Ảnh hưởng của phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên qua khảo sát tại xã đại đồng, huyện thạch thất, hà nội hiện nay (luận văn thạc sỹ) - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

KHUẤT BÁ TUẤN

ẢNH HƢỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI TÍN NGƢỠNG
THỜ CÚNG TỔ TIÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐẠI ĐỒNG,
HUYỆN THẠCH THẤT, HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH TÔN GIÁO HỌC

Hà Nội - 2017

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

KHUẤT BÁ TUẤN

ẢNH HƢỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI TÍN NGƢỠNG
THỜ CÚNG TỔ TIÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐẠI ĐỒNG,
HUYỆN THẠCH THẤT, HÀ NỘI HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 60 22 03 09

Chủ tịch hội đồng:

Thầy giáo, Cô giáo, các nhà khoa học đã giúp đỡ, động viên cũng nhƣ đóng
góp những ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành công
trình nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô PGS.TS. Đỗ Thị Hòa Hới,
ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn, chỉ dạy tận tình cho tôi từ những bƣớc đi đầu
tiên cho đến khi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm chân thành tới gia đình, bạn bè, những
ngƣời đã luôn sát cánh để giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày ...... tháng ...... năm 2017
Tác giả

Khuất Bá Tuấn

2


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN XÃ ĐẠI ĐỒNG
HUYỆN THẠCH THẤT, HÀ NỘI HIỆN NAY ......................................... 10
1.1. Khái quát chung về điều kiện địa lý, tự nhiên, chính trị, lịch sử, văn
hóa Phật giáo tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội ................... 10
1.1.1. Khái lƣợc về điều kiện lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội xã Đại
Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội ............................................................. 10
1.1.2. Khái lƣợc về Phật giáo .................................................................... 13
1.1.3. Khái quát về tình hình Phật giáo ở xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất,
Hà Nội hiện nay. ....................................................................................... 32
1.2. Tín ngƣỡng và tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên tại xã Đại Đồng huyện
Thạch Thất, Hà Nội hiện nay.. .................................................................. 36

2.3.1. Ảnh hƣởng tích cực của - Phật giáo đối với tín ngƣỡng thờ cúng tổ
tiên tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà nội hiện nay ....................... 73
2.3.2. Ảnh hƣởng tiêu cực của Phật giáo đối với tín ngƣỡng thờ cúng tổ
tiên tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà nội hiện nay ....................... 75
Tiểu kết chƣơng 2 ....................................................................................... 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82

4


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo với tính cách là tôn giáo, một thực thể xã hội xuất hiện từ rất
sớm ở Ấn Độ cổ đại. Sau đó, Phật giáo lan truyền rộng rãi theo tiến trình lịch
sử nhân loại và cũng du nhập, bén rễ vào Việt Nam. Phật giáo đã đồng hành
cùng dân tộc Việt Nam từ những thế kỷ đầu Công Nguyên đến nay, trải qua
biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử dân tộc. Trong suốt chiều dài lịch sử
đó, Phật giáo luôn có mối tƣơng quan chặt chẽ với văn hóa, tín ngƣỡng bản
địa Việt Nam. Chính mối quan hệ hài hòa đó đã giúp Phật giáo ngày càng hội
nhập sâu sắc bền chặt vào mảnh đất văn hóa Việt Nam giàu truyền thống.
Trong đời sống văn hóa tâm linh lâu đời đó, Phật giáo có mối quan hệ ảnh
hƣởng đặc biệt lớn đến tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên của ngƣời Việt, nên đã là
chủ đề đƣợc nhiều ngƣời tìm hiểu, ở mức độ khác nhau.
Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hóa không chỉ diễn ra trên lĩnh
vực kinh tế, chính trị mà còn diễn ra trên lĩnh vực văn hóa nói chung và tôn
giáo nói riêng không chỉ tại các đô thị trung tâm mà còn ở những vùng nông
thôn làng xã. Chính điều này đã đặt ra cho chúng ta yêu cầu cần phải nhìn
nhận, đánh giá lại vai trò, vị trí của tín ngƣỡng, tôn giáo trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay một cách đầy đủ. Tôn giáo, tín ngƣỡng hiện còn có

cứu: “Ảnh hƣởng của Phật giáo đối với tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên tại Xã Đại
Đồng huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Tôn
giáo học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua khảo cứu các tài liệu liên quan về vấn đề ảnh hƣởng của Phật giáo
đến tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên của ngƣời Việt, chúng tôi nhận thấy vấn đề đó
ít nhiều đã đƣợc đề cập đến trực tiếp hay gián tiếp trong một số công trình
nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam nói chung, về tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên

