng thái khác nhau với
những đường nét khắc họa tinh vi, sắc sảo, sống động và mềm mại theo phong
cách dân gian vùng châu thổ sông Hồng. Sau thờ Phật là đền Thánh thờ Thiền sư
Không Lộ với 3 tòa quy mô được cấu trúc theo kiểu "Thượng bò cuốn hạ kẻ bẩy
và kẻ nội đấu truyền" với trạm khắc hoa văn công phu, tỷ mỷ. Cuối cùng là
mười gian nhà Tổ và nhà oàn, nhà ký đồ với kiến trúc 3 gian và hai bên chùa là
dãy hành lang gồm 80 gian khép kín càng tạo nên vẻ trang nghiêm, bề thế của
tổng thể kiến trúc. Ngoài vẻ đẹp kiến trúc, trong chùa còn lưu giữ, bảo tồn
1


những di vật có giá trị của thời Hậu Lê như án thư, sập thờ, tượng pháp, khánh,



6. Bố cục
Chương 1: Tổng quan về Xuân Trường và lịch sử ra đời chùa Keo Hành
Thiện
Chương 2: Chùa Keo Hành Thiện- giá trị vật chất và tâm linh
Chương 3:Bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị

3


Chương 1
TỔNG QUAN VỀ XUÂN TRƯỜNG VÀ LỊCH SỬ RA ĐỜI
CHÙA KEO HÀNH THIỆN
1.1/. Xuân Trường – một vùng quê văn hiến
1.1.1/. Vị trí địa lý
Xuân Trường là một huyện phía Nam của tỉnh Nam Định, Việt Nam
- Phía Bắc giáp huyện Vũ Thư (Thái Bình)
- Phía Đông Bắc giáp huyện Kiến Xương (Thái Bình)
- Phía Nam giáp huyện Hải Hậu
- Phía Đông Nam giáp huyện Giao Thủy
- Phía Tây giáp huyện Trực Ninh
Ranh giới phía Bắc với tỉnh Thái Bình là sông Hồng.Ranh giới phía Tây
với huyện Trực Ninh là sông Ninh Cơ, ranh giới phía Đông Nam với huyện Giao
Thủy là sông Sò. Làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng nằm ở ngã ba sông Hồng và
sông Ninh Cơ, tiếp giáp với huyện Vũ Thư (Thái Bình) và huyện Trực Ninh.
Xuân Trường là vùng đất thuộc đồng bằng sông Hồng, được bao bọc bởi 3
con sông lớn là: sông Hồng, sông Sò, sông Ninh Cơ. Vùng đất ấy là nơi “ Đất
lành, chim đậu” với quá trình hình thành và phát triển gần một nghìn năm nay.
1.1.2/. Lịch sử hình thành

Xuân Trường tái lập, chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới từ
01/4/1997. Huyện có diện tích hơn 112km2, dân số hơn 18 vạn người trong đó
28,5% đồng bào theo đạo Thiên chúa, với các dơn vị hành chính cấp xã gồm:
Thị trấn Xuân Trường, Xuân Châu, Xuân Thượng, Xuân Hồng, Xuân Thuỷ,
Xuân Thành, Xuân Phong, Xuân Đài, Xuân Tân, Xuân Bắc, Xuân Ngọc, Xuân
Phương, Xuân Trung, Xuân Phú, Xuân Vinh, Xuân Kiên, Xuân Hòa, Xuân Ninh,
Xuân Tiến, Thọ Nghiệp.

5


1.2/. Bảo tồn phát huy di sản Văn hóa ở Xuân Trường
Xuân Trường – Nam Định được biết đến là vùng đất “ địa linh nhân kiệt”
có từ lâu đời. Trải qua trường kỳ lịch sử của đất nước và dân tộc, vùng đất này
mang những tên gọi khác nhau.
Cái tên Xuân Trường với hàm ý sức Xuân Trường tồn mãi đã có từ đầu thế
kỷ XIX.
Từ xưa, Xuân Trường là nơi gặp gỡ giao hội của các mạch giao thông thủy
bộ, chủ yếu là những dòng sông hướng ra biển lớn. Như sông Ninh Cơ, sông
Hồng, sông Sò,…Cảnh quan sinh thái phủ Xuân Trường thật đa dạng, phong
phú. Những cánh đồng trải dài tít tắp với những hệ thống kênh mương ắp đầy
nước mát tạo cho nơi đây sớm trỏ thành trung tâm giao thương, vừa thuận lợi
cho làm ăn, vừa phát triển kinh tế - văn hóa, khiến vùng đất này có vị trí khá đặc
biệt trong lịch sử dân tộc, văn hóa Việt Nam.
Lịch sử đã để lại trên quê hương Xuân Trường nhiều công trình kiến trúc
văn hóa tâm linh, bao gồm: 45 ngôi chùa, 245 đền, đình, miếu; 833 Từ đường;
71 nhà thờ. Đến nay có 29 di tích được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn
hóa, trong đó 9 di tích lịch sử văn hóa được Bộ Văn hóa Thông tin và Du lịch
công nhận, 20 di tích lịch sử văn hóa được UBND tỉnh công nhận.
Kết quả nghiên cứu lịch sử cho thấy đây là địa bàn sinh tụ của nhiều người

