Lễ hội của người Thái ở miền Tây Nghệ An, Truyền thống và biến đổi - Pdf 41

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

HOÀNG VĂN HÙNG

LỄ HỘI CỦA NGƯỜI THÁI Ở MIỀN TÂY
NGHỆ AN: TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI – 2017


BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

HOÀNG VĂN HÙNG

LỄ HỘI CỦA NGƯỜI THÁI Ở MIỀN TÂY
NGHỆ AN: TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62310640

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Hoàng Nam

HÀ NỘI - 2017



Tiểu kết
41
CHƯƠNG 2. LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI Ở MIỀN
TÂY NGHỆ AN
43
2.1. Nguồn gốc và diễn trình lễ hội
43
2.2. Đặc điểm và giá trị của lễ hội
81
Tiểu kết
90
CHƯƠNG 3. BIẾN ĐỔI TRONG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA
NGƯỜI THÁI Ở MIỀN TÂY NGHỆ AN
92
3.1. Những biểu hiện của sự biến đổi
92
3.2. Nguyên nhân của sự biến đổi
112
Tiểu kết
116
CHƯƠNG 4. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY ĐỐI VỚI LỄ HỘI
CỦA NGƯỜI THÁI Ở MIỀN TÂY NGHỆ AN
118
4.1. Vai trò của lễ hội truyền thống
118
4.2. Lễ hội trong đời sống xã hội cộng đồng người Thái
130
Tiểu kết
140
KẾT LUẬN

HCM

Hồ Chí Minh

h.

Huyện

KHXH

Khoa học xã hội

Nxb.

Nhà xuất bản

PGS

Phó giáo sư

SL

Số lượng

t.Cn

Trước công nguyên

TP.


tôn vinh, tưởng niệm những người đã được cộng đồng suy tôn, bao gồm các
vị nhân thần, thiên thần và cả những hiện tượng tự nhiên - xã hội khác. Lễ hội
chứa đựng các giá trị văn hoá truyền thống đã được chắt lọc, kết tinh qua
nhiều thế hệ như lối sống, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hoá
nghệ thuật. Các giá trị ấy có tác động sâu sắc đến việc hình thành cốt cách,
tình cảm, diện mạo văn hoá của cộng đồng, là những thành tố quan trọng cấu
thành nền văn hoá truyền thống Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng
khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc, đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể trong sự nghiệp xây
dựng văn hoá Việt Nam, trong đó có nhiệm vụ bảo tồn, kế thừa, phát huy
các di sản văn hoá, các giá trị văn hoá truyền thống nói chung và lễ hội
truyền thống nói riêng.
Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng bắc Trung Bộ, nơi có nhiều dân tộc
sinh sống, như dân tộc Kinh, Thái, Khơ Mú, H’mông,…mỗi dân tộc đều lưu
giữ một bản sắc văn hoá riêng, tập quán riêng. Người Thái ở Nghệ An có
khoảng 12 nghìn người, và chủ yếu là người Thái trắng, sinh sống tập trung ở
các huyện phía Tây của tỉnh như huyện Quỳ Hợp, Quế Phong, Con Cuông,
Nghĩa Đàn, Quỳ Châu. Người Thái ở đây còn lưu giữ được nhiều nét văn hoá
đặc trưng của tộc người như: nhà ở, trang phục, văn nghệ dân gian, tín
ngưỡng dân gian, và đặc biệt là lễ hội truyền thống.


5
Các hoạt động trong lễ hội truyền thống của người Thái nhằm cầu an
cho bản mường, là dịp để mọi người gặp gỡ với nhau trong cả sinh hoạt vật
chất lẫn tâm linh, vừa bộc lộ lòng thành kính, ngưỡng vọng thánh thần, lễ hội
vừa thể hiện sức mạnh của con người, cầu phúc cho một cuộc đời hạnh phúc,
an bình, vừa bộc lộ khả năng vui chơi, thi tài...với các nghi lễ phồn thực, nơi
nam thanh nữ tú tụ hộị và hẹn hò nhau kết duyên vợ chồng; có các trò chơi