2


nói riêng. Trong đó cho thấy, chiều ảnh hƣởng của Phật giáo đến loại hình tín
ngƣỡng này ở những nét cơ bản
+ Nhóm những công trình viết về Phật giáo: Trƣớc tiên cần đề cập đến
trong các công trình viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung lịch sử
Phật giáo cụ thể dung hợp ở các địa phƣơng tại Việt Nam. Trong đó đều có
ít nhiều đề cập đến quá trình du nhập, bén rễ của Phật giáo với văn hóa Việt
Nam, sự thâm nhập của Phật giáo vào văn hóa tâm linh Việt Nam. Đặc biệt,
trong đó tùy đậm nhạt tùy địa bàn, thời gian song đều có sự gặp gỡ, hỗn
dung của Phật giáo với các tín ngƣỡng thờ cúng truyền thống của ngƣời
Việt. Nổi bật có ở các sách của: Lê Mạnh Thát (2001) với “Lịch sử Phật
giáoViệt Nam” (2 tập); Nguyễn Lang (2008) với “Việt Nam Phật giáo sử
luận” (3 tập); Nguyễn Tài Thƣ (Chủ biên, 1988) với “Lịch sử Phật giáo Việt
Nam”; ….đều lƣu ý điều này.
Ngoài ra, trong công trình nghiên cứu “Phật học khái luận” (1999) của
tác giả Thích Chơn Thiện (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh) đƣợc coi là một tác
phẩm Phật học quan trọng nghiên cứu một cách cơ bản và tƣơng đối toàn diện
về Phật giáo. Tác giả tiếp cận Phật giáo ở góc độ Phật học các nội dung lịch
sử, giáo lý, giới luật và lối sống tăng đoàn. Điều chúng tôi chú ý, trong công

nhiều công trình nghiên cứu bề thế khác nhƣ: “Đức Phật và Phật Pháp” của
tác giả Narada Thera do Phạm Kim Khánh dịch (Nxb Thuận Hóa Thành hội
Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1994); tác phẩm “Phật học cơ bản” của
Ban hành pháp Trung ƣơng giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nxb Tôn giáo,
2003); tác phẩm “Phật giáo khái lƣợc” của tác giải Lƣu Vô Tâm (Nxb Tôn
giáo, 2003); Đáng quan tâm với chủ đề Luận văn, chúng tôi còn có sách “Mấy
vấn đề Phật giáo và lịch sử tƣ tƣởng Việt Nam”, Viện Triết học, Hà Nội,
1999, do GS. Nguyễn Tài Thƣ chủ biên. Trong công trình này, trong từng bài
viết các tác giải đó chỉ ra những ảnh hƣởng của Phật giáo đến nhiều lĩnh vực
đời sống xã hội Việt Nam nhƣ tƣ tƣởng, lối sống, đạo đức, tín ngƣỡng…

4


trong lịch sử cũng nhƣ hiện tại, là những gợi ý cho chúng tôi tiếp tục đi sâu
vào làm rõ ảnh hƣởng của Phật giáo đến loại hình tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên.
- Chiều đổi ngƣợc là nhóm các công trình viết về tín ngƣỡng thờ cúng
tổ tiên qua đó cho thấy ảnh hƣởng vào sinh hoạt Phật giáo của ngƣời Việt.
Phải kể các tác phẩm quan trọng, nhƣ công trình các tác giả sau: Léopold
Cadiere (1997, Bản dịch) của Đỗ Trinh Huệ “Về văn hóa và tín ngưỡng
truyền thống người Việt”; Vũ Quỳnh (1992) trong sách “Lĩnh Nam trích
quái”; Lý Tế Xuyên (1992) trong sách “Việt điện U linh”; Phan Kế Bính
(1995) trong sach “Việt Nam phong tục”; Toan Ánh (1996) “Phong tục thờ
cúng trong gia đình Việt Nam”; Vũ Ngọc Khánh (1996) “Tín ngưỡng làng
xã”; Đặng Nghiêm Vạn (Chủ biên, 1996), "Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam
hiện nay", và tái bản vào năm 2001, "Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo
ở Việt Nam", Nguyễn Đức Lữ (1999), “Hiện tượng mê tín dị đoan ở nước ta
hiện nay, thực trạng, biểu hiện và đặc điểm”, Nguyễn Minh San (1998), “Tiếp
cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam”Trần Đăng Sinh (2002) “Những khía cạnh
triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên” của Trần Đăng Sinh;… Các tác