Đặng Vũ Chư: nguyên Bộ trưởng Bộ Công nghiệp



Đặng Vũ Hỷ: giáo sư, bác sỹ đầu ngành da liễu



Đặng Vũ Minh: nguyên Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam



Đặng Xuân Kỳ: con trai Tổng Bí thư Trường Chinh, nguyên Viện trưởng
Viện Mác-Lê nin
Nguyễn Đăng Kính: Anh hùng lực lượng vũ trang, nguyên Phó Viện



trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự
Trung ương Việt Nam
Đặng Quốc Bảo: UVTW Đảng PGS -Thiếu tướng, Trưởng ban khoa giáo



TW


Nguyễn Viết Nhiên: Chuẩn Đô đốc (Thiếu tướng), Tiến sĩ, Đại biểu Quốc
hội khóa XIII, Phó Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam


sống tập trung hai bên đường dong đông đúc.Hành Thiện trở thành khu dân cư
sầm uất đông vui từ rất lâu đời.
Trang Hành Cung đến cuối thời Hậu Lê thì được nâng lên thành xã Hành
Cung. Năm 1823, vua Minh Mạng cho đổi tên thành Hành Thiện (chữ Hán: 行

善 ) với ý nghĩa "nơi chỉ làm những điều lành, điều thiện" và ban cho làng 4
chữ "Mỹ tục khả phong" (chữ Hán: 美俗可風) với hàm ý khen ngợi.
Lời ban tặng này cũng hàm ý khen ngợi làng Hành Thiện nổi tiếng là làng
Nho học từ xưa, đã sản sinh rất nhiều danh nhân. Dân số của làng cao nhất chỉ
khoảng 6.000 người nhưng đã nổi tiếng có nhiều người học hành đỗ đạt.
Xưa vùng này có câu Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện ngụ ý phía Đông có
làng Cổ Am (nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng), phía Nam có làng Hành Thiện có
nhiều người học hành đỗ đạt cao. Hoặc câu Đậu phụ Thủy Nhai, tú tài Hành
8


Thiện để chỉ làng Thủy Nhai, cách Hành Thiện không xa, là một làng nổi tiếng
với đặc sản đậu phụ; còn Hành Thiện, dường như gia đình nào cũng có người đỗ
tú tài.
Tại làng Hành Thiện còn có câu Trai học hành, gái canh cửi để nói rằng cái
đáng trọng nhất của con trai Hành Thiện là chuyện đèn sách; cái đáng yêu nhất
của con gái Hành Thiện là chuyện kéo tơ, dệt vải. Một câu thơ nổi tiếng
của Sóng Hồng diễn tả điều này:
"...Trăng xuống làm gương em chải tóc
Làm đèn anh học suốt đêm dài..."
Trong suốt lịch sử của làng được ghi nhận:
Thời Nho học, làng Hành Thiện có 419 người đỗ đạt. Trong đó: 7 đại khoa
(3 tiến sĩ, 4 phó bảng), 97 cử nhân, 315 tú tài. Người khai khoa cho làng là cụ
Nguyễn Thiện Sĩ sinh năm 1501, đỗ Cử nhân năm 1522.Người đỗ cao nhất là
cụ Đặng Xuân Bảng (ông nội của ông Trường Chinh) sinh năm 1828, đỗ Tam

