VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----&-----
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
NIỀM TIN CỦA NGƯỜI VIỆT ĐỐI VỚI
TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành
Mã số: 62.31.04.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỒI LOAN
Hà Nội , năm 2014
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày
tháng
9
7.
Phương pháp nghiên cứu
10
8.
Đóng góp mới của luận án
11
9.
Cấu trúc của luận án
11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU NIỀM TIN CỦA
NGƯỜI VIỆT ĐỐI VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
1.1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
1.1.1.
Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về vấn đề niềm tin đối
13
13
13
với tín ngưỡng, tôn giáo
1.1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tín ngưỡng Thờ
21
cúng tổ tiên
1.1.2.
Nghiên cứu của các tác giả trong nước
39
53
tín ngưỡng TCTT
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.
Tổ chức nghiên cứu
61
2.2.
Phương pháp nghiên cứu
69
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ NIỀM TIN CỦA
1
NGƯỜI VIỆT ĐỐI VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
3.1.
Thực trạng niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng Thờ 81
3.1.1.
cúng Tổ tiên
Niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên 81
3.1.2.
biểu hiện qua mặt nhận thức
Niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên 97
3.1.3.
3
4
5
6
7
8
9
Chữ viết tắt
CBCNVC
CĐ
ĐH
ĐLC
ĐTB
KDBB
TCTT
THCS
THPT
Nội dung viết tắt
Cán bộ, công nhân, viên chức
Cao đẳng
Đại học
Độ lệch chuẩn
Điểm trung bình
Kinh doanh buôn bán
Thờ cúng Tổ tiên
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
với tín ngưỡng TCTT (%)....................................................118
Bảng 3.8: So sánh trung bình khác biệt niềm tin của người Việt đối
với tín ngưỡng TCTT............................................................118
Bảng 3.9: Các biểu hiện của nhu cầu cá nhân....................................121
Bảng 3.10 : Hệ số tương quan và hồi quy giữa niềm tin của người Việt
đối với tín ngưỡng TCTT với nhu cầu cá nhân..................123
Bảng 3.11: Đánh giá của người Việt về một số tục thờ cúng trong gia
đình có ảnh hưởng tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên................124
Bảng 3.12 : Hệ số tương quan và hồi quy giữa niềm tin của người Việt
đối với tín ngưỡng TCTT với tục thờ cúng trong gia đình125
Sơ đồ 3.1: Tương quan giữa các mặt biểu hiện của niềm tin của
4
người Việt đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên .........117
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Thờ cúng Tổ tiên là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ xa xưa của lịch
sử nhân loại và tồn tại ở nhiều cộng đồng trên thế giới. Cho đến nay, tín
ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống của nhiều
tộc người. Ở nước ta, tín ngưỡng này đã phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử,
tồn tại ở nhiều cộng đồng các thành phần dân tộc, đan xen vào thẩm thấu vào
hầu hết các tôn giáo hiện có ở Việt Nam.
Theo khảo sát của Hội đồng Lý luận trung ương, hầu như 100% người
dân Việt Nam vẫn duy trì phong tục Thờ cúng Tổ tiên [dẫn theo 35, tr 351].
phái, cụ bộ, gia đình chủ nghĩa, gây chia rẽ cộng đồng. Sự phát triển của tín
ngưỡng TCTT còn ảnh hưởng đến hiện tượng sinh con theo ý muốn, gây mất
cân bằng giới tính ở nước ta hiện nay.
Trước sự khôi phục, phát triển tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên và ảnh
hưởng to lớn của tín ngưỡng này trên các mặt của đời sống xã hội, nhiều nhà
khoa học đã công bố các nghiên cứu mới của họ về TCTT trên các diễn đàn
khoa học trong nước và quốc tế. Hầu hết các nghiên cứu đều xuất phát từ góc
độ triết học, nhân học, tôn giáo học, xã hội học, rất ít công trình nghiên cứu
dưới góc độ tâm lý học. Muốn hiểu được đầy đủ bản chất của tín ngưỡng
TCTT của người Việt, nhất thiết cần phải nghiên cứu cả trên góc độ của khoa
học tâm lý. Bởi lẽ, tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên phản ánh rất nhiều khía cạnh
tâm lý, tình cảm của người Việt như tính cách, nhu cầu, động cơ, tình cảm,
giao tiếp ứng xử, triết lý thế giới quan, nhân sinh quan, niềm tin của họ.
