NIỀM TIN của NGƯỜI VIỆT đối với tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN - Pdf 41

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----š›&š›-----

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

NIỀM TIN CỦA NGƯỜI VIỆT ĐỐI VỚI
TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành
Mã số: 62.31.80.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỒI LOAN

Hà Nội -2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công
trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hải Yến


MỤC LỤC
PHỤ LỤC

ở thế giới trần gian đầy rủi ro, bấp bênh; Thờ cúng Tổ tiên còn biểu hiện của đạo lý
làm người, hướng về cội nguồn của gia đình và dân tộc. Thông qua nghi thức Thờ
cúng Tổ tiên, người Việt gửi gắm tình cảm sâu đậm về đạo lý “ ăn quả nhớ người
trồng cây”, và vì “ cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng
sông sâu”, từ đó củng cố thêm lòng hiếu thảo vốn là giá trị đạo đức truyền thống của
người Việt.
Thờ cúng Tổ tiên không chỉ khơi dậy lòng hiếu thảo với bố mẹ, mà còn góp
phần hoà thuận với anh em, có trách nhiệm với cộng đồng huyết tộc, làng xóm và
xã hội. Trong những dịp giỗ Tết, chạp họ, ma chay... anh em, con cháu dù ở gần hay
xa, thân phận mỗi người một khác (giàu nghèo hay sang hèn) cũng cố gắng nhân
ngày ấy mà về quây quần bên nhau để ôn lại công lao của bố mẹ, ông bà, tổ tiên đã
có công sinh thành và nuôi dưỡng mình. Ngoài ra, đây cũng là những dịp này bố
mẹ, anh em, con cháu có dịp hàn huyên, giãi bày tâm sự nhằm giải toả những vướng
mắc, mâu thuẫn trong quan hệ thân tộc đã diễn ra trong đời thường.
Sau một thời gian bị lắng chìm và thu hẹp, từ khi Đảng và Nhà nước ta chủ
trương thực hiện chính sách Đổi mới đất nước, nhất là từ năm 1990 đến nay tín
ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên có cơ hội phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Hiện tượng tu
bổ mồ mả tổ tiên, nhà thờ họ, chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ, xây dựng đình làng;
1


mở rộng di tích đền Hùng, cùng với trào lưu trở về nguồn cội qua việc khôi phục
truyền thống viết gia phả, tộc phả,…diễn ra phổ biến trên khắp mọi miền của đất
nước, thu hút sự tham gia của mọi giai tầng, lứa tuổi, nghề nghiệp, người sống trong
nước cũng như cộng đồng người Việt xa quê hương, xứ sở.
Trước sự khôi phục, phát triển tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên (TCTT) và ảnh
hưởng to lớn của tín ngưỡng này trên các mặt của đời sống xã hội, nhiều nhà khoa
học đã công bố các nghiên cứu mới của họ về TCTT trên các diễn đàn khoa học
trong nước và quốc tế. Hầu hết các nghiên cứu đều xuất phát từ góc độ triết học,
nhân học, tôn giáo học, xã hội học, lịch sử…, rất ít công trình nghiên cứu dưới góc

4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Niềm tin đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên của người Việt
4.2. Khách thể nghiên cứu
4.2.1. Khách thể nghiên cứu chính
Chúng tôi tiến hành khảo sát 304 người, phỏng vấn sâu 27 người, 03 nhóm
thảo luận với 24 người Việt đang sinh sống tại 3 tỉnh, thành (Bắc Ninh, Ninh Bình
và Hà Nội).
4.2.2. Khách thể nghiên cứu phụ
Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát 55 cán bộ quản lý nhà nước trong lĩnh vực
văn hóa và tôn giáo, tín ngưỡng, 95 em học sinh lớp 6 trường phổ thông cơ sở
Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
5. Giới hạn nghiên cứu
5.1.Về nội dung nghiên cứu:
Tín ngưỡng TCTT phản ánh nhiều khía cạnh trong đời sống tâm lý của người
Việt. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu khía cạnh niềm tin đối với tín
ngưỡng này. Đây là yếu tố trung tâm, có ý nghĩa quyết định nhất đến sự tồn tại lâu
dài và bền vững của tín ngưỡng TCTT trong cộng đồng người Việt suốt nhiều thế
kỷ qua cho đến ngày nay.
5.2.Về không gian nghiên cứu:
Chúng tôi nghiên cứu tại 3 tỉnh, thành thuộc đồng bằng Bắc Bộ gồm: Bắc
Ninh, Ninh Bình và Hà Nội. Đây là 3 tỉnh, thành phố có số người Việt chiếm đa số
trong cơ cấu dân số, cụ thể ở tỉnh Bắc Ninh người Việt chiếm tuyệt đại đa số
99,67%, ở tỉnh Ninh Bình chiếm 98%, ở thành phố Hà Nội chiếm 98,73%. Tại mỗi
tỉnh, thành chúng tôi cũng chỉ nghiên cứu khảo sát tại một xã, phường, thị trấn tiêu biểu.
5.3.Về thời gian nghiên cứu:

