1
Đại học Quốc gia h Nội
Trờng Đại học khoa học x hội v nhân văn
------------
ế
------------
Vũ Trờng Giang Tri thức bản địa của ngời Thái
ở miền núi thanh HóaLuận án tiến sĩ lịch sử
Chuyên ngành: Dân tộc học
M số: 62227001
Ngời hớng dẫn khoa học:
Lời cảm ơn
Hoàn thành bản luận án Tiến sĩ với đề tài: Tri thức bản địa của ngời
Thái ở miền núi Thanh Hóa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn:
GS.TS Phan Hữu Dật và PGS.TS Hoàng Lơng, những ngời đã hớng
dẫn, đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt qúa trình làm luận án. Đặc biệt, GS.TS
Phan Hữu Dật là ngời đã hớng dẫn tôi 3 lần làm luận án: Cử nhân, Thạc sĩ,
Tiến sĩ.
GS - NGND Đinh Xuân Lâm là ngời đã động viên, cung cấp nhiều tài
liệu, hớng dẫn cách xử lý t liệu và viết một bài nghiên cứu khoa học.
Tập thể các Giáo s, Tiến sĩ, giảng viên Bộ môn Nhân học và Khoa
Lịch sử của Trờng Đại học Khoa học xã hội & nhân văn (Đại học quốc gia
Hà Nội) đã tận tình giúp đỡ về chuyên môn, cả trong học tập và nghiên cứu
khoa học suốt qúa trình tôi học Đại học, học Thạc sĩ và làm NCS.
Phòng Khoa học và sau đại học của Trờng Đại học Khoa học xã hội
& nhân văn (Đại học quốc gia Hà Nội) đã giúp đỡ về các thủ tục hành chính
trong qúa trình tôi học, viết và bảo vệ luận án.
Cán bộ và nhân dân các huyện Thờng Xuân, Nh Xuân, Lang Chánh,
Bá Thớc, Quan Hóa, Quan Sơn, Mờng Lát; đặc biệt là cán bộ và nhân dân
các xã Xuân Lộc, Xuân Chinh, Xuân Lẹ (huyện Thờng Xuân), xã Yên
Khơng (huyện Lang Chánh), xã Kỳ Tân (huyện Bá Thớc), xã Hồi Xuân
(huyện Quan Hóa), xã Trung Lý (huyện Mờng Lát) đã giúp đỡ tôi trong các
chuyến đi điền dã ở các địa phơng này.
Cán bộ và nhân viên phòng t liệu khoa Lịch sử của Trờng Đại học
Khoa học xã hội & nhân văn, Th viện quốc gia, Th viện Viện thông tin khoa
học xã hội, Viện Dân tộc học, Viện nghiên cứu văn hóa, phòng lu trữ Uỷ ban
nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Ban dân tộc tỉnh Thanh Hóa đã cung cấp nhiều tài
liệu trong qúa trình tôi thực hiện bản luận án của mình.
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất của tôi!
Hà Nội, tháng 6 - 2009
2.7. Tri thức trong khai thác và bảo vệ tài nguyên rừng... 79
Chơng 3: Tri thức bản địa về y học dân gian và chăm sóc sức
khoẻ cộng đồng
89
3.1. Quan niệm về ốm đau, bệnh tật. 89
3.2. Quan niệm về nghề thuốc và truyền nghề. 92
3.3. Tri thức về thuốc nam chữa bệnh.. 97
3.4. Ăn uống dới khía cạnh dinh dỡng và chữa bệnh... 113
5
Chơng 4: Tri thức bản địa trong tổ chức và quản lý xã hội..
118
4.1. Chế độ sở hữu ruộng đất 118
4.2 Thiết chế bản - mờng và bộ máy hành chính... 122
4.3. Tri thức về luật tục 132
4.4. Tri thức trong thông tin cộng đồng.... 155
Kết luận...
188
Khuyến nghị
192
Chú thích.