vẹn kiến trúc 400 năm tuổi.
Nguyên thủy gốc tích làng Hành Thiện xuất phát từ ấp Hộ Xá, làng Giao
Thủy, huyện Hải Thanh (sau được nâng thành phủ). Làng Giao Thủy, có tên
Nôm là làng Keo, là một làng cổ có từ trước thế kỷ thứ X, vị trí được cho là
thuộc xã Hộ Xá, huyện Giao Thủy, Nam Định ngày nay. Thiền sư Dương Không
Lộ là người làng, được nhà Lý phong đến bậc Quốc sư, vào năm 1061 thời Lý
Thánh Tông đã cho dựng ở ven sông Hồng ngôi chùa Nghiêm Quang tự, chính
là tiền thân của chùa Keo ở Hành Thiện (Nam Định) và chùa Keo ở Dũng
Nhuệ (Thái Bình) ngày nay.
Cuối đời Lý, phần đất của ấp Hộ Xá bị sạt lở. Một bộ phận dân cư của làng
Giao Thủy di cư đến phía Nam vùng Lạc Quần, lập thành làng Hộ Xá (sau đổi
thành Nghĩa Xá), thuộc phủ Hải Thanh (nay thuộc huyện Nam Trực, Nam
Định). Cả 2 làng cùng thờ phụng chung một ngôi chùa Keo (bấy giờ tên chữ
được đổi thành Thần Quang tự). Thời nhà Trần, phủ Hải Thanh được đổi thành
phủ Thiên Trường. Gần làng Nghĩa Xá có một vườn kim quất (cam ngọt), được
các vua nhà Trần thường hay đến chơi, nên lập thành một trang ấp có tên là
Hành Cung Trang.
10


Năm 1611, nước sông Hồng lên to, làm ngập làng Giao Thủy, gây sạt lở cả
làng Nghĩa Xá. Dân làng Nghĩa Xá di dời vào định cư tại trang Hành Cung cũ,
bờ ở hữu ngạn sông Hồng. Dân làng Giao Thủy định cư ở bờ tả ngạn, chếch về
phía Tây Bắc, lập thành trang Dũng Nhuệ. Các dân làng cũng cho xây dựng các
chùa Keo mới tại gần trang ấp định cư, từ đó hình thành tên gọi làng Keo
Thượng (hay Keo Trên) để chỉ trang Dũng Nhuệ và làng Keo Hạ (hay Keo
Dưới) để chỉ trang Hành Cung. Trang Dũng Nhuệ, đến thời Tự Đứcđược đổi tên
thành xã Dũng Nghĩa, thuộc phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định (nay thuộc
huyện Vũ Thư, Thái Bình). Còn trang Hành Cung từ năm Minh Mạng thứ tư
(1823) đã được đổi thành xã Hành Thiện, thuộc phủ Xuân Trường, tỉnh Nam

Keo. Sau chùa là đền Thánh thờ Đức Thánh Tổ Đại pháp thiền sư Không Lộ,
người chữa khỏi bệnh cho vua Lý Nhân Tông.
Trải dài trên một trục trung tâm là các tòa thờ Phật, thờ Thánh, mặt bằng
chùa Keo Hành Thiện, cùng với dãy hành lang bằng gỗ lim thẳng tắp hai bên, có
thể được xem như một khuôn mẫu của lối kiến trúc nội công ngoại quốc đỉnh
cao thế kỷ XVII. Mặc dầu có quy mô nhỏ hơn nhưng nó lại có niên đại sớm hơn,
nên xét về tổng thể, chùa Keo Hành Thiện có thể xem là khuôn mẫu dựng nên
chùa Keo Thái Bình. Có thể đây chính là lý do mà chùa Hành Thiện được gọi là
chùa Keo trên để phân biệt với chùa Keo dưới (Thái Bình) – ngôi chùa kế thừa
mọi kiểu dáng bố cục để phát huy trở thành ngôi chùa “đệ nhất danh lam”.
Chùa Keo Hành Thiện có một kiến trúc khá giản dị với hai tam quan nội và
tam quan ngoại. Trong lòng kiến trúc là hai điện thờ đều được dựng theo dạng
mặt bằng hình chữ công (I), tạo nên một kiến trúc chữ công kép rất độc đáo
trong số các kiểu thức dựng chùa của thế kỷ XVII. Với hai tam quan ngoại và
tam quan nội thì lối kiến trúc mặt bằng hình chữ công kép này như càng được
nhấn mạnh hơn.
Đặc biệt nữa là Tam quan nội của chùa được dựng theo dạng thức Tam
quan kép tức Tam quan gác chuông với cấu trúc tam quan 5 gian, làm theo kiểu
chồng diêm 2 tầng 8 mái. Nó được dựng trên 8 đại trụ của bốn bộ vì chính và 16
cột quân kê trên chân đá tảng chạm hoa sen.