3





- Đối tượng của niềm tin đối với tín ngưỡng TCTT gồm: niềm tin đối với
linh hồn tổ tiên, niềm tin đối với thế giới khác và niềm tin vào các giá trị đạo đức
chứa đựng trong tín ngưỡng này.
- Niềm tin đối với các giá trị đạo đức của tín ngưỡng TCTT đang có xu
hướng giảm dần, một số giá trị đạo đức của tín ngưỡng TCTT đã được khẳng định
trong xã hội truyền thống bây giờ được ít người tin tưởng, trong khi niềm tin vào
linh hồn tổ tiên và niềm tin vào thế giới khác có phần nổi trội hơn. Điều này đã dẫn
đến những hành vi mang tính chất mê tín dị đoan như đốt vàng mã, gọi hồn, tìm mộ
bằng ngoại cảm…
8. Đóng góp mới của luận án
8.1- Về mặt lý luận
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về niềm tin đối với tín ngưỡng TCTT.
- Bổ sung một số khái niệm dưới góc độ Tâm lý học như khái niệm niềm tin,
tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên, khái niệm niềm tin đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên.
8.2-Về mặt thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án đã chỉ ra thực trạng niềm tin của
người Việt đối với tín ngưỡng TCTT.
- Đề xuất những kiến nghị nhằm định hướng tuyên truyền, giáo dục niềm tin
đúng đắn cho người Việt, đồng thời góp phần giúp cơ quan quản lý nhà nước nhận
diện và xử lý các hiện tượng lợi dụng niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng TCTT.
9. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các công trình đã công bố
của tác giả có liên quan đến đề tài nghiên cứu, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 3 chương:
Chương 1: Cở sở lý luận nghiên cứu niềm tin đối với tín ngưỡng Thờ cúng
Tổ tiên
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu về niềm tin của người Việt đối với tín

cho rằng sở dĩ con người tin vào thần thánh là vì con người đã bất lực trước những
hiện tượng khủng khiếp của tự nhiên. Vì con người sợ hãi trước sức mạnh của tự
nhiên nên họ đã tin vào lực lượng không tồn tại trong thực tế để tìm kiếm sự giúp
đỡ nhằm chế ngự nỗi sợ hãi này. Đến thế kỷ 17, nhà triết học duy vật Baruch

6


Spinoza (1632 - 1677) cũng có cùng quan điểm với Democritus cho rằng khi con
người rơi vào hoàn cảnh khó khăn, bế tắc, không tìm được cách giải quyết thì họ đã
tin vào lực lượng thần thánh đầy bí hiểm [26, tr 44-45]. Như vậy, theo quan điểm
của các nhà triết học duy vật, niềm tin đối với thần thánh hay đối với một tín
ngưỡng, tôn giáo nhất định không phải bắt nguồn từ Thượng đế, lực lượng siêu
nhiên thần thánh mà có nguồn gốc từ các trạng thái tâm lý của con người, đặc biệt
là nỗi sợ hãi.
Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác-Lênin gồm Karl Marx (1818-1883),
F.Engels (1820-1895), V.I.Lenin (1870-1924) không phủ nhận nguồn gốc tâm lý
của tôn giáo và không dưới một lần nhắc đến luận điểm “sự sợ hãi tạo ra thần linh”,
song các nhà kinh điển nhấn mạnh đối tượng gây nên sự sợ hãi là các hiện tượng xã
hội. Từ sự sợ hãi nảy sinh nhu cầu che chở, chế ngự, né tránh…để chống trả nỗi nợ
hãi một cách thụ động qua những hành vi tôn giáo. Tuy nhiên, không phải chỉ có
những tình cảm tiêu cực như sợ hãi, thất vọng, phụ thuộc…mới nảy sinh và nuôi
dưỡng niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo mà ngay cả những tình cảm tích cực
như là sự thỏa mãn, lòng biết ơn, lòng kính trọng…cũng khuyến khích niềm tin đối
với tôn giáo, tín ngưỡng. Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên, thờ những người có công
với dân, với Tổ quốc không phải xuất phát từ sự sợ hãi mà là lòng biết ơn [53, tr 23-24].
Từ cách tiếp cận xã hội học, Max Weber (1864-1920) cho rằng niềm tin của
những tín đồ theo đạo Tin Lành là niềm tin vào Chúa Trời. Niềm tin vào Chúa Trời
phải được thể hiện ở niềm tin vào chính mình có đủ năng lực vượt qua những khó
khăn trong cuộc sống, nỗ lực không ngừng để có cuộc sống tốt hơn trong thế giới

