Nghề sơn quang Cát Đằng (truyền thống và biến đổi) - Pdf 12


Bộ giáo dục v đo tạo Viện Khoa học x hội Việt Nam
viện nghiên cứu văn hoá
Nguyễn Lan hơng

Nghề sơn quang cát đằng
(Truyền thống v biến đổi) Chuyên ngnh: văn hoá dân gian
M số: 62 31 70 05
tóm tắt Luận án tiến sĩ văn hoá học
h nội - 2009
công trình đợc hon thnh tại
viện nghiên cứu văn hoá
Viện Khoa học x hội Việt Nam

2. Nguyễn Lan Hơng (2007), Một số kiến nghị đối với việc phục hồi và phát triển
các nghề thủ công mỹ nghệ ở Hà Nội, trong sách Thông báo VHDG 2006, Nxb
KHXH, Hà Nội, tr 81.
3. Nguyễn Lan Hơng (2007), Mấy suy nghĩ về sự phát triển các nghề thủ công mỹ
nghệ truyền thống ở Việt Nam, Tạp chí NCĐNA, (11), tr 66.
4. Nguyễn Lan Hơng (2007), Mô típ trang trí trong nghệ thuật dân gian, Tạp chí
VHNT, (12), tr 55.
5. Nguyễn Lan Hơng (2008), Nghề sơn quang Cát Đằng: Hàng chắp, Tạp chí
NCĐNA, (4), tr 61.
6. Nguyễn Lan Hơng (2008), Làng nghề sơn quang Cát Đằng, Tạp chí VHNT,
(287), tr 16.
7. Nguyễn Lan Hơng (2008), Quy trình chế tác sơn của Cát Đằng, Tạp chí NCĐNA,
(6), tr 60. 1
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tI
Trên vùng châu thổ Bắc Bộ, bên cạnh số đông các làng thuần nông, còn có nhiều làng nghề thủ công mỹ
nghệ, trong đó có nghề sơn và các sản phẩm sơn độc đáo mang tính xã hội cao, phản ánh nhiều khía cạnh đời
sống của con ngời Việt Nam. Tài liệu sử học và su tập khảo cổ học cho biết, nghề làm sơn ở Việt Nam xuất
hiện từ thời xa xa, có niên đại cách đây khoảng 2.400 - 2.500 năm. Trải qua thời gian, nghề sơn với nhiều kỹ
thuật và nhiều loại sản phẩm khác nhau không chỉ đem lại nguồn thu nhập đảm bảo một phần đời sống cho
những ngời thợ thủ công, mà còn đáp ứng đợc yêu cầu làm đẹp, làm bền cho các đồ gia dụng, đồ thờ cúng
của các tầng lớp nhân dân, trong các gia đình, chùa, đền, miếu, cho tới các đồ thờ cúng của triều đình, đồ
dùng của vua chúa và các tầng lớp quan lại.
Trong các làng sơn truyền thống của Bắc Bộ, nổi bật có làng sơn quang Cát Đằng (huyện ý Yên, tỉnh

của Đỗ Thị Hảo, Hà Tây làng nghề làng văn của nhiều tác giả, Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các
vị tổ nghề của Trần Quốc Vợng, Đỗ Thị Hảo, Con ngời môi trờng và văn hóa của Nguyễn Xuân Kính
v.v