194
Danh mục các công trình công bố của tác giả..
196
Tài liệu tham khảo..
198
Phụ lục.
220
Bản đồ địa bàn nghiên cứu... 221
Một số hình ảnh về ngời Thái. 224
mỗi tộc ngời. Do đó, cần phải coi tri thức bản địa nh một nguồn ti nguyên
quan trọng v lập kế hoạch nghiên cứu, su tầm, phát huy chúng trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc nói chung, sự nghiệp phát triển
bền vững ở vùng miền núi v tộc ngời thiểu số nói riêng.
Miền núi Thanh Hóa là địa bàn c trú của các tộc ngời Mờng, Thái,
Thổ, Hmông, Dao, Khơ mú. Các tộc ngời này có số l
ợng dân c, đặc điểm
kinh tế - xã hội - văn hóa nói chung và tri thức bản địa nói riêng có nhiều
điểm khác biệt. Với riêng ngời Thái, việc nghiên cứu về tộc ngời này đã trở
thành một vấn đề mang ý nghĩa quốc tế và đợc nhiều nhà khoa học trên thế
giới quan tâm. ở Việt Nam, các Hội nghị về Thái học do Chơng trình Thái
học thuộc Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lu văn hóa (nay là Viện
7
Việt Nam học và khoa học phát triển thuộc Đại học quốc gia Hà Nội) tổ chức
vào các năm 1991, 1998, 2002, 2006 và 2009; trên thế giới, các Hội nghị quốc
tế về Thái học đợc tổ chức trong những thập kỷ gần đây (năm 1981 ở ấn Độ,
năm 1984 ở Thái Lan, năm 1987 ở Ôxtrâylia, năm 1990 ở Trung Quốc, năm
1993 ở Anh, năm 1996 ở Thái Lan, năm 1999 ở Hà Lan, năm 2002 ở Thái
Lan, năm 2005 ở Mỹ và năm 2008 ở Thái Lan) đã chứng minh điều đó.
So với toàn bộ c dân Thái ở Đông Nam á và Nam Trung Quốc, ngời
Thái ở Việt Nam không nhiều: 1.328.725 ngời {212, tr 21}, nhng
do địa bàn
bị chia cắt, lại chịu ảnh hởng của nhiều luồng văn hóa từ nhiều hớng, cũng
nh văn hóa của các tộc ngời c trú xen kẽ, nên sự khác biệt giữa các nhóm
địa phơng là điều không tránh khỏi. Nhiệm vụ của giới nghiên cứu khoa học
nớc ta hiện nay là phải nghiên cứu một cách có hệ thống tất cả các nhóm c
dân Thái trên địa bàn cả nớc, cũng nh ở các địa phơng. So với toàn bộ c
dân Thái ở Việt Nam, ngời Thái ở miền núi Thanh Hóa có nhiều nét tơng
thức bản địa; 2. Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong một số lĩnh
vực cụ thể. Cuốn sách là một tài liệu tham khảo tốt trong nghiên cứu về tri
thức bản địa.
Ngô Đức Thịnh: "Tri thức dân gian và phát triển" (197). Bài viết trình
bày các nội dung: 1. Khái niệm tri thức dân gian; 2. Các loại tri thức dân gian
của các tộc ngời; 3. Vai trò của tri thức dân gian; 4. Bảo tồn tri thức dân gian.
Ngô Đức Thịnh: "Thế giới quan bản địa" (205). Bài viết trình bày các
nội dung: 1. Khái niệm tri thức bản địa; 2. Các lĩnh vực của tri thức bản địa; 3.
Những nghiên cứu trờng hợp
Dới góc nhìn nhân học - văn hóa, hai bài viết của tác giả Ngô Đức
Thịnh trình bày tơng đối đầy đủ về khái niệm, nội hàm và các lĩnh vực liên
quan của tri thức bản địa.
