Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản kiến trúc, đô thị Việt Nam (giai đoạn 2010-2015 - Pdf 34

Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản kiến
trúc, đô thị Việt Nam (giai đoạn 20102015)
Bối cảnh kinh tế xã hội và môi trường hoạt động bảo tồn di sản kiến trúc – đô thị
Bảo tồn di tích, di sản là một hoạt động có tính đa ngành và liên ngành, liên quan đến một loạt
các vấn đề về lịch sử, văn hóa, xã hội, kỹ thuật – công nghệ truyền thống, kỹ thuật – công nghệ
mới… Hoạt động bảo tồn di tích vì vậy rất phức tạp, công phu và tốn kém chi phí hơn nhiều so
với hoạt động xây dựng mới (xét ở cùng một quy mô công trình).

Đình Chu Quyến
Việt Nam có một hệ thống các di tích lịch sử, văn hoá rất phong phú, dày đặc và đa dạng, trải
khắp các vùng miền (theo thống kê của Cục Di sản văn hóa, đến tháng 12/2013, cả nước có
khoảng trên 4 vạn di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh). Hệ thống di tích này đã bị
xuống cấp khá nặng nề, hầu hết các di tích đều cần được trùng tu, tôn tạo với kinh phí từ vài
trăm triệu đến hàng trăm tỷ đồng. Trong giai đoạn 2006-2010, Nhà nước đầu tư 1.635 tỷ đồng
cho mục tiêu chống xuống cấp và tôn tạo cho 1198 lượt di tích. Nhưng trên thực tế, kinh phí hỗ
trợ từ Chương trình mục tiêu chỉ chiếm từ 50-80% tổng vốn đầu tư các dự án. Phần còn lại
được huy động các nguồn vốn từ xã hội. Tuy nhiên, các nguồn vốn trên mới chỉ đáp ứng 1520% nhu cầu trùng tu, tôn tạo của hệ thống di tích Việt Nam (nguồn: cinet.gov.vn). Những năm


gần đây, trong khó khăn chung của nền kinh tế và xã hội Việt Nam, nguồn lực đầu tư cho hoạt
động bảo tồn di tích lại suy giảm. Đây thực sự là một khó khăn lớn khó khắc phục.
Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích lịch sử văn hóa luôn nhận được sự quan tâm
của nhà nước và cộng đồng. Nhà nước đã liên tục ban hành và điều chỉnh các văn bản pháp
luật về bảo tồn di tích. Luật Di sản văn hóa được ban hành năm 2001, đến năm 2009 đã có Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa (số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009). Và
sau đó là các nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện.

Lấy mẫu nấm mốc và khảo sát địa kỹ thuật phục vụ việc lập dự án tu bổ di tích đình Chu Quyến
(Hà Nội)
Bên cạnh đó, sự tham gia có kết quả vào các hoạt động quốc tế như tham gia Công ước Di sản
thế giới, đề nghị đưa di tích Việt Nam vào danh sách di sản thế giới, tham gia bình chọn kỳ quan

lại. Đồng thời sức ép của làn sóng công nghiệp hoá đến sau công việc bảo tồn, nên giá trị của
khu phố được khôi phục đúng thời điểm du lịch phát triển. Vấn đề đặt ra hiện nay là cần quản lý
việc xây dựng tại khu vực kề cận để giảm thiểu sự ảnh hưởng tới khu phố cổ.
- Thành phố Huế, rất đáng để lựa chọn để đầu tư vào bảo tồn đô thị với các khu vực rất đặc
trưng như khu Đại nội Huế, một quần thể kiến trúc lớn đã được công nhận di sản thế giới; khu
Kim Long và Hương Hồ với chùa Thiên Mụ, Văn Miếu, Võ Miếu, nhà vườn; khu Đàn Nam Giao
và các Lăng tẩm nhà Nguyễn; khu phố Pháp dọc theo bờ sông Hương. Trong thực tế thành phố