Niềm tin vào tín ngưỡng TCTT là một trong những khía cạnh tâm lý có
vai trò quan trọng đối với sự tồn tại của tín ngưỡng TCTT trong cộng đồng
người Việt, là nguyên nhân sâu xa khiến cho tín ngưỡng này có sức ảnh
hưởng lớn đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt trong quá khứ cũng
7
như ở thời điểm hiện tại. Vì vậy, nghiên cứu khía cạnh niềm tin của người
Việt đối với tín ngưỡng TCTT là cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và
thực tiễn.
Xuất phát từ những lý do kể trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng biểu hiện niềm tin của người Việt đối với tín
ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm phát
huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của niềm tin đối với
tín ngưỡng TCTT đến đời sống của người dân.
tổ tiên.
Về mặt nhận thức, luận án tập trung phân tích quan niệm của người
Việt về linh hồn tổ tiên, về quan hệ giữa linh hồn tổ tiên với con cháu, quan
niệm về thế giới khác và suy nghĩa của họ về vai trò giáo dục đạo đức truyền
thống của việc TCTT.
Về mặt xúc cảm tình cảm, luận án tập trung phân tích một số biểu hiện
xúc cảm tình cảm đối với linh hồn tổ tiên, đối với thế giới bên kia và xúc cảm
tình cảm đối với các giá trị đạo đức của tín ngưỡng TCTT.
Về mặt hành vi, luận án tập trung phân tích một số hành vi thờ cúng tổ
tiên như hành vi thực hiện nghi lễ thờ cúng, hành vi chăm sóc mộ phần của tổ
tiên, hành vi đốt vàng mã, hành vi gọi hồn và hành vi khuyến khích các thành
viên trong gia đình cùng tham gia vào việc thờ cúng tổ tiên.
6.2. Về địa bàn nghiên cứu
Luận án tập trung điều tra, khảo sát niềm tin của người Việt đối với tín
ngưỡng TCTT tại xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; thị trấn
Nho Quan, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; phường Nghĩa Tân, quận Cầu
Giấy, thành phố Hà Nội. Việc lựa chọn các địa bàn này để khảo sát căn cứ
vào các mức độ phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội có ảnh hưởng đến niềm
9
tin đối với tín ngưỡng TCTT.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn của luận án dựa trên các nguyên
tắc và cách tiếp cận sau:
* Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác-Lênin;
* Nguyên tắc phát triển;
* Cách tiếp cận liên ngành. Tín ngưỡng TCTT của người Việt là một
thành, củng cố niềm tin này trong cộng đồng người Việt.
8.2.Về mặt thực tiễn
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy trong lĩnh
vực văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng.
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần giúp cho chính quyền địa phương
nhận diện được các biểu hiện và các mức độ biểu hiện niềm tin đối với tín
ngưỡng TCTT của người dân trên địa bàn, từ đó thực hiện tốt hơn công tác
quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hoá tín ngưỡng.
9. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình đã công bố
của tác giả có liên quan đến đề tài nghiên cứu, danh mục tài liệu tham khảo và
phần phụ lục, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận nghiên cứu niềm tin của người Việt đối với tín
ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về niềm tin của người Việt đối
với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU NIỀM TIN CỦA NGƯỜI VIỆT
ĐỐI VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về vấn đề niềm tin đối với tín
ngưỡng, tôn giáo
Tín ngưỡng, tôn giáo là hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện rất sớm
trong lịch sử nhân loại với rất nhiều loại hình phong phú, đa dạng. Dù hình
thần thánh đầy bí hiểm [dẫn theo 26, tr.44-45]. Như vậy, theo quan điểm của
các nhà triết học duy vật, niềm tin đối với thần thánh hay đối với một tín
ngưỡng, tôn giáo nhất định không phải bắt nguồn từ Thượng đế, lực lượng
siêu nhiên thần thánh mà có nguồn gốc từ các trạng thái tâm lý của con người,
đặc biệt là nỗi sợ hãi.
Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác-Lênin gồm Karl Marx (1818-1883),
F.Engels (1820-1895), V.I.Lênin (1870-1924) không phủ nhận nguồn gốc tâm
lý của tôn giáo và không dưới một lần nhắc đến luận điểm “sự sợ hãi tạo ra
thần linh”, song các nhà kinh điển nhấn mạnh đối tượng gây nên sự sợ hãi là
các hiện tượng xã hội. Từ sự sợ hãi nảy sinh nhu cầu che chở, chế ngự, né
tránh để chống trả nỗi nợ hãi một cách thụ động qua những hành vi tôn giáo.
Tuy nhiên, không phải chỉ có những tình cảm tiêu cực như sợ hãi, thất vọng,
phụ thuộc mới nảy sinh và nuôi dưỡng niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo
mà ngay cả những tình cảm tích cực như là sự thỏa mãn, lòng biết ơn, lòng
kính trọng cũng khuyến khích niềm tin đối với tôn giáo, tín ngưỡng. Tín
ngưỡng Thờ cúng tổ tiên, thờ những người có công với dân, với Tổ quốc
không phải xuất phát từ sự sợ hãi mà là lòng biết ơn.
Từ cách tiếp cận xã hội học, Max Weber (1864-1920) cho rằng niềm tin
của những tín đồ theo đạo Tin Lành là niềm tin vào Chúa Trời. Niềm tin vào
13
Chúa Trời phải được thể hiện ở niềm tin vào chính mình có đủ năng lực vượt
qua những khó khăn trong cuộc sống, nỗ lực không ngừng để có cuộc sống tốt
hơn trong thế giới hiện tại. Còn nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp
E.Durkhem (1858-1917) khi định nghĩa về tôn giáo đã cho rằng tôn giáo là
niềm tin của con người đối với các thực thể tâm linh. “Gọi là thực thể tâm
linh, cần hiểu rằng đó là những vật có ý thức, có quyền lực cao hơn con người
bình thường; sự đánh giá đó phù hợp với linh hồn người chết, thần linh, ma
quỉ cũng như với thượng đế” [dẫn theo 36, tr.42]. Điều đáng nói là Durkhem
nhân trong tác phẩm này, William James bàn đến tôn giáo cá nhân, kinh
nghiệm tôn giáo cá nhân và niềm tin đối với tôn giáo của cá nhân. Theo
James, niềm tin tôn giáo của cá nhân là sự cảm nhận chân lý nguyên thủy mà
tự mình cảm giác được, “loại niềm tin trực giác phi lý trí này là thứ nằm ở
tầng sâu trong con người chúng ta, luận chứng duy lý chẳng qua chỉ là thứ
hiển thị ở bên ngoài” [dẫn theo 11, tr.115]. Nói cách khác, việc tự mình trải
qua kinh nghiệm tôn giáo là luận cứ vững chắc nhất củng cố niềm tin của cá
nhân đối với một tín ngưỡng, tôn giáo nào đó, hơn cả những luận cứ đã được
khoa học và chủ nghĩ duy lý chứng minh. Đối với những người đã trải qua
kinh nghiệm tôn giáo, cảm giác thực tại về đối tượng thờ phụng của tôn giáo
rất chân thực, đáng tin như bất kỳ kinh nghiệm cảm quan trực tiếp nào:
Đối với một tín đồ tôn giáo mà nói, nếu anh ta lấy trực giác trầm mặc để phản
đối những kết luận của lý trí, quan điểm chủ nghĩa duy lý sẽ vô phương khiến
cho họ tin phục và quy y, bởi vì trực giác của họ đến từ tầng sâu của nhân
tính, vượt ra ngoài phạm vi biện luận mà chủ nghĩa duy lý chiếm hữu. Họ có
sẵn trong tâm trí cái chủ định: cái mà ta tin nhất định chân thực hơn bất cứ
một lý lẽ đanh thép nào của chủ nghĩa duy lý [dẫn theo 11, tr.113].
