NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT
CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
Thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng mang tính lịch sử - xã hội, tồn tại phổ
biến ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Mặt tốt của hiện tượng
này là ở chỗ, nó nhắc thế hệ những người đang sống phải nhớ đến nguồn, "ăn
quả nhớ người trồng cây", biết kính trọng, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ lúc sinh
thời và thờ phụng khi mất. Sự thanh cao, tinh khiết của nó đã trở thành đạo lý, lẽ
sống, trở thành nét đẹp trong truyền thống văn hoá của nhiều dân tộc. Song, nó
cũng là sự phiền toái, nặng nề khi mang màu sắc mê tín, dị đoan, vụ lợi. Trong
lịch sử và trong cuộc sống hiện tại, nó đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của
con người.
Các học giả trong nước và ngoài nước đã có nhiều ý kiến xung quanh hiện
tượng thờ cúng tổ tiên này. Đây là một loại hình tín ngưỡng hay tôn giáo? hay chỉ là
một tập tục, thói quen, một hoạt động mang tính văn hoá, đạo đức?... Để có cơ sở
khoa học đánh giá hiện tượng này, cần phải làm rõ nguồn gốc và bản chất của nó.
Trước hết, chúng ta hãy làm rõ nội hàm của khái niệm tổ tiên và thờ cúng tổ tiên.
Tổ tiên là khái niệm dùng để chỉ những có cùng huyết thống nhưng đã mất
như cụ, kỵ, ông, bà, cha, mẹ..., những người đã có công sinh thành và nuôi
dưỡng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của thế hệ những
người đang sống.
Tổ tiên trong xã hội nguyên thuỷ có nguồn gốc là tổ tiên tô tem giáo của thị
tộc, bộ lạc. Tổ tiên tô tem giáo thời kỳ thị tộc mẫu hệ là những vật trong tự nhiên,
có mối quan hệ mật thiết với con người và khi được thần thánh, thiêng liêng hoá thì
được coi là tô tem (vật tổ) của thị tộc, bộ lạc. Thời kỳ thị tộc phụ hệ, tổ tiên là
những người đứng đầu thị tộc, bộ lạc như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự... đầy quyền
uy.
2
Tổ tiên trong xã hội có giai cấp được thể hiện đầy đủ hơn. Họ thường là
3
cúng tổ tiên. Sự "cúng" tuy chỉ là hình thức biểu đạt, song nó tôn vẻ linh thiêng,
huyền bí, mờ ảo, và tạo nên sức hấp dẫn. Nó chính là chất kết dính, tạo nên màu
sắc thoả mãn niềm tin của chủ thể thờ cúng.
Trong xã hội nguyên thuỷ, ý thức về tổ tiên là một yếu tố của ý thức xã hội
nguyên thuỷ, phản ánh sự bất lực của con người trước sức mạnh của tự nhiên. Về
sau, cùng với lực lượng tự nhiên là lực lượng mang tính xã hội, như sự áp bức,
bóc lột giai cấp... luôn thống trị lên cuộc sống hàng ngày của con người. Bế tắc
trong cuộc sống hiện thực, con người tìm sự giải thoát trong cuộc sống tinh thần.
Cùng với các biểu tượng về thần linh, biểu tượng về tô tem đã xuất hiện trong
thời kỳ thị tộc mẫu hệ. Đặc điểm chủ yếu của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong
thời kỳ này là việc thờ tổ tiên tô tem giáo.
Sang thời kỳ thị tộc phụ hệ, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên phản ánh sự thay
đổi trong phân công lao động xã hội. Người đàn ông giữ vai trò chủ đạo trong
đời sống kinh tế. Họ là những người vừa có quyền lực thế tục, vừa có uy tín,
được quyền nắm giữ việc thờ cúng các thần, trong đó có tổ tiên đã chết. Đối
tượng thờ cúng thời kỳ này được chuyển từ tổ tiên tô tem sang tổ tiên thật, cúng
huyết thống đã chết.
Như vậy, có thể xem nguồn gốc xã hội sâu xa mang tính khách quan của
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là ở tính hạn chế của lực lượng sản xuất và kèm theo
đó là sự hạn chế, tù túng trong quan hệ kép giữa con người với tự nhiên và giữa
con người với con người trong xã hội. Còn nguồn gốc trực tiếp, mang tính xã hội
của nó là sự phân hoá xã hội mà hệ quả của sự phân hoá ấy là việc đề cao vai trò
của người đứng đầu trong gia đình - thị tộc. Những người này, dựa vào uy tín
của mình để củng cố là thiêng liêng hoá sự thờ cúng tổ tiên đã có manh nha trong
thời kỳ thị tộc mẫu quyền. Trong xã hội có giai cấp, sự áp bức, bóc lột giai cấp,
sự bất công xã hội đã khiến cho con người không có lối thoát hiện thực phải đi
tìm sự trợ giúp của tổ tiên cũng là những nguồn gốc xã hội quan trọng làm nảy
sinh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Cùng với đó, nhận thức của con người cũng là
toả nỗi kinh sợ khi phải đối mặt với nó.
5
Trong chế độ phụ quyền, quyền hành của gia trưởng, tộc trưởng còn làm
phát sinh ở con cháu cảm giác sợ hãi, qui thuận. Cảm giác này được nuôi dưỡng,
di chuyền thông qua các thế hệ và thậm chí được chuyển sang thế giới bên kia
với quan niệm rằng, người chết vẫn có thể trừng phạt con cháu. Tổ tiên cũng
giống như các vị thần linh khác có thể giáng tai hoạ xuống con cháu, vì thế cần
phải kính trọng, thờ cúng thường xuyên thì tổ tiên mới không làm hại, mới che
chở, bảo vệ, phù giúp.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn được bắt nguồn từ lòng hiếu thảo của con
cháu. Quan hệ giữa bố mẹ đang sống với con cái là hiện thân của mối quan hệ
giữa tổ tiên với con cháu sau này. Sự kính hiếu cha mẹ được tiếp nối bằng sự tôn
thờ, sùng bái tổ tiên. Bổn phận kính trọng, báo hiếu, đền ơn công sinh thành
dưỡng dục của bố mẹ cũng là bổn phận báo hiếu, ơn đền tổ tiên. Thờ phụng tổ
tiên thể hiện lòng hiếu thảo, sự thành kính biết ơn các bậc đã sinh thành, nuôi
nấng và tác thành cho mình. Tuy nhiên, con cháu chỉ được tổ tiên bao dung, che
chở khi sống xứng đáng với ước nguyện của tổ tiên. Mặt khác con cháu chỉ tôn
kính, qui thuận và thờ phụng tổ tiên khi tổ tiên xứng đáng là tấm gương sáng con
cháu noi theo. Nếu ai, trong quá khứ có hành động đi ngược lại lợi ích của cộng
đồng họ tộc và gia đình, chẳng những không được kính trọng, tôn thờ mà còn bị
nguyền rủa, trừng phạt.
Trên đây là những nguồn gốc xã hội, nhận thức và tâm lý của tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên. Song để làm sáng tỏ vấn đề, cần thiết phải xem xét những đặc
trưng chủ yếu nhất, tức là bản chất của nó.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng giống như các loại hình tín ngưỡng, tôn
giáo khác là sự phản ánh sai lệch hiện thực, là "sự phản ánh hư ảo - vào trong
đầu óc của con người - của những lực lương ở bên ngoài chi phối cuộc sống