thống của người Thái như: việc xuất hiện một số yếu tố văn hóa ngoại lai, lễ
hội truyền thống bị sân khấu hóa và có kịch bản na ná, cộng đồng người Thái
địa phương không thực sự còn là chủ thể của lễ hội.
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của các lễ hội này, là một
người con dân tộc Thái, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc
tìm hiểu bản sắc, tìm ra các giải pháp giữ gìn, phát huy giá trị lễ hội truyền
thống của người Thái, tác giả chọn đề tài: Lễ hội của người Thái ở miền Tây
Nghệ An: Truyền thống và biến đổi làm đề tài luận án tiến sĩ Văn hoá học
của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những yếu tố truyền thống và biến đổi trong lễ hội của người
Thái ở miền Tây Nghệ An, trên cơ sở đó đặt ra những vấn đề về bảo tồn và
phát huy những lễ hội này trong cộng đồng người Thái tại địa phương.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết giúp cho việc nhận diện lễ hội truyền
thống và những biến đổi của nó.
- Mô tả và phân tích đặc điểm, giá trị trong lễ hội truyền thống của
người Thái ở miền Tây Nghệ An.


7
- Phân tích được những biểu hiện của sự biến đổi trong các lễ hội
truyền thống này. Khái quát được các xu hướng biến đổi.
- Đặt ra được những vấn đề cần thiết cho việc bảo tồn và phát huy lễ
hội truyền thống của người Thái ở miền Tây Nghệ An hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu đặc điểm, giá trị trong lễ hội truyền thống của người
Thái ở miền Tây Nghệ An và những biến đổi của nó hiện nay.

sâu, thảo luận nhóm với các kỹ thuật hỗ trợ như ghi âm, chụp ảnh… Nguồn tư
liệu chính sử dụng trong luận án được thu thập và phân tích từ những cuộc
điền dã từ năm 2011 đến năm 2015 tại 2 huyện Quế Phong và huyện Quỳ
Châu, tỉnh Nghệ An.
- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp: Kế thừa các tài liệu có sẵn
qua các tác phẩm đã công bố như sách, tạp chí, báo cáo, số liệu thống kê... ở
Trung ương và địa phương cũng được chúng tôi quan tâm và khai thác. Kết
hợp nguồn tài liệu thứ cấp và tư liệu điền dã tiến hành phân tích, so sánh giữa
lễ hội xưa và lễ hội hiện nay của người Thái. Trên cơ sở đó, có cái nhìn tổng
quan về góc độ truyền thống và những biến đổi trong lễ hội của người Thái ở
miền Tây Nghệ An, đồng thời, xác định những nội dung nào đã được nghiên
cứu và nội dung nào cần tiếp tục nghiên cứu.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: địa lý học, sử học, văn hoá dân
gian, xã hội học và dân tộc học để nhìn nhận và giải quyết vấn đề trong việc
nhận dạng các yếu tố truyền thống và biến đổi nhằm bảo tồn, phát huy giá trị
văn hoá của các lễ hội này.


9
5. Đóng góp của luận án
- Luận án đóng góp tư liệu nghiên cứu về lễ hội của người Thái ở miền
Tây Nghệ An
- Luận án làm sáng tỏ thực trạng lễ hội truyền thống của người Thái ở
miền Tây Nghệ An ở góc độ truyền thống và biến đổi; cung cấp một số giải
pháp có ý nghĩa trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của các lễ hội này.
- Luận án làm tài liệu tham khảo, cơ sở để xây dựng kế hoạch bảo
tồn và phát huy các giá trị lễ hội truyền thống của người Thái ở miền Tây
Nghệ An.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án có

vào các lĩnh vực của khoa học xã hội & nhân văn, môi trường sinh thái) các
tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái ở Việt Nam. Chương trình Thái
học chú trọng sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp dân tộc
học với các ngành khoa học xã hội có liên quan như sử học, xã hội học, ngôn
ngữ học, văn hóa dân gian, địa lý, môi trường. Các công trình giới thiệu tại
các cuộc Hội thảo thuộc chương trình Thái học đều được đầu tư công phu, có
cơ sở khoa học và sát với thực tiễn cuộc sống, bước đầu lý giải nhiều vấn đề
mà lâu nay giới nghiên cứu văn hóa, lịch sử còn tranh luận. Một điều quan