2
Ngoài ra, các cuốn sách khảo sát về các nghề thủ công và các làng nghề trong bối cảnh CNH-HĐH nh:
Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vùng châu thổ
sông Hồng; Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. v.v
Đề cập nhiều đến nghề và các làng nghề truyền thống Việt Nam, còn có nhiều đề tài nghiên cứu nh:
Nghiên cứu đề xuất các mô hình quản lý và cải thiện làng nghề châu thổ Bắc Bộ (đề tài cấp nhà nớc), Nghề
thủ công mỹ nghệ châu thổ sông Hồng - Thực trạng và giải pháp (đề tài cấp bộ), Làng nghề thủ công huyện
Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, truyền thống và biến đổi (đề tài cấp viện). Chủ đề trên còn đợc đề cập và giới thiệu
trong hầu hết các cuốn địa chí cấp tỉnh, huyện, các công trình khảo cứu về làng, về tộc ngời trong thời gian
gần đây.
Nghề và các làng nghề cũng là đề tài hấp dẫn cho nhiều luận án, luận văn, nh: Nghề dệt cổ truyền ở
đồng bằng Bắc Bộ của Lâm Bá Nam, Nghề tạc tợng ở Hà Cầu, Đồng Minh, Vĩnh Bảo, Hải Phòng của
Trơng Duy Bích, Làng gốm Phù Lãng của Trơng Minh Hằng, Làng Cự Đà, quá trình hình thành và phát
triển của Huỳnh Phơng Lan, Làng thêu Quất Động của Nguyễn Thị Sáu, v.v
2.2. Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nghề sơn: Chuôn Ngọ làng khảm trai
truyền thống Hà Tây của Đỗ Thị Hảo, Nghề sơn truyền thống Việt Nam của Lê Huyên, Kỹ thuật sơn mài của
Phạm Đức Cờng, Làng nghề sơn Bình Vọng và Hạ Thái của Trơng Duy Bích, Trơng Minh Hằng, Sơn ta và
nghề sơn truyền thống của nhiều tác giả, Làng nghề Sơn Đồng của Trơng Duy Bích, Nguyễn Thị Hơng
Liên, Làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ (Phú Xuyên, Hà Tây) trong hành trình thơng mại hóa của Đỗ Xuân
Tiến, Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây của Nguyễn Xuân Nghị, v.v Có một số luận văn cao học về các
làng nghề sơn nh: Làng nghề sơn quang Cát Đằng của Nguyễn Lan Hơng, Nghề sơn truyền thống làng Hạ
Thái, xã Duyên Thái, huyện Thờng Tín, tỉnh Hà Tây của Nguyễn Xuân Nghị,
Nghề sơn với nghệ thuật trang
trí ứng dụng ở Việt Nam của Trần Thị Tuyết Hạnh.v.v Nghề sơn còn đợc đề cập trong rất nhiều bài viết
công bố trên các tạp chí: Văn hóa Dân gian, Văn hóa Nghệ thuật, Dân tộc học, Nghiên cứu Đông Nam
á.v.v

4. Đối tợng v phạm vi nghiên cứu
Đối tợng chính là các mặt liên quan đến nghề sơn quang và làng nghề sơn quang Cát Đằng, chú trọng
đi sâu vào kỹ thuật và sản phẩm, những nét riêng biệt của nghề, của làng nghề Cát Đằng.
Phạm vi nghiên cứu là làng Cát Đằng, mở rộng khảo sát sang cả làng Thợng Thôn và Trung Thôn từ
xa đến hiện nay (năm 2008).
Trong khuôn khổ Luận án, dới góc độ tiếp cận văn hóa làng nghề, chúng tôi vẫn để những làng nghề
sơn trớc kia thuộc tỉnh Hà Tây - nay thuộc thành phố Hà Nội thuộc về địa danh xứ Đoài trong tơng quan
với các làng nghề sơn của xứ Đông và xứ Nam.
5.
Phơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng lý thuyết và cách tiếp cận về không gian văn hóa, không gian xã hội và về vùng văn
hóa, lý thuyết và cách tiếp cận về kinh tế - xã hội tộc ngời.
Sử dụng phơng pháp điền dã nhân loại học văn hóa và folklore, chú trọng sử dụng phơng pháp điều tra
hồi cố, phơng pháp quan sát, phỏng vấn, tham dự các phơng pháp tổng hợp, thống kê, phơng pháp so
sánh đồng đại và lịch đại. Luận án coi trọng sử dụng phơng pháp hệ thống: đặt nghề sơn quang trong mối
liên hệ, vừa là nhân, vừa là quả với nhiều thành tố khác từ xa xa cho tới ngày nay.
6.
đóng góp của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu một cách toàn diện về nghề sơn quang và làng nghề sơn quang Cát
Đằng. Những kết luận khoa học của luận án có giá trị tham khảo trong việc đề ra những giải pháp phát huy
các giá trị truyền thống của nghề và làng nghề phát triển bền vững trong bối cảnh CNH - HĐH nông thôn.
7.
Bố cục của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận, chú thích, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung Luận án đợc chia thành bốn
chơng:
Chơng 1: Nghề sơn ở Việt Nam và làng sơn quang Cát Đằng
Chơng 2: Nghề sơn quang truyền thống làng Cát Đằng
Chơng 3: Đặc trng và giá trị của nghề sơn quang Cát Đằng
Chơng 4: Thực trạng nghề sơn quang Cát Đằng và những vấn đề đặt ra.