Nội hiện nay từ đó chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của sự ảnh hƣởng đó.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Ảnh hƣởng Phật giáo với tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên tại xã Đại Đồng,
huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Qua các tài liệu lịch sử và khảo sát thực tế về ảnh hƣởng Phật giáo đối
với tín ngƣỡng thờ cúng thờ cúng tổ tiên ở xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất,
Hà Nội hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo;
Đƣờng lối chính trị, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà nƣớc
8


Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, văn
hóa, tín ngƣỡng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp cơ bản của tôn giáo học, kết hợp
với các phƣơng pháp liên ngành: Tôn giáo học – Triết học, Tôn giáo học –
văn hóa, Tôn giáo học – Nhân học, phƣơng pháp đối chiếu, so sánh, phân
tích, tổng hợp nhằm thực hiện mục đích nhiệm vụ đề ra.
6. Đóng góp kết quả của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm
biểu hiện nội dung quan hệ ảnh hƣởng của Phật giáo đối với tín ngƣỡng thờ
cúng tổ tiên tại tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, hiện nay. Đồng thời góp
phần bổ sung thêm một cái nhìn khách quan hơn về vai trò Phật giáo trong
đời sống tinh thần làng xã Việt Nam hiện nay sẽ góp thêm căn cứ cho viêc
đinh ra chính sách về tôn giáo, tin ngƣỡng nói riêng, vă hóa nói riêng, văn hóa

gồm 2.968 hộ với 10.935 nhân khẩu, xã Đại Đồng gồm 11 thôn, cụm dân cƣ.
Với vị trí thuận lợi, phía Bắc xã giáp với tuyến đƣờng quốc lộ 32,
cách trung tâm Hà nội 30km, chạy dọc xã là tỉnh lộ 419, trung tâm xã là chợ
Đại Đồng, đƣợc thành lập năm Thành Thái thứ 3 (1891), là điều kiện để
nhân dân giao lƣu kinh tế, xã hội với bên ngoài; Thực tế từ xƣa đến nay,
ngoài sản xuất nông nghiệp việc buôn bán nông sản, sản xuất ngành nghề,

10


tiểu thủ công nghiệp của xã luôn có điều kiện phát triển. Nhất là từ sau đổi
mới đến năm 2015, tỷ trọng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thƣơng
mại của xã Đại Đồng chiếm 78,6%, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm
21,4% cơ cấu kinh tế xã.
Xã Đại Đồng thuộc vùng có hệ thống nông giang của huyện Thạch
Thất, địa hình ruộng đồng tƣơng đối bằng phẳng, nghiêng từ Tây Bắc xuống
Đông Nam. Một số gò cao, là nơi dân cƣ quần tụ lâu đời sinh sống hình thành
nên các làng xóm mật độ dân cƣ đông đúc. Đất canh tác của xã bằng phẳng,
chất đất thuộc hệ phù sa cổ của sông Hồng và sông Đáy, với những đặc tính
tơi xốp, độ màu cao; bên cạnh đó, đồng ruộng canh tác của xã rất thuận lợi
cho việc tƣới tiêu; phía Bắc và phía Nam là hệ thống tƣới, dẫn nƣớc từ sông
Hồng, vì vậy đồng ruộng của xã tiếp tục đƣợc bồi đắp phù sa. Với đặc điểm
trên đây, Đại Đồng là xã rất thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp. Từ
xƣa đến nay là địa phƣơng dẫn đầu về năng suất lúa của cả huyện Thạch Thất.
Về lịch sử, thông qua các chỉ dẫn di chỉ khảo cổ trong vùng: chiếc
trống đồng tại xã Lại Thƣợng giáp phía tây xã Đại Đồng) có niên đại 2 đầu
công nguyên; mũi đao, mũi giáo có niên đại đầu công nguyên (-+ 300 năm)
tại di chỉ Quán Sải (xã Phú Kim, phía nam xã Đại Đồng ). Theo bản thần phả
Quán Sải (xã Phú Kim) do Đại học sỹ Nguyễn Bính soạn năm 1572, thì vào
đời Vua Hán Hiến Đế (năm 189-220), 3 anh em họ Chu, khi đến Thạch Thất