Hoàng Hữu Bình: "Tri thức địa phơng và vấn đề phát triển bền vững
miền núi Việt Nam" (17). Bài viết của tác giả trình bày các nội dung: 1. Khái
niệm tri thức địa phơng; 2. Tri thức địa phơng trong bảo vệ môi trờng và
khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên.
9
Phạm Quang Hoan: Tri thức địa phơng của các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam (97). Bài viết trình bày các nội dung: 1. Tầm quan trọng của tri
thức địa phơng; 2. Quan niệm về tri thức địa phơng; 3. Tri thức địa phơng
của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Phạm Quang Hoan: "Tri thức địa phơng (tri thức truyền thống) của các
dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong đời sống xã hội đơng đại (98). Bài viết trình
bày các nội dung: 1. Tại sao cần nghiên cứu tri thức địa phơng; 2. Tri thức địa
phơng là gì; 3. Tri thức địa phơng của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Phạm Quang Hoan: "Tri thức địa phơng về quản lý nguồn tài nguyên
thiên nhiên của các dân tộc ở các tỉnh miền núi Việt Nam" (99). Bài viết trình
bày các nội dung: 1. Quan niệm về tri thức địa phơng; 2. Tri thức địa phơng
về quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc ở các tỉnh miền núi
Bài viết của tác giả trình bày các nội dung: 1. Quan niệm và nội hàm của tri
thức địa phơng; 2. Vai trò của tri thức địa phơng trong phát triển kinh tế -
xã hội.
Nguyễn Duy Thiệu: Tri thức bản địa nguồn lực quan trọng cho sự
phát triển (188). Bài viết của tác giả trình bày các nội dung: 1. Quan niệm về
tri thức bản địa; 2. Tri thức bản địa của một số tộc ngời trong khai thác
nguồn tài nguyên thiên nhiên, sản xuất nông nghiệp
Lê Văn Khoa: "Tri thức bản địa" (112). Bài viết của tác giả trình bày các
nội dung: 1. Quan niệm về tri thức bản địa; 2. Đặc điểm của tri thức bản địa.
Nguyễn Thanh Thự: "Một vài suy nghĩ về việc giảng dạy tri thức bản
địa" (208). Bài viết của tác giả trình bày các nội dung: 1. Suy nghĩ về khái
niệm tri thức bản địa; 2. Sự cần thiết phải giáo dục tri thức bản địa; 3. Nội
dung và phơng pháp giảng dạy.
Trần Hồng Hạnh: "Tri thức địa phơng - tiếp cận lý thuyết" (89). Bài
viết của tác giả trên cơ sở tổng hợp nhiều nguồn tài liệu ở trong và ngoài nớc,
trình bày đầy đủ và có hệ thống các nội dung: 1. Khái niệm tri thức địa
phơng; 2. Tri thức địa phơng và c dân địa ph
ơng; 3. Tri thức địa phơng
và bối cảnh; 4. Phân loại tri thức địa phơng.
11
Vũ Trờng Giang: Về tri thức bản địa và phát triển (67). Bài viết của
tác giả trình bày các nội dung: 1. Khái niệm tri thức bản địa; 2. Tầm quan
trọng của tri thức bản địa trong phát triển.
Nguyễn Thị Thu Hà: Tri thức bản địa - những bớc thăng trầm (85).
Bài viết của tác giả trình bày các nội dung: 1. Tri thức bản địa và những đặc
điểm chung; 2. Tri thức bản địa và những bớc thăng trầm.
Bùi Hoài Sơn: Một đôi nét về khái niệm trị thức bản địa (161). Bài
viết của tác giả trình bày các nội dung: 1. Sự phát triển khái niệm tri thức bản
địa; 2. Mối quan hệ giữa tri thức bản địa và khoa học.