11
trọng hơn phải khẳng định, đây là môi trường hết sức có ý nghĩa nhằm bảo
tồn bản sắc văn hóa của các tộc người nói tiếng Thái trên thế giới cũng như ở
Việt Nam.
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã
hội của người Thái ở Việt Nam như: “Những hiểu biết về người Thái ở Việt
Nam” của Cầm Trọng [105]. Tác giả giới thiệu lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã
hội, tín ngưỡng tôn giáo người Thái Việt Nam. Đây là công trình có phương
pháp tiếp cận mới, đa chiều, nhiều chi tiết khi luận giải về cội nguồn lịch sử,
văn hóa Thái đã gắn liền với cội nguồn lịch sử, văn hóa của người Việt. “Văn
hóa Thái Việt Nam” của nhóm tác giả Cầm Trọng, Phan Hữu Dật. Công trình
này giới thiệu tổng quát về người Thái và Thái học, về văn hóa Thái trong cội
nguồn chung của Việt Nam và Đông Nam Á. Mối quan hệ giữa văn hóa Thái
với văn hóa các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ Me ở Tây Bắc và một số
dân tộc ở miền Bắc Việt Nam [102]. Tác phẩm “Tư liệu về lịch sử và xã hội
dân tộc Thái” do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên và một số cộng sự thực hiện
[115] đã cho chúng ta hình dung những nét cơ bản về lịch sử tộc người Thái.
Cuốn Truyện kể bản mường của người Thái Đen ghi các sự kiện xảy ra trong
từng mường do một chúa đất cai quản, đời này ghi tiếp đời kia từ lúc hai nhân
vật là tạo Ngần, tạo Xuông dẫn dắt người Thái theo dọc sông Hồng (nặm Tao)

một số công trình tập trung nghiên cứu người Thái ở một khu vực cụ thể như
Tây Bắc và Tây Nghệ An. Tiêu biểu phải kể đến tác phẩm “Người Thái ở Tây
bắc Việt Nam” của tác giả Cầm Trọng. Nghiên cứu về lịch sử, kinh tế, xã hội,
tập quán người Thái Tây Bắc Việt Nam. Có thể khẳng định, đây là công trình
của tác giả Việt Nam đầu tiên giới thiệu khá sâu sắc về văn hoá, phong tục tập
quán của người Thái Tây Bắc nước ta [102]. “Thiết chế bản - mường truyền
thống của người Thái ở miền Tây Nghệ An” của tác giả Vi Văn An [1]. Đây
là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam đề cập tới vấn đề thiết chế quản lý
xã hội của cộng đồng dân tộc Thái. Trọng tâm nghiên cứu của luận án là hai


13
mường thuộc huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An (ngày nay), đó là Mường Quạ
và Mường Chai. Luận án đã rút ra những kết luận quan trọng, có ý nghĩa lý
luận về lịch sử, nguồn gốc quản lý xã hội trong cộng đồng dân tộc Thái lúc
bấy giờ. “Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của người Thái Bắc
Trung bộ hiện nay”, do tác giả Cao Văn Thanh chủ biên [86]. Nghiên cứu
đại cương về người Thái và văn hóa truyền thống của người Thái ở vùng
núi Bắc Trung bộ, khái quát thực trạng văn hóa và đưa ra một số giải pháp
bảo tồn, phát huy, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của người Thái
Bắc Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay.
Nghệ An là tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số, trong đó người Thái chiếm
đa phần. Nghiên cứu đầu tiên về cộng đồng thiểu số ở Nghệ An của tác giả
Nguyễn Đình Lộc có tựa đề “Các dân tộc thiểu số Nghệ An” [54], công trình
này đã giới thiệu một cách khái quát văn hoá, lịch sử, truyền thống của đồng
bào người Thái ở Nghệ An, đây cũng là công trình đã và đang là “cẩm nang”
quan trọng cho những người quan tâm tìm hiểu văn hóa các dân tộc thiểu số
Nghệ An, trong đó có người Thái. Ở Nghệ An có các nhóm Tày Mường, Tày
Thanh, Tày Mười và vấn đề tên gọi của các nhóm này khá phức tạp. Các
nhóm Tày Mường còn có tên gọi là Hàng Tổng và nhóm Tày Thanh còn gọi