12


Toàn bộ hệ thống vì kèo được kết cấu theo lối chồng giường đỡ mái, kết
hợp với việc làm gác lửng. Kết cấu này đã khiến người ta khi bước vào chốn
Thiền không có thể chiêm ngưỡng nét đẹp của các đầu dư chạm rồng rất tỉ mỉ.
Lệch về phía bên của gác lửng, người ta đặt một cái thang gỗ để có thể leo lên
gác lửng phía trên chiêm ngưỡng cũng như thỉnh những hồi chuông.
Trên xà ngang giữa hai tầng của Tam quan gác chuông này có ghi một dòng

thì chùa đã trải qua ngót nghét 20 đời ông thủ từ làm công việc trông nom, chăm
sóc.
Bí ẩn lời nguyền
Địa thế làng Hành Thiện mang hình con cá chép. Chẳng biết có phải do
“mắc cạn” mà không vượt qua được ải Vũ Môn để hóa rồng hay không mà đất
Hành Thiện dành vị trí cao nhất để dựng chùa, thờ Phật.
Một khu đất cao nổi lên nơi đầu mõm rô (gò đất cao nơi cửa sông), án ngữ
bờ sông Hồng vào làng. Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành
thiền uyển ngữ lục yếu tập, chùa Hành Thiện doKhông Lộ Thiền sư (1016-1094)
xây cất.
Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra trong một gia đình ngư phủ,
xuất gia theo Thiền sư Lôi Hà Trạch. Tương truyền, khi ngài đắc đạo, Thiền sư
Không lộ có khả năng bay trên không, đi trên mặt nước, có tài thuần phục được
rắn, hổ.
Truyền thuyết còn kể rằng, trước khi viên tịch, ngài hóa thành khúc gỗ
trầm hương, lấy áo đắp lên và khúc gỗ biễn thành tượng. Thánh tượng này nay
còn lưu giữ trong hậu cung, quanh năm khóa kín cửa, cứ sau 12 năm, một chủ lễ
và 4 viên chấp sự được cử ra để làm lễ trang hoàng tượng thánh.
Những người được cắt cử làm nghi lễ tôn nghiêm này phải ăn chay, mặc
quần áo mới, sau khi rước thánh tượng từ cấm cung ra mới dùng nước dừa pha
tinh bưởi để tắm gội và tô son lại cho tượng thánh. Họ buộc phải giữ bí mật
những điều đã thấy khi trang hoàng tượng thánh.Điều đó càng tạo nên lớp sương
bí ẩn bao bọc quanh ngôi chùa nhiều huyền thoại.
Dấu tích đầu tiên của chùa Keo là ở làng Dũng Nhân (huyện giao ThủyNam Định). Năm 1061, Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang bên hữu ngạn

14


sông Hồng. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa; đến năm
1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi tất cả các dấu tích, cả làng mạc lẫn ngôi chùa.



Về mặt quy mô, chùa Keo Thái Bình bề thế hơn nhiều so với chùa Keo
Hành Thiện, thế nhưng về kiến trúc là sự mô phỏng gần như nguyên vẹn. Cả hai
ngôi chùa đều được dựng bằng gỗ lim, liên kết với nhau bằng mộng ngậm, đinh
tre, mộng,…
Nghiên cứu về kiến trúc chùa Keo là cả một quá trình đòi hỏi mất nhiều
công sức, bởi nó tiêu biểu cho kiến trúc thời tiền Lý và hậu Lê, thời kỳ Phật giáo
thịnh trị trên đất nước ta. Sau gần một ngàn năm Bắc thuộc, từ thế kỷ 10, dân tộc
ta giành quyền tự chủ, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ cả về chính trị và văn
hóa. Thái Bình và Nam Định khi đó được coi là những vùng “kinh tế mới”, gắn
với phong trào mở rộng dân cư, khai hoang, lấn đất lập nghiệp.
Cùng với việc xây dựng cuộc sống vật chất của người dân thì các nhà sư
cũng đến đây để xây dựng đền chùa, đảm bảo cuộc sống tâm linh cho các cư dân
vùng đất mới.
Theo sử sách, vùng đất này có tên gọi là Keo hay vùng đất Giao Thủy, nơi
nước sông gặp gỡ với nước sông, nước sông gặp với nước biển tạo nên những
vùng hồ nước mênh mông. Trong cái khoáng đạt của tự nhiên như thế, con
người phải đối mặt với biết bao thử thách, bao rình rập của tự nhiên, thú dữ.
Người ta cần tìm đến những đấng thần linh để được che chở về tinh thần.
Đó cũng là lý do để những ngôi đền, chùa mọc lên với cường độ nhiều ở giai
đoạn này. Còn căn cứ theo năm xây cất của chùa Keo Hành Thiện và chùa Keo
Thái Bình, so sánh với năm sinh, năm mất của Thánh Không lộ Thiền sư có thể
thấy được đó chẳng qua chỉ là sự mở rộng phạm vi truyền bá Đạo phật của các
bậc tăng ni trong dân chúng. Đức Thánh Không Lộ sinh năm 1016, mất năm
1094.
Thời gian ngài sống gắn với việc xây cất chùa Keo trên đất Dũng Nhuệ
(huyện Giao Thủy); sau này do trận lụt lớn năm 1611, chùa dời về đất Hành
Thiện. Hơn 20 năm sau, chùa Keo Thái Bình mới được hoàn thành (năm 1632).
Như thế, sự mở rộng về không gian đó chẳng qua là sự mở rộng phạm vi truyền