Cầm Trọng: Ngời Thái ở Tây Bắc Việt Nam (217) là cuốn sách
nghiên cứu công phu, nghiêm túc và tơng đối toàn diện về ngời Thái. Nội
dung của cuốn sách trình bày: 1. Ngời Thái ở Tây Bắc Việt Nam; 2. Các loại
hình kinh tế; 3. Ruộng đất và xã hội; 4. Bản mờng; 5. Một số nét khái quát về
tôn giáo, nghệ thuật, văn học; 6. Dới sự lãnh đạo của Đảng, xã hội ngời
Thái không ngừng phát triển. Cuốn sách là một nguồn t liệu quý, một tài liệu
tham khảo có giá trị khi nghiên cứu về ngời Thái.
Cầm Trọng: Mấy vấn đề về lịch sử kinh tế xã hội cổ đại của ngời
Thái ở Tây Bắc Việt Nam (219). Nội dung của cuốn sách trình bày: 1. Sự
xuất hiện hình thái hôn nhân đầu tiên; 2. Hệ thống thân tộc và các hình thái xã
hội sơ khai; 3. Sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cổ truyền. Cuốn sách
là một nguồn t liệu quý, một tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu về
ngời Thái.
Đặng Nghiêm Vạn và cộng sự: Tìm hiểu văn hóa cổ truyền của ngời
Thái Mai Châu (242). Nội dung của cuốn sách trình bày: 1. Lịch sử; 2. Bản
làng; 3. Phong tục; 4. Hội lễ; 5. Văn học; 6. Nghệ thuật; 7. Phần phụ lục trình
bày về lệ mờng, truyện cổ, tục ngữ
Hoàng Anh Nhân (chủ biên): Văn hóa truyền thống mờng Ca Da
(139). Nội dung của cuốn sách trình bày: 1. Truyền thuyết và cổ tích; 2.
Truyện thơ, trờng ca, trò diễn, dân ca; 3. Một số luật lệ của ngời Thái ở
mờng Ca Da (nay thuôc huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa).
13
Trong các kỷ yếu/sách (229, 230, 231, 247) của 5 Hội thảo khoa học
về Thái học có nhiều bài viết của nhiều tác giả cũng có đề cập đến các khía
cạnh khác nhau về tri thức bản địa của ngời Thái.
Cầm Trọng - Phan Hữu Dật: Văn hóa Thái Việt Nam (224). Nội
dung của cuốn sách trình bày: 1. Văn hóa của ngời Thái ở Việt Nam; 2. Văn
hóa Thái trong cội nguồn Việt Nam và Đông Nam á; 3. Văn hóa Thái - một
loại hình văn hóa thung lũng; 4. Văn hóa Thái - một loại hình văn hóa kỹ
(94). Nội dung của cuốn sách trình bày: 1. Khái quát về ngời Thái ở Tây Bắc;
2. Những lễ nghi và lễ hội liên quan đến nông nghiệp của ngời Thái; 3. Lễ
nghi và lễ hội nông nghiệp Thái với tín ngỡng và nghệ thuật truyền thống.
Nguyễn Nghĩa Thìn (chủ biên): Thực vật học dân tộc: cây thuốc của
đồng bào Thái Con Cuông, Nghệ An (193). Nội dung của cuốn sách trình
bày: 1. Hệ thống các cây thuốc; 2. Sử dụng cây thuốc; 3. Tính hiệu quả; 4. Các
bài thuốc truyền thống; 5. Những cây thuốc quý và những cây thuốc mới phát
hiện. Cuốn sách là một nguồn t liệu quý, một tài liệu tham khảo có giá trị khi
nghiên cứu y học cổ truyền và thực vật học dân tộc của ngời Thái.
Vơng Anh: Tiếp cận văn hóa bản Thái xứ Thanh (12). Nội dung
của cuốn sách trình bày: 1. Từ cội nguồn tộc ngời Thái, 2. Vào kho tàng văn
hóa phi vật thể, 3. Tiếp tục phát triển đời sống văn hóa, xây dựng môi trờng
xã hội - nhân văn ở bản Thái xứ Thanh.