Nam, vào khoảng thế kỷ thứ IV - III trớc Công nguyên. Suốt nghìn năm Bắc thuộc, nghề sơn vẫn tồn tại và
phát triển. Trong kỷ nguyên phong kiến độc lập, tự chủ, nghề sơn ở nớc ta phát triển rất rực rỡ.
1.1.2.3. Nghề sơn qua các sử liệu
Đại Việt sử ký toàn th, Khâm định Việt sử thông giám cơng đều có những ghi chép về sản phẩm nghề
sơn.
Tuy Việt Nam ít giao thơng và lợng hàng hóa bán ra nớc ngoài không nhiều, nhng sản phẩm nghề
sơn vẫn đợc đánh giá cao. Trong sách Voyage and Discoveries, Dampier đánh giá rằng: Từ thế kỷ thứ
XVII, những sản phẩm bằng sơn ở đây (tức Kẻ Chợ - Hà Nội) không thua kém một nơi nào khác.
1.1.3. Các sản phẩm của nghề sơn
Đồ sơn có hai loại: sơn quang và sơn mài. Ngoài ra còn có một số loại sản phẩm chế tác theo các công
đoạn sơn nh sơn khắc, sơn khảm, sơn thếp, sơn then.
1.1.4. Các làng nghề sơn ở châu thổ Bắc Bộ
Vùng châu thổ Bắc Bộ, muộn nhất là đến đầu thế kỷ XIX, đã hình thành nhiều làng làm sơn. Một số làng
có chung kỹ thuật hoặc công đoạn nghề, nhng mỗi làng lại có sản phẩm khác nhau về hình dáng, kỹ thuật,
chất liệu và có những bí quyết riêng. Chúng tôi giới thiệu khái quát một số làng làm sơn hoặc làm các công
đoạn sơn chủ yếu, tiêu biểu của tỉnh Hà Tây, bao gồm các làng sơn Bình Vọng, Hạ Thái, Sơn Đồng, Bối Khê,
Chuyên Mỹ, Vũ Lăng, Duyên Trờng.
1.2
. TổnG quan về Lng cát đằng
1.2.1. Địa lý hành chính
Cát Đằng nằm trên đầu mối giao thông thủy bộ thuận lợi. Từ sau Hiệp định Giơnevơ (1954), Cát Đằng
thuộc xã Yên Tiến, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.
1.2.2. Lịch sử hình thành làng
Tại đình làng hiện vẫn còn nhiều cuốn th, câu đối, hoành phi ca ngợi công khai hoang lập làng của họ
Ngô, cuộc dấy nghĩa của nghĩa quân và nhân dân làng Cát Đằng, hởng ứng ngọn cờ thống nhất đất nớc của
vua Đinh Tiên Hoàng (giữa thế kỷ X).
1.2.3. Cơ cấu tổ chức làng xã trớc năm 1945 và hiện nay
1.2.3.1. Cơ cấu tổ chức làng xã trớc năm 1945: Cơ cấu tổ chức của làng Cát Đằng gồm các thiết chế:
dòng họ, xóm, giáp và hội đồng kỳ mục, chức dịch, đợc vận hành nhờ hơng ớc của làng. Bản hơng ớc
gồm 26 khoản, 156 điều, điều chỉnh hầu hết các mặt đời sống của làng.