từ công trình nghiên cứu “Lễ hội cổ truyền” do Lê Trung Vũ chủ biên.
Cuốn sách này cung cấp cho chúng ta những nghiên cứu về các lễ hội theo
phương pháp của các trường Đại học tại Liên Xô, tách phần lễ và hội ra với
những “hành động hội”, “kịch bản hội” theo mô hình các lễ hội quần chúng
[118]. Cách nhìn nhận ấy có ảnh hưởng không nhỏ tới giới hoạt động và
nghiên cứu văn hóa trong một thời gian dài cho đến tận bây giờ. Nó khác
với các quan niệm về văn hóa đơn thuần, ý nghĩa lớn lao của lễ hội “đưa
quá khứ hội nhập vào hiện tại, qui tụ toàn bộ năng lượng của vũ trụ, của
không gian và thời gian đậm đặc năng lượng thiêng mà con người đi dự hội


15
có nguyện vọng tắm mình trong đó, để sau đó họ là một con người khác đáp
ứng cho năm mới, mùa mới” [84].
Về vai trò, chức năng của lễ hội, một số công trình lại thiên về các yếu
tố tác động tới lễ hội, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố kinh tế thị trường và các
chủ trương, chính sách phát triển lễ hội của Đảng và Nhà nước [58] hay các
giá trị của lễ hội trong đời sống hiện nay.
“Lễ hội gồm hai phần vừa tách rời vừa không tách rời nhau”, đó là
nhận định mang cả ý nghĩa thực tiễn và lý luận. Lễ hội xoắn xuýt hữu cơ vào
nhau, không thể tách rời [120]. Do đó, nếu không xem xét lễ hội ở góc độ như
thế sẽ rất thiếu sót và dễ làm thô thiển hóa ý nghĩa đích thực của lễ hội.
Nhưng cho dù là lễ hội hay hội lễ thì khi nghiên cứu cũng không thể phủ nhận
rằng hai phần lễ và hội của nó là một chỉnh thể nguyên hợp [56].
Lễ hội truyền thống là một loại hình văn hóa, có thể nói là một loại tác
phẩm văn hóa của tộc người, là nhu cầu không thể thiếu được trong tư duy,
trong đời sống tinh thần của nhân dân, nhất là của nông dân trong xã hội nông
nghiệp. Chính vì vậy, lễ hội từ góc độ xã hội học nói theo Emily Durkheim đã
trở thành một hiện tượng xã hội, hay nói theo Mac Vayber, là một hành động
xã hội có ý nghĩa xã hội học cực kỳ rộng lớn.

khấm khá, kinh tế phát triển, đời sống văn hóa được cải thiện, nhu cầu văn
hóa tăng lên. Cùng với việc xây dựng các đình, đền, chùa, miếu là việc khôi
phục lại các lễ hội làng vốn bao lâu nay bị quên lãng. Lễ hội làng được tổ
chức để xác định lại vị trí của di tích trở lại hình bóng xưa của văn hóa làng.
Lễ hội đã làm hồi sinh ý thức trở lại cội nguồn, nhiều giá trị văn hóa tộc người
được tìm kiếm, chắp nhật cho con cháu trong bối cảnh kinh tế thị trường. Lễ
hội cũng tạo ra nguồn lợi kinh tế to lớn đối với cộng đồng làng, tạo việc làm


17
cho dân làng. Tuy nhiên, những mặt trái của kinh tế thị trường cũng được biểu
hiện rõ nét trong lễ hội hiện nay [58, tr.8, 10, 380, 382].
Một số nghiên cứu khác của Quinn [136] và Richards [138] đã nghiên
cứu xu hướng thương mại hóa lễ hội, kết nối du lịch sự kiện, tiêu dùng, thông
qua việc khai thác tính năng hiệu quả của truyền thông và của các chương
trình quảng cáo, tiếp thị. Các nghiên cứu này chủ yếu quan sát hành vi của
người tiêu dùng và các cách thức tiếp thị để thu hút, tạo động lực để người
dân tham gia lễ hội. Các nghiên cứu cũng quan sát đến mối quan hệ, liên kết
giữa chất lượng lễ hội, sự hài lòng, và hành vi hay ý định trong tương lai của
du khách tham gia, lẫn các nhà đầu tư, tài trợ.
Từ quá trình hiện đại hóa lễ hội vượt ra khỏi phạm vi quản lý của “cộng
đồng chủ”, những tác động tiêu cực của các lễ hội đến môi trường sinh thái và
nhân văn, cũng được chú ý trong các quan sát và phân tích của các học giả
trong và ngoài phạm vi ngành nhân học. Lĩnh vực này có các công trình của
Getz, D, & Frisby, W. [128] , Hall [129], Hall và Sharples [130].
1.1.3. Các nghiên cứu về lễ hội của người Thái ở miền Tây Nghệ An
Từ trước đến nay, việc nghiên cứu lễ hội, lễ hội truyền thống các
dân tộc thiểu số nói chung và lễ hội truyền thống của người Thái nói riêng
đã được giới nghiên cứu quan tâm. Một số công trình tiêu biểu như: “Lễ
hội cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam” do Phan Hữu Dật chủ biên [19].