Lê Huy Dũng: Tín ngỡng dân gian của ngời Thái ở Thờng Xuân,
Thanh Hóa (41). Đây là luận văn cử nhân chuyên ngành dân tộc học, nội
dung chính của luận văn trình bày về quan niệm và vai trò của các hình thức tín
ngỡng dân gian trong đời sống của ngời Thái
Hoàng Thị ánh: Tìm hiểu tục lệ cới xin của ngời Thái ở xã Xuân Lẹ,
huyện Thờng Xuân, tỉnh Thanh Hóa (15). Đây là luận văn cử nhân chuyên
ngành dân tộc học, nội dung chính của luận văn trình bày về quan niệm và các
nghi lễ trong hôn nhân của ngời Thái
Khổng Minh Hằng: Tìm hiểu tri thức về bảo vệ môi trờng của ngời
Thái ở xã Xuân Lẹ, huyện Thờng Xuân, tỉnh Thanh Hóa (90). Đây là luận
văn cử nhân chuyên ngành dân tộc học, nội dung chính của luận văn trình bày
15
quan niệm về môi trờng và các tri thức tộc ngời trong bảo vệ môi trờng của
ngời Thái.
Vũ Phơng Nga: Các phong tục tập quán về sinh đẻ và nuôi con cái
của ngời Thái ở xã Xuân Lẹ, huyện Thờng Xuân, tỉnh Thanh Hóa (146). Đây
định về lý thuyết; đồng thời, khẳng định vai trò quan trong của tri thức bản địa
trong phát triển bền vững.
Thứ ba, những kết quả nghiên cứu thể hiện tinh thần làm việc nghiêm
túc của các tác giả, là tài liệu tham khảo tốt trong nghiên cứu, giảng dạy và
hoạch định chính sách.
Thứ t, nhiều nội dung trong tri thức bản địa của ngời Thái về hoạt
động sản xuất nông nghiệp, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, về cây thuốc, về
luật tục, về truyền tin đã đợc các nhà nghiên cứu tìm hiểu và trình bày
trong nhiều công trình.
Thứ năm, hiện nay cha có một công trình chuyên khảo nào nghiên
cứu có hệ thống và chuyên sâu về Tri thức bản địa của ngời Thái ở miền núi
Thanh Hóa nói riêng và Việt Nam nói chung.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Phác họa một cách tơng đối hệ thống về tri thức bản địa của
ngời Thái ở miền núi Thanh Hóa.
3.2. Phân tích giá trị và vai trò của tri thức bản địa trong đời sống của
ngời Thái dới góc nhìn bản sắc văn hóa tộc ngời.
3.3. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của tri
thức bản địa của ngời Thái trong giai đoạn hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Tri thức bản địa của ngời Thái ở miền núi Thanh Hóa bao gồm rất
nhiều lĩnh vực, trong phạm vi của luận án, tôi nghiên cứu những tri thức bản
địa trong sản xuất nông nghiệp (tôi chỉ đề cập tới những tri thức trong trồng
trọt, mà cha đề cập tới những tri thức trong chăn nuôi, hái lợm, thủ công
nghiệp) và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; tri thức bản địa về y học dân gian và
chăm sóc sức khỏe; tri thức bản địa trong tổ chức và quản lý xã hội.
17
Luận án tiến hành nghiên cứu diện tại nhiều xã có ngời Thái c trú ở
miền núi Thanh Hoá và nghiên cứu điểm là hai xã Yên Khơng (huyện Lang
Thứ ba, khai thác các tài liệu lu trữ tại phòng T liệu khoa Lịch sử -
Trờng Đại học KHXH & nhân văn Hà Nội, th viện Viện Dân tộc học, Viện
Nghiên cứu văn hóa, Viện Thông tin khoa học xã hội, Th viện quốc gia,
phòng lu trữ thuộc Văn phòng UBND tỉnh, Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa
7. Đóng góp của luận án
7.1. Bổ sung tài liệu thành văn về tri thức bản địa của ngời Thái ở
miền núi Thanh Hóa.