qua tác phẩm Các loại kinh nghiệm tôn giáo (The Varieties of Religious
Experience- A study in Human nature) được xuất bản lần đầu tiên năm 1902. Qua
những dẫn chứng thực tế về kinh nghiệm tôn giáo của các cá nhân trong tác phẩm
này, William James bàn đến tôn giáo cá nhân, kinh nghiệm tôn giáo cá nhân và
niềm tin đối với tôn giáo của cá nhân. Theo James, niềm tin tôn giáo của cá nhân là
sự cảm nhận chân lý nguyên thủy mà tự mình cảm giác được, “loại niềm tin trực
giác phi lý trí này là thứ nằm ở tầng sâu trong con người chúng ta, luận chứng duy
lý chẳng qua chỉ là thứ hiển thị ở bên ngoài” [11, tr 115]. Nói cách khác, việc tự
mình trải qua kinh nghiệm tôn giáo là luận cứ vững chắc nhất củng cố niềm tin của
cá nhân đối với một tín ngưỡng, tôn giáo nào đó, hơn cả những luận cứ đã được

8


khoa học và chủ nghĩ duy lý chứng minh. Đối với những người đã trải qua kinh
nghiệm tôn giáo, cảm giác thực tại về đối tượng thờ phụng của tôn giáo rất chân
thực, đáng tin như bất kỳ kinh nghiệm cảm quan trực tiếp nào. “Đối với một tín đồ
tôn giáo mà nói, nếu anh ta lấy trực giác trầm mặc để phản đối những kết luận của
lý trí, quan điểm chủ nghĩa duy lý sẽ vô phương khiến cho họ tin phục và quy y, bởi
vì trực giác của họ đến từ tầng sâu của nhân tính, vượt ra ngoài phạm vi biện luận
mà chủ nghĩa duy lý chiếm hữu…họ có sẵn trong tâm trí cái chủ định: cái mà ta tin
nhất định chân thực hơn bất cứ một lý lẽ đanh thép nào của chủ nghĩa duy lý” [11, tr
113].
Simund Frued (1856-1939) là người sáng lập ngành Phân tâm học, cũng
được xem là một trong những người khai phá mảnh đất Tâm lý học tôn giáo. Trong
nghiên cứu Tâm lý học tôn giáo, sự quan tâm của Frued chủ yếu tập trung vào
nguồn gốc tâm lý của hiện tượng tôn giáo bằng phương pháp phân tích tinh thần.
Trên cơ sở phân tích đời sống nội tâm của con người, Frued đã phủ nhận vai
trò của ý thức, cho rằng ý thức không phải là động lực thúc đẩy và chi phối toàn bộ
hoạt động của con người mà là “libido” (cái mà sinh ra con người đã có). Libido

Carl Gustav Jung (1875-1961) là người kế thừa và phát triển Phân tâm học
(còn gọi là Tâm lý học tầng sâu), là người thúc đẩy Phân tâm học và tâm lý học tôn
giáo phát triển lên một giai đoạn mới bằng cách phê bình một số quan điểm của
Frued và có nhiều sáng tạo mới. Phát hiện của Jung về vô thức tập thể là đóng góp
quan trọng nhất của ông đối với tâm lý học tôn giáo. Qua việc nghiên cứu mối quan
hệ giữa thần thoại, tôn giáo Phương Đông với hiện tượng vô thức, Jung cho rằng thế
giới vô thức của con người chia là hai loại: vô thức cá nhân và vô thức tập thể. Theo
ông, vô thức cá nhân do các kinh nghiệm cá nhân bị lãng quên hoặc bị áp chế mà
thành, còn vô thức tập thể do di truyền lại trong kết cấu não người. Liên tưởng thần
thoại chủng tộc hoặc ý tưởng thần bí chủng tộc là những mô hình nguyên thủy của
vô thức tập thể mà thần hay Thượng đế là những phương thức biểu đạt cơ bản nhất.
Trong quá trình phát triển nhân cách (Jung gọi là quá trình cá tính hóa), kinh
nghiệm trực tiếp của tín đồ đối với những cái thần bí mang lại cho con người những
cảm thụ phức tạp, chẳng hạn như cảm giác thần bí, cảm giác tôn sùng, cảm giác
hoàn mỹ, cảm giác trông cậy, cảm giác siêu việt…khiến cho con người đặt niềm tin
đối với tôn giáo.