đã làm được nhiều việc nhằm giữ gìn các di sản này, nhưng có lẽ còn thiếu một quy hoạch bảo
tồn toàn diện và thống nhất cho toàn thành phố.
- Khu phố cổ Hà Nội, hay còn gọi là khu 36 phố phường với diện tích 100ha, đây là cái nôi của
đô thị Hà Nội. Cho đến nay không kể những dự án xây dựng và những quy chế về quản lý thì chỉ
có một số dự án bảo tồn các công trình đơn lẻ được thực hiện, còn những dự án mang quy mô
của bảo tồn đô thị như bao tồn tuyến phố, ô phố hiện mới chỉ nằm trên giấy. Nguyên nhân thì có
nhiều, có thể nêu ra mấy nguyên nhân chính sau:
+ Các dự án chỉ được thực hiện như các dự án đầu tư xây dựng thông thường và chủ yếu mới
dừng lại ở ý tưởng. Các ý tưởng này chủ yếu dựa trên ý kiến chủ quan của các KTS và nhà
quản lý, chưa nghiên cứu sâu những vấn đề xã hội liên quan tới cuộc sống của cư dân nên tính
khả thi thấp.
+ Sự phối kết hợp giữa các ngành, ban chưa cao nên trên góc độ thủ tục hành chính còn nhiều
mâu thuẫn.
+ Tính pháp lý của việc lập dự án và dự án chưa có, hoặc có cũng chưa cao nên rất khó trong
các bước khai triển cũng như phối kết hợp.
+ Các dự án chưa dựa vào cộng đồng.
+ Sự quyết tâm của những người thực hiện chưa cao.
- Đô thị Sa pa, quy chế quản lý (Lào Cai) đã được các nhà quy hoạch – kiến trúc – bảo tồn –
quản lý của vùng Aquitaine (CH Pháp) nghiên cứu và từ đó đề xuất các khu vực cần bảo tồn, tôn
tạo, đồng thời chỉ rõ các công trình cần bảo tồn trong các khu vực và phương thức bảo tồn như
thế nào. Đây là một phương pháp không có gì mới mẻ và phức tạp đối với những ai đã làm công

1. Cần có được bản sắc. Bản sắc ở đây bao gồm tất cả các đặc điểm của đô thị từ vị trí, cảnh
quan, cấu trúc đô thị… và các đặc điểm phi vật thể.
2. Cần có tính liên tục và kế thừa. Đô thị phải có lịch sử, các giai đoạn phát triển không nên phủ
nhận lẫn nhau.
3. Cần có sự đa dạng, tính mềm dẻo và sự thích ứng. Đa dạng trong các cá thể, trong các tập
thể, đa dạng trong nội dung, trong hình thức… đồng thời trong sự phát triển luôn có thay đổi nên


cần có sự điều chỉnh để tiếp thu được cái mới nhưng không làm hỏng những cái đã có.
4. Cần có khả năng tự hoàn thiện. Những vấn đề riêng của từng đô thị cần phải do chính đô thị
đó giải quyết.
5. Cần sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Phải cân đối nguồn “tài nguyên” ta có với sự sử dụng
ngày hôm nay và ngày mai.
Với những mục tiêu và tiêu chí cho sự phát triển bền vững áp dụng vào khía cạnh bảo tồn để
nhìn một cách tổng quát về sự phát triển bền vững của Hà Nội, trong đó những khía cạnh về bản
sắc, tính liên tục và sự kế thừa cũng như khả năng thích ứng được chú trọng phân tích hơn.

Cổng vào khu di tích đền Đinh – Lê (Hoa Lư, Ninh Bình) “khang trang” khác hẳn cổng cũ của di
tích vốn rất khiêm nhường, hòa mình vào khung cảnh thiên nhiên xung quanh
3. Những vấn đề bất cập hiện nay đang gặp phải trong việc bảo tồn đô thị Hà Nội:
- Sự phá vỡ cấu trúc truyền thống.
Điều này đang diễn ra rõ nhất ở khu phố cổ, khu phố mang phong cách châu Âu và những làng
truyền thống, bởi việc xây dựng khá tuỳ tiện do chưa có thiết kế đô thị một cách rõ ràng và các
chỉ số đưa ra còn ít nên thiếu cơ sở cho quản lý thiết kế, quản lý xây dựng. Đồng thời việc áp
dụng luật trong xây dựng và bảo tồn còn quá mới mẻ nên người thiết kế, người quản lý chưa
theo kịp và sự hiểu biết của người dân còn quá ít đã phần nào phá hỏng cấu trúc truyền thống
của đô thị.
- Sự kết nối giữa cục bộ với tổng thể chưa có hiệu quả.
Điều này thể hiện rõ trên những khía cạnh không gian kiến trúc, hình thức kiến trúc, giao thông
đô thị. Thực tế cho thấy vấn đề này chưa được chú ý một cách thích đáng và thiếu sự kết hợp