7.2. Xác định giá trị và vai trò của tri thức bản địa của ngời Thái đối
với việc phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi Thanh Hóa, góp phần hoạch
định và thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội trong vùng.
7.3. Những kết quả nghiên cứu của luận án trong một chừng mực nhất
định sẽ bổ ích cho các nhà quản lý về công tác dân tộc và văn hóa...
8. Bố cục của luận án
Luận án có 305 trang, bao gồm cả phần phụ lục, bản đồ, ảnh, bảng
thống kê, danh sách ngời cung cấp t liệu
Ngoài phần mở đầu 13 trang, phần kết luận 4 trang, nội dung chính
của luận đợc chia thành 4 chơng.
Chơng I. Tổng quan về địa bàn, tộc ngời và vấn đề nghiên cứu.
Chơng II. Tri thức bản địa trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Chơng III. Tri thức bản địa về y học dân gian và chăm sóc sức khoẻ
cộng đồng.
Chơng IV. Tri thức bản địa trong tổ chức và quản lý xã hội.
19
Chơng 1
Tổng quan về địa bn, tộc ngời v vấn đề nghiên cứu
1.1. Khái quát về địa bàn miền núi Thanh Hóa
Miền núi Thanh Hóa là một khu vực rộng lớn với diện tích 7.893 km
20
Hai hệ thống sông Mã và sông Chu qua đất Lào và Việt Nam đã tạo ra
những thung lũng với những cánh đồng màu mỡ thuận lợi cho việc trồng lúa
nớc, là con đờng chuyển c chính của ngời Thái từ Việt Nam sang Lào và
ngợc lại, đồng thời là cầu nối cho qúa trình giao lu văn hóa, trao đổi kinh tế
của các tộc ngời c trú ở vùng lu vực trong lịch sử cũng nh hiện tại.
Rừng vốn là thế mạnh của miền núi, nhờ có điều kiện nhiệt đới ẩm
thuận lợi, rừng cây xanh tốt quanh năm với hệ sinh thái phổ tạp. Trong rừng
chứa đựng một tiềm năng lớn về kinh tế với các loại gỗ quý nh Đinh, Lim,
Sến, Lát, Pơ mu Một loại cây khác phổ biến và có giá trị kinh tế cao là cây
luồng cùng bạt ngàn nứa, vầu, song, mấy. Núi rừng ở đây còn hội tụ một quần
thể động vật nh voi, hổ, gấu và một kho tài nguyên trong lòng đất nh
vàng, chì, thiếc
Miền núi Thanh Hóa có 11 huyện với 220 xã, trong đó có 102 xã đặc
biệt khó khăn (diện chơng trình 135), hai huyện vùng cao biên giới Mờng
Lát, Quan Sơn có 23 xã thì 100% số xã trong diện chơng trình 135. Đây cũng
là khu vực giữ vị thế quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh -
quốc phòng, giữ gìn môi trờng sinh thái, bảo đảm sự ổn định, phát triển
không chỉ riêng cho vùng mà còn cho cả tỉnh; là vùng giàu tiềm năng, có
nhiều thế mạnh: đất đai phát triển nông nghiệp, nghề rừng, khoáng sản, thuỷ
điện, thơng mại cửa khẩu, du lịch
1.2. Ngời Thái ở miền núi Thanh Hoá
Theo tổng điều tra dân số ngày 1 - 4 - 1999, miền núi Thanh Hoá có
các tộc ngời thiểu số là Mờng, Thái, Thổ, Hmông, Dao, Khơ mú c trú. Dân
số của tộc Thái là 210.908 ngời, c trú tập trung ở 8 huyện miền núi và một
số xã miền núi, trung du của các huyện đồng bằng.