10


Có thể nhận thấy, dù có quan điểm tương đối mới mẻ so với người thầy
Freud, nhưng suy cho cùng Jung vẫn khẳng định niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn
giáo có nguồn gốc bản năng, di truyền, vô thức. Nó vốn tiềm ẩn trong thế giới nội
tâm của mỗi cá nhân và dần được hé lộ trong quá trình trưởng thành về mặt nhân cách.
Nhà Tâm lý học người Mỹ James H.Leuba (1867-1946), tác giả của những
tác phẩm nổi tiếng về Tâm lý học tôn giáo những năm đầu thế kỷ 20, đặc biệt quan
tâm đến hai khía cạnh của niềm tin đối với tôn giáo, đó là: niềm tin đối với thánh
thần và niềm tin vào sự bất tử. Trong cuốn Niềm tin đối với Chúa và sự bất tử (The
belief in god and immortality) [101]. Leuba tập trung tìm hiểm nguồn gốc và đặc
trưng của hai loại niềm tin này. Thông qua các tài liệu nhân học, lịch sử Leuba cho

trong những cách đó dường như là thông qua kinh nghiệm [97]. Cùng quan điểm
này, một học giả khác là Witgensteint cho rằng việc cố gắng chứng minh niềm tin
tôn giáo sẽ không đem lại hiệu quả vì những chứng cứ được đưa ra thường thiếu và
không đủ rõ ràng . Cũng trong tác phẩm này, Michael Argule đưa ra cấu trúc tâm lý
của niềm tin, gồm có 3 yếu tố: nhận thức, xúc cảm và hành vi.
Có thể nhận thấy, các nghiên cứu niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo trên
góc độ tâm lý học đã đi sâu phân tích nguồn gốc tâm lý của loại niềm tin này. Trải
nghiệm về những điều thần bí của cá nhân, bản năng vô thức và ý thức về lợi ích
của tôn giáo là những yếu tố tâm lý được các nhà khoa học xem là nguồn gốc dẫn
đến sự hình thành niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo. Ngoài ra, một số nhà khoa
học cũng đã chỉ ra được một số đặc điểm đặc thù của niềm tin đối với tín ngưỡng,
tôn giáo như là: tính phi logic, tính phi khoa học…Đây là những nghiên cứu rất có
giá trị đối với khoa học tâm lý học tôn giáo nói chung, và là những gợi ý quý giá
đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận án.
1.1.1.2.Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, thờ cúng tổ tiên (TCTT) là
hiện tượng phổ biến. Đến nay, TCTT vẫn còn tồn tại ở nhiều quốc gia, dân tộc. Tuy
vậy, vị trí và vai trò của nó trong đời sống tinh thần của con người ở mỗi nơi mỗi
khác. Ở các quốc gia đưa một tôn giáo thành độc tôn, nhất thần thì TCTT có vai trò
mờ nhạt trong đời sống tinh thần của cá nhân và cộng đồng. Nhưng ở những quốc
gia đa, phiếm thần như ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam…thì TCTT
có vai trò quan trọng, nó tác động không nhỏ tới đời sống tinh thần của toàn xã hội.