- Thôn Hƣơng Lam: Cổ xƣa gọi là Kẻ Chàm, sau gọi là Chàm Thôn.
Đến đời Tự Đức (1847-1883) tên Làng đƣợc đổi thành Hƣơng Lam nhƣ hiện
nay. Xƣa kia Chàm Thôn là một làng biệt lập, xung quanh là đồng trũng gọi
là Rộc Chằm, đi vào làng phải qua 9 cầu tre. Đến năm 2015 có 282 hộ, với
1.056 nhân khẩu; thôn có 4 xóm gồm: xóm Đông, xóm Giữa, xóm Nam,
xóm Bắc.
- Thôn Ngọc Lâu: Ở phía Tây Bắc xã Đại Đồng, cổ xƣa tên là Kẻ
Ngạnh, Ngạnh Thôn, dân cƣ từ làng Đại Đồng và một số ngƣời từ huyện Phúc

12


Thọ về tập trung sinh sống trên dải đất cao, đẹp tựa nhƣ ngôi lầu trên đất
ngọc, đến thế kỷ XIX tên làng đổi là Ngọc Lâu. Đến năm 2015 có 232 hộ và
838 nhân khẩu.
- Thôn Minh Nghĩa: Ở phía Bắc xã Đại Đồng, giáp quốc lộ 32. Thôn
Minh Nghĩa hình thành vào những năm 1975. Do yêu cầu bảo vệ đồng điền,
xã cử một số gia đình có nhiều con trai, đại diện các dòng họ tộc lên lập trại
tại cánh đồng Miềng, đến năm 1768 gọi là trại Minh Nghĩa, đến thế kỷ XIX
gọi là thôn Minh Nghĩa. Đến năm 2015 thôn có 442 hộ, 1637 nhân khẩu.
- Thôn Minh Đức: Ở phía Bắc xã Đại Đồng, đƣợc hình thành vào thế
kỷ thứ XVII (thời Hậu Lê). Cổ xƣa là trạm đƣa tin tức nên có tên là Trạm sau
đó một số nhân dân trong xã đên sinh sống thành xóm và có nghề làm quạt,
nên gọi là Trạm Quạt, phố Quạt. năm 1920 đƣợc đổi là Minh Đức nhƣ ngày
nay.Đến năm 2015 thôn Minh Đức có 113 hộ và 432 nhân khẩu.
Dân cƣ các làng của xã Đại Đồng hiện nay hầu hết là từ làng Đại Đồng
phát triển di chuyển đến sinh cơ lập nghiệp, nên đều có quan hệ họ hàng,
phong tục tập quán, ứng xử đều giống nhau, nhân dân trong xã chủ yếu tin và
theo đạo Phật thực hành tín ngƣỡng truyền thống. Xƣa kia nghề nghiệp chính
là sản xuất nông nghiệp, một số nhân làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ.