Bảng 1
.1: Dân số các tộc ngời thiểu số ở miền núi Thanh Hóa
Dân tộc
các con sông lớn xuống vùng Đông Nam á lục địa. Cùng lúc đó, họ gặp phải
cuộc thiên di của những nhóm tổ tiên các tộc ngời ngôn ngữ Tạng - Miến từ
Tây Nam Trung Quốc tràn về. Đến đây các nhóm Thái ngành phía Tây cộng
c với tổ tiên các tộc ngời ngôn ngữ Môn - Khơ me đã làm chủ miền này từ
trớc. Tuy ở một thế yếu kém hơn, đến những thế kỷ đầu sau Công nguyên, tổ
tiên ngời Thái cũng đã lập đợc một loạt các tiểu quốc ở thợng lu sông
Mêkông, ở vùng thợng Đông Dơng tới vùng giáp ranh tỉnh Vân Nam, vùng
thợng Lào và Tây Bắc Việt Nam. Trong giai đoạn này, Tây Bắc nói chung và
Điện Biên Phủ nói riêng là đờng chuyển tải văn hóa từ ấn Độ qua Việt Nam
với những ảnh hởng của đạo Bà La Môn và Phật giáo. Ngợc lại, cũng qua
22
đây các c dân bản địa ở Đông Dơng đã chuyển sang ấn Độ và Tây Nam
Trung Quốc những thành tựu văn hóa truyền thống của mình {241, tr 17}.
Cuộc thiên di lớn thứ hai của tổ tiên ngời Thái diễn ra bắt đầu vào
cuối thiên niên kỷ I sau Công nguyên cùng sự lớn mạnh của nhà nớc Nam
Chiếu, Đại Lý và phát triển kéo dài suốt những thế kỷ XII - XIII - XIV, kết
thúc vào thế kỷ XV, nhờ sự suy yếu của những nhà nớc Môn - Khơ me tại
Đông Dơng và sự suy yếu hay thất bại trớc quân Mông - Nguyên của những
nhà nớc Tạng - Miến. Kết quả là một loạt quốc gia Thái đợc thiết lập ở Tây
Đông Dơng, thay thế các quốc gia Môn - Khơ me ở vùng Lào, Thái Lan
Chiếm lĩnh Tây Bắc, các lãnh chúa Thái thần phục triều đình phong
kiến Việt Nam (Lý, Trần, Lê sơ) và đợc phép cai quản các lãnh địa cát cứ
của mình. Mỗi vùng thờng có một mờng trung tâm và các mờng phụ thuộc
do một lãnh chúa lớn, là bồi thần trực tiếp của triều đình trung ơng đứng đầu.
Đến đời Lý Thánh Tông, ảnh hởng của nhà Lý đối với vùng này đã rất lớn:
năm 1067, vào tháng 2 mùa xuân, Ngu Hống (có thể phiên âm từ Ngu Háu
(Rắn Hổ mang - biểu tợng của ngời Thái đen) và Ai Lao đều vào triều cống.
Lễ vật gồm có vàng, bạc, trầm hơng, sừng tê, ngà voi {46, tr 247}.
Cộng đồng ngời Thái ở Việt Nam có sự phân chia thành hai ngành
sông Mã mà xuống vùng Quan Hóa. Khi đã định c vững chắc, ngời
Thái Ca Da lại tiếp nhận nhiều đợt di c sau này của những ngời đồng
tộc theo con đờng truyền thống mà cha ông họ đã đi {79, tr 16}.
Theo nghiên cứu của TS Khăm Pheng Thíp muntaly: Ngời Phu Thay
ở Hủa Phăn hiện nay có nguồn gốc chủ yếu và trực tiếp là từ Tây Bắc Việt
Nam và miền Tây Thanh Hóa di c đến và trải qua nhiều đợt, đông nhất là
thời kỳ thế kỷ XVIII và XIX {111, tr 28 - 31}.