Cát Đằng nằm trên đầu mối giao thông thủy bộ thuận lợi trong vùng châu thổ Bắc Bộ. C dân làng Cát
Đằng trong quá trình xây dựng làng xóm đã tạo dựng đợc một hệ thống các công trình thờ cúng phục vụ cho
đời sống tâm linh, gồm đình, chùa, đền, miếu, phủ, văn chỉ, trong đó có đền thờ tổ nghề sơn.

Chơng 2
Nghề sơn quang truyền thống lng cát đằng
2.1.
Nguồn gốc của nghề sơn Cát Đằng
Căn cứ vào sự ghi chép trong thần phả và dựa vào truyền thuyết thì nghề sơn Cát Đằng có từ cuối đời
Trần (cuối thế kỷ XIV), đầu đời Hồ (đầu thế kỷ XV). Ngời làng Cát Đằng vẫn tin rằng các ông Ngô Đức
Dũng, Ngô Ân Ba là tổ nghề, đợc dân làng thờ phụng thành kính.
2.2.
Nguyên liệu, công cụ v kỹ thuật lm sơn
2.2.1. Nguồn nguyên liệu: Sơn phẩm nghề sơn quang Cát Đằng sử dụng các loại nguyên liệu là: sơn, gỗ,
tre, nứa, vầu, mây.
2.2.2. Các công cụ làm nghề: Để chế tác ra một sản phẩm sơn, ngời ta phân dụng cụ thành loại dùng
chế tác các loại sơn, một loại dùng chế tác các sản phẩm sơn. Ngoài ra, ngời ta sử dụng một số dụng cụ khác
dùng để làm đồ mộc.
2.2.3. Quy trình và kỹ thuật pha chế sơn: Những công đoạn chính trong quy trình kỹ thuật của nghề
sơn Cát Đằng bảo quản sơn và các kỹ thuật chế biến sơn. Chế biến nhựa sơn đòi hỏi nhiều kỹ năng, nhiều

6
công đoạn, bao gồm: lọc sơn, vặn sơn, đánh sơn, pha chế màu (pha chế sơn cánh gián, sơn then, sơn son, sơn
thếp).
2.2.4. Nghề sơn quang Cát Đằng trong mối tơng quan với nghề sơn của một số làng nghề sơn điển
hình ở Châu Thổ Bắc Bộ
Nh đã trình bày tại chơng 1, nghề sơn có từ rất sớm, sản phẩm sơn ban đầu có mục đích đáp ứng nhu
cầu sử dụng thiết yếu của con ngời. Những sản phẩm làm ra đợc mô phỏng theo sự vật tự nhiên. Theo thời
gian, bàn tay con ngời dần khéo hơn và t duy con ngời đợc nâng cao, sản phẩm ngày càng thay đổi đẹp
hơn.

2.4.2.3. Với những ngời thợ cả - chức sắc, họ cũng có thu nhập tơng đối cao vì, nh đã trình bày, họ
"ăn cánh" với các chức sắc, chức dịch các làng để nhận các hợp đồng với kinh phí rất cao.
2.4.2.4. Với các thợ cả không phải chức sắc, họ không có đợc lợi thế để tìm kiếm đợc nhiều hợp đồng
làm việc ở ngay tại quê nhà hoặc lân cận mà phải đi xa và làm ăn lu động.
2.4.2.5. Các thợ đầu cánh và thợ bạn - lực lợng chính làm nên các sản phẩm độc đáo của nghề sơn
quang Cát Đằng là ngời chịu thiệt thòi nhất và có thu nhập thấp nhất.
2.5.
ý thức v tâm lý nghề nghiệp
Trong tâm thức của ngời Cát Đằng, làm sơn quang là nghề cha truyền con nối. Ngời Cát Đằng rất tự
hào và luôn giữ lấy đạo đức