giả tham khảo trong khi so sánh lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc
và người Thái ở miền Tây Nghệ An [36].
Tác giả Vi Văn Biên có công trình: "Một số phong tục và lễ hội truyền
thống của người Thái ở Thanh Hoá và Nghệ An" [6]. Đây là một trong nhưng
công trình hiếm hoi nghiên cứu về người Thái ở phạm vi hai địa phương
Thanh Hóa, Nghệ An, và cũng là một công trình có phân tích khái quát bước


19
đầu về những giá trị văn hóa, phong tục tập quán trong đời sống người Thái
Bắc Trung Bộ Việt Nam.
Liên quan đến tục lệ của người Thái, có nhiều công trình đã tập hợp,
giới thiệu về phong tục tang lễ, cưới xin, tri thức dân gian của người Thái,
ví dụ như: Cuốn: “Hôn nhân truyền thống dân tộc Thái ở Điện Biên” của
nhóm tác giả Lương Thị Đại, Lò Xuân Hinh [25]; “Hôn nhân và gia đình
các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Thúy Bình [7];
“Phong tục tang lễ của người Thái Đen xưa kia”, tác giả Lương Văn Trung
[107]; hoặc cuốn “Văn hóa Thái, những tri thức dân gian”, của tác giả Đặng
Thị Oanh [73].
Công trình sau đây đã giới thiệu khá chi tiết về tín ngưỡng cúng vía của
người Thái, đó là cuốn “Tìm hiểu một số tục cúng vía của người Thái Đen ở
Mường Lò” [37]. Nội dung của của cuốn sách trình bày tục cúng vía - một nét
văn hóa của người Thái nói chung, Thái Đen Mường Lò nói riêng. Cúng vía
là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng trong cộng đồng người Thái. Cúng vía, tức
là gọi hồn, gọi vía, một nghi lễ tín ngưỡng. Theo quan niệm của người Thái,
người sống có vía của người sống (tiếng Thái gọi là phi khoăn), người chết có
vía, tiếng Thái gọi là phi tai, một số con vật, cây cối, rừng núi, đất đai...người
ta quan niệm đều có hồn, vía. Và theo tục lệ, có thể cúng vía theo định kỳ,
theo chu kỳ hoặc có thể cúng vía đột xuất do có các sự kiện vui, buồn khác
nhau phát sinh trong đời sống thường nhật. Cho đến nay, tục lệ này đang được

“Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng
đồng người Thái ở các tỉnh bắc trung bộ Việt Nam” của tác giả Vi Văn Sơn.
Tác giả đề cập một số luật tục liên quan đến lễ hội truyền thống của người
Thái ở Nghệ An [83]. Vi Văn Biên (2009), Một số phong tục và lễ hội
truyền thống của người Thái ở Thanh Hóa, Nghệ An. Tác giả đề cập đến các
phong tục trong vòng đời bao gồm sinh đẻ, cưới xin, tang lễ và các phong