Ngời Phu Thay dọc sông Nặm Má (sông Mã) xung quanh thị xã Xăm
Nửa, huyện Hủa Mơng, vùng Nặm Nơn cho biết cách đây 8 - 9 đời (khoảng
200 năm) những ngời Thái đen từ mờng Muổi (Thuận Châu - Sơn La) đã
đến vùng mờng ẹt, mờng Xòn. Một bộ phận khác ở Mờng Xăm, Mờng
Pua, Xiềng Khọ, Mờng Xòn lại nói tổ tiên họ vốn từ mờng Ca Da (Quan
Hóa - Thanh Hóa) chạy giặc sang Lào.
Ngời Thay Đeng (Thái Đỏ) ở mờng
ó, huyện Hủa Mơng cho biết
nguồn gốc của họ ở Việt Nam sang. Theo họ một số từ mờng Ca Da (Quan
24
Hóa - Thanh Hóa) đầu tiên đến vùng Xiêng Men, sau đó đi vào mờng ó.
Ngời Thay Đeng (Thái Đỏ) ở Sốp Hao huyện Xiêng Khọ lại có nguồn gốc từ
mờng Khoòng (Bá Thớc - Thanh Hóa), mờng Ca Da (Quan Hóa - Thanh
Hóa) và mờng Mun (Mai Châu - Hòa Bình) đến.
Nói hầu hết ngời Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn đều là ngời Thái ở Việt
Nam di chuyển sang, nhng trong qúa trình thiên di của tộc ngời này đã có
một bộ phận theo con đờng ngợc lại. PGS - TS Lê Sỹ Giáo cho biết:
ở mờng Ca Da (nay là đất các xã Hồi Xuân, Phú Nghiêm huyện
Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa), dòng họ quý tộc Lò Khăm cũng có nguồn
gốc từ mờng Bua, mờng Xà của đất Lào thiên c đến. Dòng họ này
khi cúng ngời chết đều đa linh hồn về Lào. Đặc biệt hơn, xa kia
trong dịp Tết Nguyên đán dòng họ Lò Khăm vẫn phải cho ngời con
Ông Ngân Văn Ninh 65 tuổi, thầy cúng ở bản Tứ Chiềng, xã Yên
Khơng) kể: tổ tiên ở mờng Kỳ (huyện Bá Thớc) di c đến mờng Đèng đã
đợc 4 đời.
Ông Lò Văn Thanh (53 tuổi, nông dân ở bản Bôn, xã Yên Khơng) kể:
tổ tiên từ Quỳ Châu (Nghệ An) di c đến mờng Đèng đã đợc 5 đời.
Ông Hà Đức Thiện (50 tuổi, Bí th Đảng uỷ xã Yên Khơng) kể: tổ
tiên là ngời Kinh ở huyện Tĩnh Gia di c sang Lào, rồi sau đó mới đến
m
ờng Đèng đã đợc 4 - 5 đời và đã bị Thái hoá hoàn toàn.
Ông Vi Văn Thông (50 tuổi, Chủ tịch UBND xã Yên Khơng) kể: tổ
tiên từ huyện Con Cuông (Nghệ An) di c đến mờng Đèng đã 4 - 5 đời.
Đối với ngời Thái ở miền núi Thanh Hóa (và cả miền núi Nghệ An),
sự phân biệt Thái trắng, Thái đen không rõ ràng nh ở Tây Bắc. Do vậy, việc
xác định nhóm Thái nào ở Thanh Hóa và Nghệ An tơng đồng với Thái trắng
và nhóm Thái nào tơng đồng với Thái đen ở Tây Bắc là một việc làm cần
thiết và có ý nghĩa khoa học. Có hai ý kiến khác nhau về vấn đề này:
1. PGS - TS Lê Sỹ Giáo cho rằng:
Bộ phận tự nhận là Tày Dọ ở Thanh Hóa và Tày Mờng ở Nghệ An chỉ
là một và bộ phận này tơng đồng Thái trắng ở Tây Bắc; các nhóm Tày,