vững.
Bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di sản kiến trúc, di tích lịch sử văn hóa.
a. Các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản được nhìn nhận, tổ chức thực hiện, kiểm soát
một cách bài bản, chặt chẽ hơn, hướng tới xây dựng các chuẩn mực trong cách tiếp cận và giải
quyết vấn đề trong lĩnh vực này.
- Xuất phát từ nhu cầu và mong muốn nâng cao chất lượng và chuẩn mực hóa các hoạt động
bảo tồn di tích Dự án thực nghiệm tu bổ, tôn tạo đình Chu Quyến được xây dựng và thực hiện
một cách bài bản trên cơ sở các kết quả khảo sát, nghiên cứu toàn diện, kỹ lưỡng về di tích và
được tổ chức thi công theo một quy trình khoa học nghiêm ngặt. Thông qua việc thực hiện dự án
này, những chuẩn mực trong công tác bảo tồn, trùng tu di tích đã được xây dựng để áp dụng với
các di tích khác nhằm nâng cao chất lượng khoa học và hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực bảo tồn,
trùng tu di tích. Dự án trùng tu đình Chu Quyến đã đoạt giải cao nhất về bảo tồn di sản kiến trúc
năm 2010 tại Hội nghị của Hiệp hội Kiến trúc sư Quốc tế (UIA) khu vực châu Á – Thái Bình
Dương. Những kết quả của dự án này đã trở thành “hình mẫu” để nhân rộng ra các trường hợp
khác và là cơ sở khoa học, thực tiễn để ban hành các quy chuẩn trong hoạt động bảo tồn di tích.
- Để giải quyết các mâu thuẫn, tìm ra giải pháp khả thi cho phương án xây cầu vượt qua nút giao
Ô Chợ Dừa đi trên khu di tích Đàn Xã Tắc, một cơ chế đối thoại đã được thực hiện. Hội thảo
chuyên đề được tổ chức với sự tham gia của bên quản lý: Bộ Giao thông Vận tải, UBND thành


phố Hà Nội, Ban quản lý các dự án trọng điểm phát triển đô thị Hà Nội; bên tư vấn: Tổng công ty
tư vấn thiết kế Giao thông vận tải; các nhà khoa học, đại diện cho các hội, ngành: Hội Di sản văn
hóa, Hội Sử học Việt Nam, Hội Khoa học Kỹ thuật cầu đường… Các tiêu chí đối với phương án
cần phải đạt là nút giao khác mức phù hợp quy hoạch, bảo tồn tốt nhất di tích Đàn Xã Tắc, đảm
bảo phát triển giao thông đô thị và hạn chế giải phóng mặt bằng. Ngoài ra, cần nghiên cứu cảnh
quan kiến trúc trong khu vực để nâng cao giá trị khu di tích, trở thành một điểm nhấn trong khu
vực. Phương án được lựa chọn sẽ được lấy ý kiến cộng đồng dân cư 4 phường khu vực quận
Đống Đa, trước khi báo cáo, xin ý kiến các Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Giao thông Vận
tải, Bộ Xây dựng.
Như vậy có thể thấy các vấn đề liên quan đến bảo tồn di sản trong phát triển đã được quan tâm,

Luật Di sản văn hóa được sửa đổi bổ sung năm 2009 và sau đó là Thông tư số 18/2012/TTBVHTTDL Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích đã quy định cá
nhân chủ trì lập quy hoạch, dự án hoặc chủ trì thi công, giám sát dự án bảo tồn, tu bổ di tích phải


có chứng chỉ hành nghề. Qua đó vai trò của KTS trong trong công tác bảo tồn di tích, di sản
được nhìn nhận đầy đủ hơn. Nhưng cũng vì thế mà năng lực của đội ngũ này sẽ có vai trò quan
trọng trong chất lượng của các dự án. Tuy nhiên, hiện nay năng lực của các KTS hoạt động
trong lĩnh vực bảo tồn di sản còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Để cải thiện vấn đề này, từ năm 2010, Viện Bảo tồn di tích đã đề xuất và được giao thực hiện dự
án đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ tu bổ di tích cho các kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng đang hoạt
động trong lĩnh vực bảo tồn di sản. Cùng với việc tổ chức các khoá đào tạo, Viện Bảo tồn di tích
đã xây dựng hệ thống lý thuyết chuyên ngành vừa để hình thành bộ giáo trình chuyên ngành
cần thiết cho đào tạo vừa tiến tới tổng hợp, thống nhất những cơ sở lý luận quan trọng ngành
bảo tồn di tích ở Việt Nam. Đây là bước đi ban đầu rất quan trọng, tuy nhiên cần phải có sự phối
hợp và mở ra ở quy mô rộng lớn hơn mới đáp ứng được nhu cầu thực tế.
c. Việc thiếu cơ sở lý luận, xa rời nguyên lý bảo tồn dẫn đến những tùy tiện, lệch lạc, không đảm
bảo chất lượng khoa học trong hoạt động bảo tồn di tích, di sản.
Trong sự đa dạng, phức tạp với biên độ rộng của hoạt động bảo tồn di tích, thực tế luôn tiềm ẩn
những thách thức và xuất hiện những kết quả không mong muốn do những “ngã rẽ” chệch quỹ
đạo của sự vận dụng kể cả trong bối cảnh đã có những cơ sở lý luận và những chuẩn mực
được tạo ra. Và như thế, nếu không có cơ sở lý luận và chuẩn mực tối thiểu thì không thể tránh
được những sự tùy tiện, phản khoa học trong tu bổ di tích.
Việc tu bổ Đàn Nam Giao ở Thành nhà Hồ – Thanh Hóa (2012) trong dịp chuẩn bị đón bằng
UNESCO công nhận di tích này là Di sản thế giới là một ví dụ về việc xa rời nguyên lý bảo tồn
dẫn đến việc tu bổ tùy tiện, phản khoa học mà nhiều nhà chuyên môn cũng như dư luận phải lên
tiếng. Ở đây, những người thực hiện dự án đã “phục hồi” kiến trúc Đàn Nam Giao với các bậc
cấp, thềm bằng đá và khu vực trung tâm mà không có một cơ sở khoa học chắc chắn nào. Về
khái niệm phục hồi, ngay từ năm 1964, các nhà khoa học trên thế giới đã khẳng định và thống
nhất nguyên tắc cơ bản (trong Hiến chương Venice về bảo tồn và trùng tu các di tích và di chỉ)
rằng “Restoration must stop at the point where conjecture begins” – Phục hồi phải dừng lại tại