21
tục tín ngưỡng khác như lễ tết, phong tục dân gian. Đặc biệt, công trình đã
giới thiệu một số lễ hội như lễ hội Xăng Khan, lễ hội Kin Chiêng Booc Mạy,
lễ hội chơi hang [6].
Qua việc phân tích trên, kết quả cho thấy, đến nay chưa có nhiều công
trình nghiên cứu về lễ hội truyền thống của người Thái nói chung và người
Thái ở miền Tây Nghệ An. Tuy có một số nghiên cứu kể trên nhưng các công
trình này cũng chỉ nghiên cứu một vài khía cạnh hoặc một lễ hội cụ thể. Tác
giả có thể khẳng định rằng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu
đầy đủ, toàn diện về lễ hội truyền thống của người Thái ở miền Tây Nghệ An.
1.1.4. Các nghiên cứu về biến đổi lễ hội truyền thống
Cho đến nay đã có nhiều học giả khảo cứu vấn đề biến đổi văn hóa nói
chung và biến đổi trong lễ hội truyền thống nói riêng. Thuyết tiến hóa văn
hóa của E. Taylor [142], của L. Morgan [135] nghiên cứu mẫu hình biến đổi
xã hội và biến đổi văn hóa. Thuyết truyền bá văn hóa (đại diện là G. Elliot,
Smith [140], W.Rivers [139]) cho rằng, vấn đề mấu chốt của biến đổi văn hóa
là sự vay mượn hoặc sự truyền bá các đặc trưng văn hóa từ xã hội này sang xã
hội khác. Thuyết vùng văn hóa (đại diện là C.L.Wissler, A.L.Kroeber… ) đã
đưa ra các khái niệm cơ bản về vùng văn hóa, loại hình văn hóa, trung tâm
văn hóa, tổ hợp văn hóa. Sự biến đổi văn hóa diễn ra rất đa chiều và nhiều cấp
độ tùy thuộc vào việc cộng đồng đó là trung tâm hay ngoại vi hay vùng
chuyển tiếp, môi trường và sự chuyên môn hóa của cộng đồng đó là gì?

từ Hà Nội của GS.TS. Lê Hồng Lý. Tác giả dựa trên quan điểm lý thuyết của
Haviland về quá trình trải qua bốn giai đoạn của sự biến đổi của một hiện
tượng văn hóa (Đổi mới, Phát tán văn hóa, Mai một văn hóa, và Tiếp biến văn
hóa) và kết luận rằng quá trình biến đổi của lễ hội truyền thống ở Hà Nội diễn
ra khá đầy đủ và nhất quán ở mọi nơi và phù hợp với quy luật [57]. Như vậy,
chúng ta thấy rằng biến đổi văn hóa nói chung và biến đổi lễ hội truyền thống
là một tất yếu. Vấn đề cần nghiên cứu ở đây là hướng biến đổi lễ hội truyền


23
thống như thế nào? Nó tự biến đổi? Bị tác động để biến đổi? Biến đổi theo
hoặc không theo quy luật/nguyên tắc?
1.2. Cơ sở lý thuyết
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
+ Lễ hội
Từ xưa đến nay, lễ hội luôn giữ vai trò như sợi dây gắn kết cộng đồng,
tạo dựng không gian văn hóa vừa trang trọng, linh thiêng, vừa tưng bừng, náo
nức. Lễ hội trở thành nơi công chúng đến với lịch sử cha ông, trở về với cội
nguồn dân tộc, tưởng nhớ công ơn người đi trước, cầu mong những điều tốt
lành. Ðồng thời là nơi người dân được vui chơi, giải tỏa, bù đắp về tinh thần.
Nó mang trong mình tư cách một công cụ văn hóa đa năng diễn ra vào những
thời điểm được lựa chọn ở các địa phương dựa trên cơ sở các điều kiện lịch
sử, kinh tế, văn hóa xã hội có liên quan.
Có rất nhiều cách gọi và giải thích khác nhau về thuật ngữ Lễ hội: gọi
lễ hội là “Hội lễ”, “Hội hè”, “Hội hè đình đám”, “Lễ, tết, hội”. Theo từ Hán
Việt, “Lễ hội” được kết hợp từ hai yếu tố, trong đó “lễ” là những quy tắc ứng
xử, cách thức cúng tế, nghi thức tôn giáo; “hội” là cuộc vui, đám vui đông
người. Theo tiếng La Tinh, “lễ hội” xuất xứ từ Festum, nghĩa là sự vui chơi,
vui mừng của công chúng. Theo tiếng Anh “Festival” là một loại diễn xướng
thu hoạch một mùa vụ đặc biệt, một khoảng thời gian của một hoạt động có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status