phƣơng gọi là Hindu, ngƣời Hy Lạp gọi là Inđốt, ngƣời Anh gọi là India,
India dịch qua tiếng Hán là Ấn Độ. Ngƣời Trung Quốc gọi Ấn Độ là Thiên
Trúc hay Tây Trúc. Dân tộc định cƣ ở Ấn Độ nhƣ: Mundian, Sumerian…, đặc
biệt là Đravidian, hầu nhƣ đã hình thành một nền văn hóa “nông nghiệp” là
văn minh Ấn – Hà, (Induscivilization). Theo nhà khảo cổ học A.K.Wardẻ,
trong tập sách “Phật giáo Ấn Độ” thì nền văn minh Ấn – Hà trải dài về phía
đông đến thung lũng sông Hằng và Đông Nam vƣợt qua Gujarat. Bấy giờ đã
có hai thành phố lớn, hai trung tâm chính, một ở Pujab và một ở Sindh. Nói
đến tôn giáo của dân tộc Ấn – Hà Warder viết: “Về tôn giáo, dân chúng Ấn –
Hà thờ đấng thượng đế, một vài đức tính của Ngài nói lên rằng Ngày là gốc

14


của thần Siva đương thời (vị thần rất phổ biến trong các dân tộc Tamil); một
mặt Ngài xuất hiện trong vai một tu sĩ khổ hạnh hay một yogin phát huy các
quyền lực siêu nhiên”. [36, 23 - 24]
Vào khoảng thời gian từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIII trƣớc Tây lịch
nền văn minh Ấn – Hà đi vào suy sụp khi ngƣời Ariyan, có lẽ từ dãy
Caucasia (thuộc Armenia, Liên Bang Nga), xam chiến xứ Ấn. Họ vƣợt qua
dãy núi Hin-Kush đến Punjab. Tại đây dân Dravidian kiên cƣờng chống lại
ngƣời Ariyan, nhƣng thất bại. Ngƣời Ariyan tiếp nhận vùng đất này lại chịu
ảnh hƣởng của nền văn minh nông nghiệp của ngƣời Dravidian: họ theo lối
sống định cƣ của Dravidian, định cƣ trong các làng mạc, thị trấn, thành phố.
Mặt khác, ngƣời gốc Dravidian chịu ảnh hƣởng tƣ tƣởng của ngƣời Ariyan
di trú. Hai nền văn minh ấy đã kết hợp tạo ra một nền văn minh mới vào thời
đại “đồ sắt”, khoảng từ thế kỷ X đến thế kỷ VIII trƣớc Tây lịch. Các nhà sử
học chia Ấn Độ cổ đại thành 2 thời kỳ:
- Thời kỳ văn hóa Harapa, còn gọi là nền văn minh sông Ấn.
- Thời kỳ văn hóa Veđa, còn gọi là nền văn minh sông Hằng, với sự

1600 năm trước Tây lịch). Thực sự họ là kẻ xâm lược man di đã chiến thắng
dân chúng Ấn – Hà và hủy hoại các thành phố của Ấn – Hà. Những người
Ariyan này nói ngôn ngữ hình thức sớm nhất của Sanskirt gọi là Vedic (Vệ đà) theo các bản kinh Vệ đà xưa nhất của Ấn độ được ngày nay. Các bản dịch
Vệ đà xưa nhất có lẽ là do người Ariyan sáng tác vào khoảng hai hay ba thế
kỷ sau ngày chiến thắng” [36,24].
Nhƣ vậy, tƣ tƣởng của Vê-đa, đặc biệt là Rig Vê-đa, nhuốm màu tƣ
tƣởng của Ariyan có tiếp biến một số yếu tố bản địa. Hình nhƣ các tƣ tƣởng
đó phát sinh từ Caucasia của những ngày rất xa xƣa, phát sinh từ những nơi
mà dân Ariyan di trú dùng lại nghỉ ngơi sau khi qua nhiều vùng đồi núi, nhiều
xa mạc cô hay các vùng cao nguyên bát ngát, dƣới bầu trời nắng cháy, những
cơn mƣa nặng hạt, những cơn bão tuyết hay dƣới những bó đuốc chập trùng