Simund Frued (1856-1939) là người sáng lập ngành Phân tâm học,
cũng được xem là một trong những người khai phá mảnh đất Tâm lý học
tôn giáo. Trong nghiên cứu Tâm lý học tôn giáo, sự quan tâm của Frued
chủ yếu tập trung vào nguồn gốc tâm lý của hiện tượng tôn giáo bằng
15
phương pháp phân tích tinh thần.
Trên cơ sở phân tích đời sống nội tâm của con người, Frued đã phủ
nhận vai trò của ý thức, cho rằng ý thức không phải là động lực thúc đẩy
và chi phối toàn bộ hoạt động của con người mà là “libido” (cái mà sinh
ra con người đã có). Libido -ban đầu được Frued sử dụng để chỉ bản
năng tính dục, nhưng sau ông coi là năng lượng bản năng của toàn bộ sự
vô thức và ý thức của con người và là kết quả của việc ý thức cố gắng hạn
chế, kìm hãm sự thỏa mãn khát vọng bản năng.
Carl Gustav Jung (1875-1961) là người kế thừa và phát triển Phân
tâm học (còn gọi là Tâm lý học tầng sâu), là người thúc đẩy Phân tâm học
và tâm lý học tôn giáo phát triển lên một giai đoạn mới bằng cách phê
bình một số quan điểm của Frued và có nhiều sáng tạo mới. Phát hiện
của Jung về vô thức tập thể là đóng góp quan trọng nhất của ông đối với
tâm lý học tôn giáo. Qua việc nghiên cứu mối quan hệ giữa thần thoại,
tôn giáo Phương Đông với hiện tượng vô thức, Jung cho rằng thế giới vô
thức của con người chia là hai loại: vô thức cá nhân và vô thức tập thể.
Theo ông, vô thức cá nhân do các kinh nghiệm cá nhân bị lãng quên hoặc
bị áp chế mà thành, còn vô thức tập thể do di truyền lại trong kết cấu não
người. Liên tưởng thần thoại chủng tộc hoặc ý tưởng thần bí chủng tộc là
những mô hình nguyên thủy của vô thức tập thể mà thần hay Thượng đế
là những phương thức biểu đạt cơ bản nhất. Trong quá trình phát triển
nhân cách (Jung gọi là quá trình cá tính hóa), kinh nghiệm trực tiếp của
tín đồ đối với những cái thần bí mang lại cho con người những cảm thụ
phức tạp, chẳng hạn như cảm giác thần bí, cảm giác tôn sùng, cảm giác
hoàn mỹ, cảm giác trông cậy, cảm giác siêu việt khiến cho con người đặt
niềm tin đối với tôn giáo[dẫn theo 85, tr.22-28].
Có thể nhận thấy, dù có quan điểm tương đối mới mẻ so với
người thầy Freud, nhưng suy cho cùng Jung vẫn khẳng định niềm tin
đối với tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn gốc bản năng, di truyền, vô
17
thức. Nó vốn tiềm ẩn trong thế giới nội tâm của mỗi cá nhân và dần
được hé lộ trong quá trình trưởng thành về mặt nhân cách.
Nhà Tâm lý học người Mỹ James H.Leuba (1867-1946), tác giả của
những tác phẩm nổi tiếng về Tâm lý học tôn giáo những năm đầu thế kỷ 20,
Theo Michael Argule, biểu hiện niềm tin tôn giáo là niềm tin vào Chúa Trời,
niềm tin vào cuộc sống sau khi chết, niềm tin vào Kinh Thánh và niềm tin
vào bản chất của con người. Ông còn đưa ra một đặc điểm nổi bật của niềm
tin tôn giáo, đó là tính phi logic, ông viết: “niềm tin tôn giáo không theo
logic giống như trong khoa học về thế giới…”. Niềm tin tôn giáo là niềm tin
không thể chứng minh. Niềm tin tôn giáo được xác định như thế nào? Rõ
ràng là không thể bằng các phương pháp mà các nhà khoa học thường dùng,
nhưng người ta phải có một vài cách xác định chúng. Một trong những cách
đó dường như là thông qua kinh nghiệm. Cũng trong tác phẩm này, Michael
Argule đưa ra cấu trúc tâm lý của niềm tin, gồm có 3 yếu tố: nhận thức, xúc
cảm và hành vi [99, tr.11-126].