12


Tuy nhiên, TCTT ở mỗi quốc gia, dân tộc cũng có những đặc thù riêng, nó phản
ánh nhận thức, nhu cầu, nguyện vọng, niềm tin…của con người ở mỗi nước. Tìm
hiểu TCTT ở mỗi quốc gia, dân tộc này là một trong những cách tiếp cận con người
hiệu quả. Do vậy, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu TCTT ở các nước khác

người dân Việt Nam hiện nay. Đối với cá nhân, TCTT giúp cá nhân thỏa mãn nhu
cầu tâm linh, tiếp tục mối quan hệ giữa người sống và người đã chết. Còn với cộng
đồng, TCTT góp phần củng cố mối quan hệ xã hội giữa các thành viên trong gia
đình, họ tộc [13].
Trong cuộc hội thảo quốc tế về TCTT diễn ra tại Đền Hùng, thành phố Việt
Trì tỉnh Phú Thọ tháng 3/2011 có khá nhiều tham luận về tín ngưỡng TCTT ở Việt
Nam. Có thể kể đến một số nhà nghiên cứu như giáo sư đại học sư phạm Đài Bắc
(Đài Loan) Chung Tông Hiến nghiên cứu về hiện tượng người Việt Nam đưa tổ
tiên Hùng Vương về tận Viêm Đế, Vương Tam Khánh (Đài Loan) có bài Nghiên
cứu TCTT của Việt Nam qua các văn bia chữ Hán, Triệu Minh Long (Trung Quốc)
có bài nghiên cứu so sánh TCTT của nhân dân hai nước Trung - Việt, …[45]. Qua
cuộc hội thảo quốc này cho thấy TCTT đang trở thành một hiện tượng được các nhà
khoa học từ khắp nơi trên thế giới quan tâm. Tuy nhiên, những tác phẩm này và
những bài tham luận trong cuộc hội thảo phần lớn đứng trên góc độ Văn hóa học,
Dân tộc học, Nhân học, Lịch sử…rất ít các tham luận, tác phẩm nghiên cứu về tín
ngưỡng TCTT của các nhà tâm lý học. Điều này chứng tỏ rằng các nhà tâm lý học
trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa quan tâm đúng mức đến TCTT. Chúng tôi
cho rằng, muốn tìm hiểu đời sống tâm linh, tinh thần của người Việt Nam thì cần
chú ý nghiên cứu những yếu tố tâm lý ẩn chứa trong tín ngưỡng TCTT chứ không
chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đặc điểm, biểu hiện hay vai trò của nó trong đời sống
xã hội.
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước
1.1.2.1.Nghiên cứu của các tác giả trong nước về vấn đề niềm tin đối với tín
ngưỡng, tôn giáo
-Nghiên cứu niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo theo các quan điểm ngoài
tâm lý học
Đứng ở góc độ thần học Kitô giáo, Nguyễn Sinh đã sử dụng những kiến
thức khoa học hiện đại để luận giải những vấn đề thuộc đức tin Kitô. Tác giả viện
dẫn nhiều chứng cứ khoa học để chứng minh Chúa tồn tại và niềm tin đối với Chúa


giờ khi làm một việc hệ trọng, tin vào số mệnh (chứ không phải do Chúa an bài), tin
vào bói toán, tướng số, hầu bóng, tử vi, tin vào ngoại cảm… Về những người không

15


theo Kitô giáo, Đặng Nghiêm Vạn nhận xét: “tâm linh tôn giáo của bộ phận không
Kitô giáo là bàng bạc” [88, tr 87]. Đợt nghiên cứu lần hai, tác giả cũng đưa ra nhận
xét tương tự: “Có thể xem đức tin của họ là bàng bạc, là dàn trải sự hiểu biết về
những điều mình tin theo” [89, tr 247].
Vẫn tập trung vào những vấn đề đã được nghiên cứu về niềm tin đối với các
tín ngưỡng tôn giáo của hai đối tượng trên, kết quả điều tra khảo sát lần hai (được
trình bày trong tác phẩm Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam) tác
giả cho rằng biểu hiện niềm tin đối với tôn giáo tín ngưỡng của người Việt Nam
dường như có mức độ đậm, nhạt khác nhau. Giáo dân Kitô giáo đặt niềm tin cả vào
đạo chính và đạo Tổ tiên, còn bộ phận người dân không tin theo Kitô giáo lại dàn
trải niềm tin vào các tôn giáo khác nhau, “niềm tin của họ quyện vào những lời dạy
một cách bình dân những lời của các nhà sáng lập ra các tôn giáo như Phật, Nho,
Đạo, cũng như những lời dạy của tổ tiên truyền lại. Niềm tin đó lại được thể hiện và
củng cố bằng những hành vi các tôn giáo khác nhau” [89, tr 244]. Dù vậy, theo tác
giả, mối quan tâm hàng đầu của bộ phận không Kitô giáo vẫn là đạo Tổ tiên, ngoài
ra họ còn thờ Phật, thờ Mẫu, thờ thần tài, thổ địa, tổ sư các ngành nghề…
Một số tác giả như Vương Duy Quang, Phan Viết Phong nghiên cứu thực
trạng niềm tin đối với đạo Tin Lành. Hoàng Minh Đô nghiên cứu niềm tin đối với
đạo Tin Lành ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp. Viện nghiên cứu
tôn giáo nghiên cứu thực trạng niềm tin đối với đạo Công giáo ở một số tỉnh miền
Bắc, Huế và thành phố Hồ Chí Minh.
Vậy, các nghiên cứu niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo theo các quan
điểm ngoài tâm lý học chủ yếu mô tả thực trạng niềm tin của người dân đối với đạo
Kitô. Một số ít tác phẩm có đề cập đến niềm tin đối với các tôn giáo, tín ngưỡng