7
nghề nghiệp, nhất là khi đi làm cho các đình chùa, đền miếu.
ở Cát Đằng, việc giữ bí quyết nghề đợc coi trọng, tuy không thật nghiêm ngặt nh một số nơi khác.
Tiểu kết
Vì có cả một bề dày lịch sử hình thành và phát triển, nên những ngời thợ sơn Cát Đằng đã tích lũy đợc
nhiều kinh nghiệm làm nghề. Điều này thể hiện rõ qua cách thức tìm chọn và mua nguyên liệu, qua những bộ
công cụ làm sơn, công nghệ và thao tác kỹ thuật chế biến các loại sơn.
Cách thức tổ chức sản xuất làm tại nhà và đi làm lu động liên quan chặt chẽ đến cách tiêu thụ sản phẩm,
thu nhập và đời sống của của ngời thợ Cát Đằng.
Sở dĩ nghề sơn truyền thống làng Cát Đằng có sự tồn tại và phát triển lâu dài và liên tục trong lịch sử là
do ngời Cát Đằng đã gìn giữ và phát huy đợc những truyền thống riêng từ đời này qua đời khác. Bên cạnh
những truyền thống kỹ thuật và nghệ thuật chung của nghề sơn Việt Nam, ngời dân làng Cát Đằng, bằng
những ngón nghề truyền thống riêng của mình, đã, đang và sẽ còn tạo ra những sản phẩm sơn độc đáo mang
dấu ấn Cát Đằng rõ nét.

Chơng 3
Đặc trng v giá trị của nghề sơn quang Cát Đằng
3.1. Các loại hình sản phẩm v đặc trng kỹ thuật lm nghề
3.1.1. Đồ thờ cúng

thành phần trang trí theo kiểu th pháp. Nhóm thứ hai gắn liền với đời sống, mô tả thế giới thực vật hoa và
quả. Ngoài bốn loài hoa trong tứ quý còn thấy hoa mẫu đơn, hoa phù dung, hoa chuối, hoa móng rồng. Quả
thờng có tám loại quả nh đào, lựu, lê, mận, nho, phật thủ, bầu, bí. Ngoài các con vật trong tứ linh còn thấy
những con khác nh ngựa, voi, cá, cò, hổ, hơu, gà, dơi, hạc. Nhóm thứ ba bao gồm các mô típ trang trí hình
kỷ hà gãy khúc, đờng uốn cong, hình tròn hình chữ thập, hình tam giác
3.3.
Giá trị văn hóa
Nét văn hóa đầu tiên của nghề sơn quang Cát Đằng là sự gắn bó với các lễ hội tôn sùng tổ làng nghề và
các lễ hội khác trong làng.
Vào ngôi đình, chùa, đền, miếu, quán, trong t gia ta cảm nhận đợc chất Việt ở không gian và kiến
trúc nhờ sự đóng góp của các sản phẩm sơn quang là đồ thờ cúng và đồ gia dụng.
Làng Cát Đằng có truyền thống làm nghề với nhiều đôi bàn tay vàng. Nghệ nhân bao đời đã dạy, truyền
nghề cho con em. Ngời làng còn rất chú trọng đến sự nghiệp giáo dục con trẻ. Làng rất tự hào vì có số sinh
viên lên tới hàng trăm em.
So với các làng quê thuần nông khác, ở Cát Đằng, nhờ có nghề, ngời dân có điều kiện chăm lo tu sửa
các di tích, tạo không gian và cảnh sắc văn hóa đẹp.
Tiểu kết
Sản phẩm Cát Đằng chia thành 2 dòng là đồ thờ cúng và đồ gia dụng. Đồ thờ cúng thờng chế tác bằng
gỗ, gắn với các kỹ thuật: vá (gắn, sửa gỗ), thảo, bó, hom, lót, kẹt, thí. Đồ gia dụng thờng đợc chế tác từ tre
nứa, mây. Loại hàng chắp thờng là mâm ăn, hộp trầu, tráp quả, lọ, Công đoạn làm hàng chắp và hàng đan
là: pha nứa, chần nứa, chắp nứa, mài giọt. Sau mài giọt sản phẩm đợc chia loại hàng lộ cốt và hàng không
lộ cốt. Hàng nan đan chỉ khác hàng chắp ở việc chẻ nan nhỏ.
Trải qua quá trình lao động tìm tòi và sáng tạo, hình dáng tiêu biểu của sản phẩm Cát Đằng thờng gần
gũi với tự nhiên, lấy từ mẫu hình thẩm mỹ tự nhiên a nhìn và hài hòa với đời sống tâm lý, tín ngỡng của
ngời dân. Các mô típ trang trí thờng mang nét tợng trng, thể hiện t duy thô sơ về vũ trụ, thời tiết và các
quan niệm nhân sinh qua biểu tợng về tứ linh, tứ quý. Bên cạnh đó, thế giới động, thực vật hoa quả, cây, con
quen thuộc nh hoa chuối, hoa móng rồng, quả lựu, nho, bầu, bí, con ngựa, cá, cò, dơi, hạc cũng xuất hiện.
Nhóm các mô típ trang trí theo hình kỷ hà gãy khúc, đờng uốn cong, hình tròn hình chữ thập, hình tam giác
hoặc hình các vật thực đợc cách điệu theo một thể thức ớc lệ và cô đọng.
Sơn quang sử dụng 4 màu vàng, bạc, cánh gián, son và các thủ pháp vẽ kết hợp với rắc vàng bạc để lộ