(1965-1968 và 1972-1973) do chiến tranh chống Mỹ và năm 1986 do bão.
Không mở hội nhưng Chùa mở cửa để nhân dân vào lễ bái.Phần lễ có 2 lễ chính
là Phục miều y (Thay áo Đức Thánh) vào ngày 13 và Thánh đản vào đêm 14.
Hội lão ông tế ở chùa Thánh vào ngày hạ thuỷ thuyền trải ( trước hoặc cùng
18


ngày khai hội) và ngày mãn hội. Hội lão bà tế ở chùa Phật thường vào ngày 10
và 12.
Phần hội có Phụng nghinh và đua thuyền trải là 2 nội dung nổi trội nhất vào
ngày 12 và 15; xưa còn thêm ngày 10 tháng Chín các năm Dần, Tỵ, Thân, Hợi;
bỏ lệ từ năm Bính Thân 1956. Các hoạt động văn hoá thể thao vui chơi diễn ra
đồng thời hoặc đan xen trong cả tuần lễ hội như thơ ca, cờ tướng trên sân ,tổ tôm
điếm, leo cầu ngô, bắt vịt, múa roi, chọi gà, bế trái, có khi đua xe đạp chậm. Xưa
có đấu vật thu hút nhiều đô ở địa phương khác đến tranh giải. Có năm thêm
phần góp vui của địa phương khác như diễn chèo hay ca kịch do các đoàn văn
công của huyện tỉnh về biểu diễn. Đội múa rồng của phòng văn hoá huyện Bình
Lục (tỉnh Hà Nam) về góp vui lễ hội năm 1994… Phụng nghinh và bởi trải thu
hút nhiều nhất người tham gia và người xem cổ vũ nhưng đã có 21 năm mở hội
mà không phụng nghinh; trái lại đua thuyền trải đã tiến hành trong tất cả các
năm mở hội, lại thêm 4 lần đua thuyền ngoài dịp lễ hội trong 3 năm khác. Lễ hội
Hành Thiện đi vào nề nếp hàng năm, tương đối ổn định về tổ chức và nội dung
từ năm 1991 tới nay với một số thay đổi so với lệ cổ. Đổi khác theo hướng lược
bỏ mê tín dị đoan, lưu giữ bản sắc văn hoá truyền thống quê hương và dân tộc,
bảo tồn di sản văn hoá vật thể và phi vật thể liên quan đến các truyền thuyết,
huyền thoại truyền miệng rộng rãi đã đi vào trang sách.
Lịch trình lễ hội: Thông thường hàng năm làng mở hội từ ngày 10 đến
16 tháng 9 Âm lịch (xưa thường mở hội từ ngày 8 tháng 9 các năm Dần, Tỵ,
Thân, Hợi). Tuy nhiên phải chuẩn bị trước một tháng về thủ tục hành chính, nội
dung, chương trình, kế hoạch, nhân sự và an ninh… Theo quyết định của Bộ