hiện kế hoạch hóa gia đình, quan niệm về số con cần có trong các gia đình Thiên
Chúa giáo phụ thuộc vào mức độ niềm tin tôn giáo của họ [64].
Lê Minh Thiện cho rằng niềm tin đối với Công giáo là sự tin tưởng của bản
thân mỗi người vào Chúa, tin vào lời dạy của Chúa, tin vào Kinh Thánh, tin vào
giáo lý. “Niềm tin này được thể hiện ở sự tin tưởng vào chính tôn giáo mà họ đang
theo” [76].

17


Nguyễn Hồi Loan có bài nghiên cứu về Niềm tin về đạo Phật của sinh viên
trường đại học khoa học xã hội và nhân văn [56]. Tác giả cho rằng niềm tin đối với
đạo Phật thể hiện qua nhận thức của sinh viên về đạo Phật, về sự tồn tại của Phật,
Cõi niết bàn, Địa ngục và qua hành vi thực hành nghi lễ đạo Phật, đặc biệt là hành
vi đi lễ chùa. Nguyễn Hồi Loan cũng nghiên cứu niềm tin trong tín ngưỡng TCTT
của người Việt ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Niềm tin này thể hiện ở sự nhận
thức của người dân về tầm quan trọng của tín ngưỡng TCTT trong đời sống tinh
thần của gia đình, ở quan niệm của người dân về sự tồn tại của tổ tiên, ở nội dung
cầu khấn của người dân [57].
Có thể nói, từ góc độ khoa học tâm lý bước đầu đã có những nghiên cứu về
niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo. Qua các công trình nghiên cứu kể trên đã góp
phần khắc họa đặc trưng của loại niềm tin này, các biểu hiện của nó qua hành vi cả
con người. Đây là những gợi ý có ý nghĩa cho chúng tôi trong quá trình hệ thống
hóa và để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài luận án.
1.1.2.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước về tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên
Đào Duy Anh quan niệm TCTT là một tín ngưỡng thể hiện lòng tin, sự sùng
bái của con người đối với linh hồn và tin vào mối quan hệ khăng khít giữa người
sống và linh hồn của người thân đã chết. Trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương,
Đào Duy Anh viết: “Mỗi khi gia đình có điều vui, điều buồn, điều mừng, điều sợ thì
linh hồn tổ tiên thường cũng dự một phần. Con cháu làm ăn tổ tiên thường phù hộ,

Từ góc độ nghiên cứu Tôn giáo học, chuyên đề Vấn đề TCTT của người
Công giáo đồng bằng Bắc Bộ - Việt Nam được thực hiện bởi nhà nghiên cứu Lê
Đức Hạnh mô tả chi tiết quan niệm của người Công giáo xứ đạo Tử Nê, tỉnh Bắc
Ninh về việc TCTT và các nghi lễ TCTT của họ [40].
Ngoài ra còn những bài viết liên quan đến tín ngưỡng Thờ cúng Tổ đã được
công bố trên các tạp chí khoa học, như: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Công
tác Tôn giáo, Tạp chí Dân vận, Tạp chí Mặt trận, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Tạp
chí Triết học, Tạp chí Dân tộc học, Tạp chí Tâm lý học … của các tác giả: Nguyễn
Tài Thư, Nguyễn Hữu Vui, Nguyễn Đức Lữ, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Hồi
Loan...Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau về tín
ngưỡng, tôn giáo nói chung và tín ngưỡng TCTT của người Việt nói riêng.
Nhận xét chung về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status