cái có thể đem đến xúc cảm và sự hưởng thụ thẩm mỹ cho người xem đã bị loại bỏ. Như thế
sau mỗi lần trùng tu, giá trị lịch sử, văn hóa của di tích lại bị suy giảm, mất mát dần. Điều đó đi
ngược lại với mục đích của bảo tồn
- Xu hướng chú trọng tôn tạo hơn bảo quản, tu bổ.
Tôn tạo là những công việc nhằm mục đích cải thiện môi trường tồn tại của di tích, khôi phục và
kiện toàn cảnh quan bao quanh di tích, tạo thuận lợi cho việc tiếp cận, thăm viếng di tích, hình
thành những cơ sở cần thiết, phù hợp để phục vụ du khách và các hoạt động tại di tích. Trong
các dự án trùng tu, với cách hiểu đúng về “tôn tạo”, hoạt động này sẽ là những phần việc như
xây tường bao quanh khuôn viên di tích, cải tạo, bổ sung hệ thống thoát nước mưa, lát nền sân,
đường đi trong khuôn viên, trồng thêm cây xanh, kè hồ nước, xây thêm các công trình phụ trợ,
lắp đặt hệ thống chiếu sáng…
Trong thực tế trùng tu di tích ở nước ta hiện nay, khái niệm “tôn tạo” lại được nhìn nhận theo
những hướng khác nhau như: làm cho di tích “đẹp lên”, khang trang hơn, đàng hoàng hơn, hay
tiện nghi hơn… Vì thế mà nhiều nhà quản lý và các chủ sở hữu di tích, với mong muốn di tích to
đẹp, “hấp đẫn” hơn, đã lạm dụng tôn tạo để xây dựng những công trình mới với quy mô và khối
lượng lớn. Hậu quả là các thành phần mới đã lấn át di tích gốc, không gian thâm nghiêm bao
quanh di tích bị biến đổi, các giá trị lịch sử, văn hóa bị suy giảm.
Tôn tạo là hoạt động cần thiết nhưng cần thực hiện trong một chừng mục nhất định, tương ứng,
phù hợp với việc bảo tồn, tu bổ các yếu tố gốc cấu thành di tích. Xu hướng chú trọng tôn tạo
hơn bảo quản, tu bổ mà thực chất là lạm dụng quá mức để xây dựng nhiều thành phần mới là
xu hướng cần phải ngăn chặn.
- Xu hướng xây dựng mới các di tích đã mất.
Những di tích đã từng có một quá khứ huy hoàng được ghi chép trong sử liệu hoặc truyền khẩu
trong cộng đồng, nay có thể chỉ còn là phế tích nền móng hay là những công trình của thời kỳ
gần đây xây trên vị trí cũ. Những cứ liệu khoa học xác thực của các công trình đã mất lại quá ít
ỏi, không đủ để làn căn cứ cho việc phục hồi. Trong bối cảnh đó, với ý muốn tái hiện lại những
thứ đã mất, tôn vinh di tích, hay chỉ đơn giản là mong muốn khu di tích khang trang hơn, “hoành
tráng” hơn, “xứng tầm” hơn, nhiều chủ đầu tư, cơ quan quản lý đã quyết định tìm cách khôi phục
lại nhũng công trình đã bị mất theo cách thiết kế công trình dựa vào những thông tin ít ỏi, chủ
yếu là một số sự mô tả trong thư tịch, tư liệu cũ hoặc một số trường hợp còn lại được dấu vết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status