đã tạo nên những biến đổi về nguyên liệu, kỹ thuật và sản phẩm.
Những biến đổi về nguyên liệu: Từ những năm 1980 bắt đầu xuất hiện rải rác ở các làng nghề loại sơn
Nhật (Polysai), sơn điều. Sau này do nhu cầu đặt hàng nhiều nên ở Cát Đằng đã dần thay thế sơn ta bằng sơn
Nhật và sơn điều. Những biến đổi về kỹ thuật: Nghề sơn truyền thống phải thực hiện từ khâu bảo quản sơn;
kỹ thuật phân loại nhựa sơn, kỹ thuật chế biến sơn, pha chế sơn tạo màu, kỹ thuật làm sản phẩm từ hom lót
sơn phải thực hiện 13 đến 20 nớc sơn. Hiện nay do ảnh hởng của cơ chế thị trờng, ngời ta sử dụng sơn
điều hoặc sơn Nhật, cắt bớt đợc 50% công đoạn. Những biến đổi về sản phẩm, về hình dáng sản phẩm: Kỹ
thuật chế tác sản phẩm (sơn sống) mỹ nghệ đòi hỏi sự cần mẫn, tinh khéo. Sản phẩm nhiều năm không thay
đổi, thực hiện theo nguyên mẫu, và đợc truyền từ đời này sang đời khác. Chính vì những điều này mà sản
phẩm của làng Cát Đằng có những u điểm và nhợc điểm.
u điểm: Giữ đợc nghề không bị mai một, không quá ham theo thị trờng mà bỏ mất nghề sơn - vì thế
đã đa làng tới sự hoàn chỉnh và bảo lu những giá trị truyền thống bền vững.
Nhợc điểm: Hạn chế tính sáng tạo của ngời thợ làm nghề, tạo nên lối mòn trong chế tác sản phẩm.
Hạn chế sự biểu đạt trong nghệ thuật, không học hỏi để phát triển hình vẽ mới, tạo dáng mới.
Chính vì những lý do trên mà Sự thay đổi của hình dáng sản phẩm là một tất yếu khách quan.
4.1.2.3. Thay đổi về tổ chức sản xuất
Tổ chức sản xuất vẫn kế thừa những yếu tố truyền thống, bên cạnh đó, do sự thay đổi của chức năng, kỹ
thuật sản xuất và loại hình sản phẩm, trong làng đang tồn tại nhiều hình thức tổ chức sản xuất.
Làm tại nhà: Phần lớn các gia đình trong làng mua nguyên vật liệu về làm hàng theo hình thức làm hàng
chợ hoặc hàng đặt.
Đi làm lu động: Hình thức làm nghề truyền thống này hiện nay vẫn đợc duy trì và có phần phát triển.
Mở công ty, doanh nghiệp: Hình thức này xuất hiện từ năm 2003 và cũng là nét mới của làng nghề Cát
Đằng. Các công ty, doanh nghiệp đều có quy mô gia đình, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa tiêu thụ
nhanh hơn, nhiều, hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy việc làm nghề của số đông hộ dân làng.
4.2. những khó khăn, thách thức của nghề v lng nghề hiện nay
Khó khăn và thách thức lớn nhất hiện nay là những nguyên liệu thiết yếu hiếm và đắt dần. Mặt bằng sản
xuất của cũng là vấn đề nan giải. Trình độ tổ chức sản xuất và quản lý, đối ngoại của các công ty, doanh
nghiệp còn rất nhiều hạn chế. Tình trạng ô nhiễm môi trờng, nguồn nớc, ô nhiễm không khí do việc làm
nghề gây ra.
4.3.