Như vậy, từ góc độ khoa học tâm lý, các nhà tâm lý học tiếp tục làm
sáng tỏ nguồn gốc tâm lý của niềm tin đối với tôn giáo, tín ngưỡng. Trải
nghiệm về những điều thần bí của cá nhân, bản năng vô thức là những yếu tố
tâm lý được các nhà tâm lý học xem là nguồn gốc dẫn đến sự hình thành niềm
tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo. Một số nhà tâm lý học cũng đã chỉ ra được
một số đặc điểm đặc thù của niềm tin đối với tín ngưỡng, tôn giáo như là: tính
phi logic, tính phi khoa học…Đây là những nghiên cứu rất có giá trị đối với
khoa học tâm lý học tôn giáo nói chung, và là những gợi ý quý giá cho tác giả
trong quá trình xác định cơ sở lí luận cho đề tài luận án.
Nhìn chung, các hướng nghiên cứu và các công trình nghiên cứu cụ thể
của các tác giả nước ngoài về vấn đề niềm tin đối với tôn giáo, tín ngưỡng đã
đề cập đến một số yếu tố tâm lý có ảnh hưởng đến niềm tin của con người đối
với tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có tâm lý sợ hãi và nhu cầu tìm kiếm sự
giúp đỡ của lực lượng thần linh. Những yếu tố này đã được tác giả luận án kế
19
thừa để xác định cơ sở lí luận cho đề tài và phân tích kết quả nghiên cứu thực
tiễn về niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng TCTT. Các nghiên cứu của
là tập hợp các nghiên cứu của L.Cadière về tín ngưỡng, văn hóa Việt Nam,
đặc biệt là tín ngưỡng TCTT sâu sắc và chi tiết. Cadière xem TCTT là một
hiện tượng văn hóa thể hiện “cái hồn” của dân tộc Việt Nam cần được bảo
tồn, gìn giữ. Với khả năng quan sát sắc bén mà Cadière đã mô tả chi tiết, rõ
rệt về niềm tin của người Việt trong việc TCTT cũng như các nghi lễ TCTT
[dẫn theo 39].
Shin Chi Yong đã khái quát về văn hóa và gia đình của người Việt
Nam sinh sống tại Hà Nội và những vùng phụ cận, trong đó chú trọng nghiên
cứu sự hòa đồng như một đặc điểm độc đáo, thể hiện bản sắc của người Việt
trong việc TCTT [98, tr.8-99].
Kate Jellema (đại học Michigan - Mỹ) nghiên cứu tục TCTT của người
dân sống ở vùng châu thổ Sông Hồng trong thời kỳ Đổi mới qua việc nghiên
cứu 2 trường hợp điển hình ở làng Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh. Tác giả đã làm
sáng tỏ quan niệm, niềm tin của cư dân Bắc Bộ hiện nay về việc TCTT và
cách thể hiện niềm tin của họ. Với những tư liệu có được trong 2 năm thực tế
tại Việt Nam, tác giả đã khẳng định rằng tổ tiên đã chết song có ý nghĩa quan
trọng trong đời sống của người dân Việt Nam hiện nay. Đối với cá nhân,
TCTT giúp cá nhân thỏa mãn nhu cầu tâm linh, tiếp tục mối quan hệ giữa
người sống và người đã chết. Còn với cộng đồng, TCTT góp phần củng cố
mối quan hệ xã hội giữa các thành viên trong gia đình, họ tộc [dẫn theo 45].
Trong cuộc hội thảo quốc tế về TCTT diễn ra tại Đền Hùng, thành phố
Việt Trì tỉnh Phú Thọ tháng 3/2011 có khá nhiều tham luận của các nhà khoa
học ở nước ngoài nghiên cứu về tín ngưỡng TCTT ở Việt Nam. Có thể kể đến
một số nhà nghiên cứu như giáo sư đại học sư phạm Đài Bắc (Đài Loan)
Chung Tông Hiến nghiên cứu về hiện tượng người Việt Nam đưa tổ tiên
Hùng Vương về tận Viêm Đế, Vương Tam Khánh (Đài Loan) có bài Nghiên
cứu TCTT của Việt Nam qua các văn bia chữ Hán , Triệu Minh Long (Trung
21