làm trưởng ban gồm 15 thành viên, trong đó có 15% đến 60% số thành viên là
người Hành Thiện, ông trưởng ban quản lý di tích lịch sử văn hoá chùa Hành
Thiện kiêm trưởng ban Tổ chức lễ hội chỉ là 1 trong 3 phó ban Chỉ đạo lễ hội.
Nên chăng bỏ hoặc rút gọn ban chỉ đạo lễ hội?
1.2.4/. Bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị
Huyện Xuân Trường có 165 di tích lịch sử - văn hóa đã được lập hồ sơ
quản lý, trong đó có 31 di tích đã được xếp hạng (9 di tích cấp bộ, 22 di tích cấp
tỉnh). Hằng năm, huyện đều hướng dẫn các xã, thị trấn lập kế hoạch bảo vệ và
20


tăng cường công tác quản lý những di vật, cổ vật, giá trị di sản gắn liền với di
tích; chỉ đạo UBND các xã, thị trấn kiện toàn, củng cố Ban quản lý di tích và
Ban khánh tiết của các di tích. Phòng Văn hóa huyện tổ chức tập huấn cho đội
ngũ cán bộ làm công tác văn hóa và các thành viên trong ban quản lý di tích để
hướng dẫn những vấn đề liên quan đến quản lý di sản văn hóa, đồng thời đẩy
mạnh tuyên truyền để cán bộ, nhân dân nhận thức về tầm quan trọng của công
tác bảo tồn giá trị di tích lịch sử văn hóa, từ đó tích cực tham gia giữ gìn, bảo vệ
di tích.
Lễ hội chùa Keo Hành Thiện (xã Xuân Hồng) - một trong những lễ hội lưu
giữ được khá nhiều hoạt động văn hóa dân gian truyền thống của huyện Xuân
Trường.
Công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử, văn hóa hằng năm trên địa bàn huyện
được đẩy mạnh theo tinh thần xã hội hóa đã thu hút được sự quan tâm ủng hộ,
đóng góp của đông đảo các tổ chức và cá nhân, những người con xa quê hương,
phát tâm công đức của bà con xa gần. Những năm qua, từ nguồn kinh phí xã hội
hóa, hàng chục di tích trên địa bàn huyện đã được trùng tu, tôn tạo đảm bảo chất
lượng và giữ được nguyên vẹn kiến trúc gốc. Tiêu biểu, mới đây chùa Trung (xã
Xuân Trung) đã huy động từ nhân dân trên 3 tỷ đồng để tu bổ, tôn tạo nhà thờ tổ,
khuôn viên. Chùa Ngọc Tỉnh (Thị trấn Xuân Trường) đã được các cá nhân, các

điếm trong lễ hội đền và chùa An Đạo; lễ hội đền Liêu Đông, xã Xuân Tân; chạy
địch thủy - địch hỏa, thi làm cỗ, làm bánh, đu tiên trong lễ hội đền Ngọc Tiên, xã
Xuân Hồng… Công tác bảo tồn, khai thác giá trị các di sản văn hóa dân gian ở
Xuân Trường đang được thực hiện rất tích cực, góp phần vào việc phát huy bản
sắc dân tộc và những bài học về lịch sử, truyền thống dựng nước, giữ nước của
cha ông.
Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa tại Xuân Trường
những năm qua đã góp phần đáng kể vào công tác giáo dục truyền thống cho các
tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Các di tích lịch sử văn hóa đã và đang được
bảo lưu, gìn giữ là những bằng chứng sinh động và là cơ sở để người dân hiểu
sâu sắc hơn về cội nguồn, qua đó nâng cao ý thức coi trọng những giá trị truyền
thống cũng như bản sắc văn hóa của địa phương, đồng thời ý thức được trách
22


nhiệm của mình đối với quê hương. Trong thời gian tới, huyện Xuân Trường
tiếp tục đẩy mạnh việc quản lý, bảo vệ các di sản văn hóa, nhằm phát huy giá trị,
đáp ứng nhu cầu hưởng thụ về văn hóa tinh thần ngày càng cao của các tầng lớp
nhân dân. Huyện chỉ đạo các địa phương và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn
sử dụng các nguồn kinh phí đầu tư có hiệu quả để trùng tu, tôn tạo, quản lý, khai
thác và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, làm tốt việc sưu tầm, bảo
quản các tài liệu hiện vật; tăng cường quản lý các lễ hội truyền thống song song
với đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn
hóa, tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong nhân dân nhằm nâng cao nhận thức,
trách nhiệm bảo vệ các di sản văn hóa.

23


Tài liệu tham khảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status