Trong bối cảnh bung ra của nghề sơn tại làng Cát Đằng và các làng lân cận, một bộ phận ngời Cát
Đằng chạy theo lợi ích trớc mắt, làm dối, làm ẩu, khiến cho danh tiếng của sản phẩm Cát Đằng bị suy giảm.
Bằng những nỗ lực của những nghệ nhân có tâm huyết, nghề sơn Cát Đằng dần lấy lại vị thế với những sản
phẩm chiếm đợc lòng tin của khách hàng, thông qua việc thay đổi mẫu mã và một số nguyên liệu, cơ giới
hóa nhiều khâu sản xuất, đổi mới kỹ thuật. Từ năm 2001, ngời Cát Đằng đã chủ động thành lập các doanh
nghiệp, công ty, đẩy mạnh sản xuất, giúp cho sản phẩm sơn Cát Đằng đợc quảng bá ra nhiều vùng đất nớc
hơn.
Tuy nhiên, nghề sơn Cát Đằng cũng đang đứng trớc những khó khăn và thách thức lớn. Đó là sự cạnh
tranh quyết liệt với các sản phẩm sơn của các làng khác và cạnh tranh giữa ngời làng với nhau, năng lực
kinh doanh và quản lý của các chủ công ty, doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, nhất là trình độ ngoại ngữ và tin
học; là sự khan hiếm và đắt đỏ, ngày càng tăng giá của nguồn nguyên liệu; mặt bằng sản xuất chật hẹp; là
tình trạng ô nhiễm môi trờng ngày càng gia tăng, ảnh hởng lớn đến sức khỏe của ngời lao động và dân
làng nói chung. Những khó khăn và thách thức đó không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực khắc phục, vơn lên của bản
thân ngời Cát Đằng mà cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính quyền các cấp và các ngành có liên quan. Chỉ có
các giải pháp mang tính đồng bộ mới thực sự đa đến sự phát triển toàn diện và bền vững cho làng nghề.
Kết luận
1. Cát Đằng nằm ở phía Nam châu thổ Bắc Bộ, trên đầu mối giao thông thuỷ bộ rất tiện lợi cho giao lu
kinh tế - văn hóa. Làng đợc hình thành từ thế kỷ X. Cơ cấu tổ chức, lệ tục của làng mang mẫu chung của
làng Việt vùng châu thổ Bắc Bộ, đợc vận hành thông qua lệ tục và hơng ớc. Song có nét khác biệt mang
tính riêng của làng nghề là các thợ cả của nghề sơn chiếm số lợng đáng trong bộ máy quản lý làng xã (hội
đồng kỳ mục, lý dịch).

11
2. Từ c dân nông nghiệp, ngời Cát Đằng sớm học đợc nghề sơn, vào khoảng cuối thế kỷ XIV, đầu thế
kỷ XV với chứng cứ lu truyền dân gian và những ghi chép trong thần phả.
Nghề sơn Cát Đằng dùng chất liệu sơn ta (sơn Phú Thọ) để sơn mới hoặc sơn lại các đồ cốt bằng gỗ (chủ
yếu là đồ thờ cúng) và một phần làm các đồ chất liệu tre nứa (chủ yếu là đồ gia dụng). Đặc điểm này quy
định cách thức tổ chức làm nghề với các hình thức: làm tại nhà, đi làm lu động tại các làng quê và mở cửa
hiệu tại các đô thị; trong đó, làm lu động là hình thức chủ đạo. Ngời thợ cả giữ vai trò đầu mối trong việc
hình thành, tồn tại các tốp thợ và tổ chức sản xuất. Thu nhập của ngời thợ sơn phụ thuộc vào vị thế, uy tín