16


trong đêm khuya. Đấy là những tƣ tƣởng về vũ trụ vô biên đầy quyền lực
quan hệ hữu cơ gắn liền với con ngƣời. Các tƣ tƣởng ngày càng trở nên thực
tiễn hơn và gần gũi hơn với con ngƣời khi tiếp biến chúng nói đến các vị thần
đất, thần cây, thần bò của ngƣời Dravidians vào thời xa xƣa của nền văn minh
nông nghiệp. A.K.Warder đã viết tiếp: “Dựa vào triều đại Paurava, các bản
kinh Vệ đà xưa đã được kết tập, nhiều bản được sáng tác thêm, mà đã nhiều
lần hiệu đính… Kinh tập Vệ đà vì thế là trí thức tập hợp của nhiều Bà-la-môn
hay nhiều tu sĩ. Nó bao gồm thơ, các bài ca, nghi thức và triết lý”. [36, 25]
Thời kỳ trƣớc đạo Phật ra đời là quá trình phân hóa đẳng cấp và hình
thành Nhà nƣớc, ở Ấn Độ xuất hiện đạo Bà-la-môn và hình thành chế độ phân
chia đẳng cấp, còn gọi là chế độ Vác-na (nguyên nghĩa chữ phạn Vác-na là
màu sắc, thực chất).
Chế độ đẳng cấp phân chia cƣ dân trong xã hội Ấn Độ thành 4 giai tầng
với thành phần xuất thân khác nhau do địa vị mà không dựa vào cơ sở kinh tế:
Đẳng cấp Bà-la-môn (Barahmanas), gồm giới tăng lữ của đạo Bà-lamôn và những ngƣời hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp có quyền quyết định

Thủ-đà-la phải trả 16%. Luật Manu còn quy định, đẳng cấp Thủ-đà-la không
đƣợc tham gia các cuộc họp, không đƣợc tham dự và hƣởng lễ vật trong các
buổi tế lễ, thậm chí ngƣời Thủ-đà-la không đƣợc khiên, không đƣợc sờ vào
ngƣời Bà-la-môn khi họ chế: đẳng cấp Thủ-đà-la không đƣợc mặc quần áo
kiểu dáng đẹp, mà phải mặc kiểu dáng xấu và màu sắc tối xậm. Họ cũng
không đƣợc đặt những tên biểu hiện sự cao quý, hùng tráng hay thanh lịch,
mà phải mặc những bộ thể hiện tự thấp hèn, ngu dốt.
Sau khi ra đời, đạo Bà-la-môn nhanh chóng trở thành tôn giáo chính
thống của xã hội Ấn Độ. Với vị trí độc tôn, đạo Bà-la-môn dùng giáo lý thần
quyền để bảo vệ và bênh vực cho chế độ đẳng cấp nhất là đẳng cấp Bà-lamôn. Đạo Bà-la-môn cho rằng sự phân chia đẳng cấp trong xã hội là ý chí của

18


Phạm Thiên. Theo kinh Vê-đa, các đẳng cấp đƣợc sinh ra từ những bộ phận
khác nhau của Phạm Thiên. Bà-la-môn đƣợc sinh ra từ mồm, Sát-đế-lị đƣợc
sinh ra từ tay, Vệ-xá đƣợc sinh ra từ đùi, còn Thủ-đà-la đƣợc sinh ra từ bàn
chân. Do sinh ra từ bốn chỗ khác nhau của Phạm Thiên nên đẳng cấp có số
phận khác nhau, Đạo Bà-la-môn còn lập luận rằng trong các loại sinh vật, ƣu
tú nhất là loại động vật có trí khôn, trong các loại động vật có trí khôn ƣu tú
nhất là con ngƣời, trong con ngƣời ƣu tú nhất là Bà-la-môn.
Tình hình trên đây làm cho tầng lớp đa số trong xã hội – những ngƣời
Thủ-đà-la càng oán ghét chế độ bóc lột, oán ghét chế độ phân chia đẳng cấp.
Phản ánh tâm trạng của những ngƣời nô lệ lúc đó, ở Ấn Độ xuất hiện nhiều
trao lƣu tƣ tƣởng, trào lƣu xã hội thuộc các xu hƣớng khác nhau. Các trào lƣu
đó gặp nhau ở chỗ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại chế độ đẳng cấp
của đạo Bà-la-môn. Học thuyết Phật giáo là một trong những trào lƣu đó.
Nhƣ vậy có thể nói đạo Phật ra đời trong xã hội Ấn Độ thời cổ đại bắt
nguồn từ những tiên đề nguyên nhân địa lý văn hóa chính trị - xã hội sâu xa,
là trào lƣu xã hội chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bà-la-môn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status