hợp tác hóa đa ngời thợ sơn vào con đờng làm ăn tập thể. Nghề sơn quang chuyển sang sơn mài, ngời
thợ sơn trở thành ngời lao động làm thuê cho các công ty sơn mài xuất khẩu thông qua HTX. Hàng sơn làm
ra chủ yếu để xuất khẩu sang thị trờng các nớc thuộc khối xã hội chủ nghĩa.
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nớc Đông Âu đã làm cho nghề sơn mài của Cát Đằng bị tê liệt vì mất thị
trờng tiêu thụ chính. Ngời thợ thủ công Cát Đằng đứng trớc những khó khăn rất lớn về đời sống do HTX
Sơn mài không thể duy trì đợc sản xuất.
5. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc đã tạo ra một loạt nhân tố tích cực cho sự phục hồi nghề sơn Cát
Đằng. Trớc hết là việc đánh giá lại một cách đúng đắn vai trò của văn hóa truyền thống trong phát triển,
giúp cho việc phục hồi các công trình tín ngỡng (đình chùa, đền miếu, nhà thờ họ, lăng tẩm) và các hoạt

12
động tín ngỡng - lễ hội. Đây là nhân tố đầu tiên, quan trọng nhất đối với việc phục hồi nghề sơn quang Cát
Đằng. Việc đánh giá đúng vai trò của hộ gia đình trong sản xuất, trong quản lý kinh tế và chính sách khuyến
công của Nhà nớc đã khiến các tốp thợ Cát Đằng lại đợc hình thành, trở về với công việc sơn đồ thờ cúng
trong các công trình tín ngỡng ở nhiều vùng với nhịp điệu lao động tăng gấp nhiều lần so với thời trớc.
Tuy nhiên, nghề sơn Cát Đằng cũng đang đứng trớc những khó khăn và thách thức lớn. Trớc hết là
năng lực tổ chức kinh doanh mở rộng sản xuất còn nhiều hạn chế. Họ không liên kết thành một khối, tạo ra
một sức mạnh thật sự để nghề sơn Cát Đằng có một thế đi lên vững chắc, trong bối cảnh đang phải đối mặt
với sự cạnh tranh quyết liệt với các sản phẩm sơn của các làng khác, với sự khan hiếm và đắt đỏ, ngày càng
tăng giá của nguồn nguyên liệu. Bên cạnh đó là mặt bằng sản xuất chật hẹp; ô nhiễm môi trờng ngày càng
gia tăng, ảnh hởng lớn đến sức khỏe của ngời lao động.
Những khó khăn và thách thức đó không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực khắc phục, vơn lên của bản thân ngời Cát
Đằng mà cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính quyền các cấp và các ngành có liên quan. Với ngời Cát Đằng,
một mặt cần không ngừng cải tiến kỹ thuật, cải tiến mẫu mã sản phẩm để phục vụ khách hàng đa dạng; phát
huy những đức tính tốt đẹp, những mặt tích cực vốn có của ngời thợ thủ công và của làng nghề, cần khắc
phục những mặt hạn chế của con ngời truyền thống nặng t tởng tiểu nông.
Về phía Nhà nớc, cần giúp Cát Đằng nói riêng, các làng nghề trong xã Yên Tiến nói chung trong quy
hoạch, xây dựng khu sản xuất nhằm giảm bớt tình trạng ô nhiễm, bảo đảm an toàn lao động; xây dựng hệ
thống xử lý rác thải, phế thải sản xuất và nớc thải sinh hoạt nhằm bảo đảm vệ sinh; tăng cờng tuyên truyền
quảng bá thơng hiệu cho sản phẩm Cát Đằng, mở rộng thị trờng tiêu thụ; tạo những thông thoáng về hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status