Tri thức bản địa của người mnông ở huyện lắk trong việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên - Pdf 52

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THANH XUÂN

TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MNÔNG Ở HUYỆN LẮK
TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN
TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN

Hà Nội - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THANH XUÂN

TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MNÔNG Ở HUYỆN LẮK
TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN
TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Ngành: Văn hóa dân gian
Mã số: 9 22 9041

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN

Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS. Ngô Đức Thịnh

Các nhà khoa học ở các viên nghiên cứu, các cơ quan đa có những ý kiến
đóng góp xác đáng cho cho bản dư thảo luận án để tôi có thể bổ sung, hoàn
thiên luận án.
Lanh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk, trường Trung cấp sư phạm Mầm
non Đắk Lắk đa tạo mọi điều kiên để tôi có thể theo đuổi và hoàn thành
chương trình nghiên cứu sinh.
Đặc biêt, tôi không thể hoàn thành luận án nếu thiếu sư cộng tác, giúp đỡ
của các già làng, bà con, họ hàng ở các bon làng của người Mnông; cán bộ của các
thôn, các xa và lanh đạo UBND huyên Lắk, các sở ban ngành của tỉnh Đắk Lắk.
Cuối cùng, tôi xin gưi lời cảm ơn tới những người bạn, những người đồng
nghiêp đa luôn động viên, hỗ trợ để tôi có thêm động lưc tiếp tục nghiên cứu.
Và đặc biêt, tôi cảm ơn sâu sắc đến gia đình tôi, nhất là bố mẹ tôi đa luôn ở
bên, tạo điều kiên về thời gian, là chỗ dưa về mặt tinh thần và vật chất để tôi có
thể đi trọn con đường nghiên cứu của mình.
Tôi vô cùng cảm kích và một lần nữa bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đối với
tất
cả!

Hà Nội, tháng 2 năm 2019


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU............................................................................................10
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu....................................................................... 10
1.2. Cơ sở lý thuyết.................................................................................................. 23
1.3. Khái quát địa bàn nghiên cứu...........................................................................37
Chương 2: TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MNÔNG Ở HUYỆN LẮK,
TỈNH ĐẮK LẮK TRONG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG.....................................50

DTTS: Dân tộc thiểu số
Ha: Hecta
Kg: Kilô gram
KH: Kế hoạch
KHKT: Khoa học kỹ thuật
NCS: Nghiên cứu sinh NQ:
Nghị quyết
PCCR: Phòng chống cháy rừng PL:
Phật lịch
Pl: Phụ lục
PTBV: Phát triển bền vững
QLBVR: Quản lý bảo vê rừng Sđd:
Sách đa dẫn
TW: Trung ương
UBND: Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Phân loại đất trong canh tác lúa rẫy.................................................65
Bảng 2.2: Một số loại cây, lá chữa bênh (nhóm Gar ở xa Krông Nô)...............72
Bảng 2.3: Một số loại cây, lá chữa bênh (nhóm Rlâm ở buôn Lê)...................72
Bảng 2.4: Một số loại cây, lá chữa bênh (nhóm Gar ở bon Ji Yôk)...................73
Bảng 4.1: Mục đích khai thác lâm sản của người Mnông..............................124


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài

Huyên Lắk tọa lạc phía Đông Nam
của tỉnh Đắk Lắk, vốn là vùng đất được



nên tri thức bản địa và văn hóa

cho thấy, ở Viêt Nam, nghiên cứu về tri thức

của người Mnông.

bản địa đa được chú ý từ thập kỷ 90 của

Tuy nhiên, hiên nay, trong

thế kỷ XX và ngày càng có nhiều nghiên

bối cảnh xa hội chuyển đổi, đời

cứu quan tâm đề cập đến vai trò của tri

sống của người Mnông đang

thức này, nhất là trong khía cạnh

hàng ngày, hàng giờ đối diên với
rất nhiều thách thức như: sư tác
động

của nền kinh tế

thị


những vấn đề phù hợp với mục đích của các dư án bảo tồn đa dạng sinh học, dư
án phát triển kinh tế, xa hội, phục vụ cho viêc xây dưng chính sách về quản lý
và bảo vê tài nguyên…nên tiếp cận khái niêm tri thức bản địa như một bản chất
ít thay đổi, tập trung trên một số khía cạnh như: gọi tên và phân loại động
thưc vật, quản lý tài nguyên thiên nhiên qua luật tục, sưu tầm, tìm hiểu phong tục
tập quán, sưu tầm luật tục, văn học dân gian…Thế giới nhận thức luận chưa
được quan tâm đúng mức, trong khi chính thế giới quan là yếu tố có sư ảnh
hưởng, chi phối toàn bộ các thưc hành văn hóa của cộng đồng. Chính vì cách tiếp
cận tri thức bản địa như trên, các nhà nghiên cứu ở Viêt Nam ít quan tâm đến
mối tương tác giữa yếu tố kỹ thuật và phi kỹ thuật hay nói cách khác ít quan tâm
mối quan hê giữa tri thức bản địa và các thành tố khác của văn hóa. Thậm chí,
vẫn còn những nghiên cứu xem tri thức bản địa là những phong tục tập quán lạc
hậu cần loại bỏ…chính cách hiểu về tri thức bản địa như trên đa bỏ qua viêc nhìn
nhận tri thức này trong mối quan hê qua lại với thế giới quan, vũ trụ quan, với vấn
đề tâm linh, tín ngưỡng, dẫn đến viêc xây dưng một số chính sách về văn hóa, về
phát triển kinh tế, xa hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa chú ý đến vai trò
của tri thức bản địa trong đời sống văn hóa của cộng đồng. Trong khi các nhà
nhân học hiên nay xem “tri thức bản địa cần phải được hiểu như một hê thống
hoặc thế giới quan hoàn chỉnh gồm cả hiểu biết về tôn giáo, tín ngưỡng, lễ nghi và
các khía cạnh của tri thức bản địa” [70, tr.1].
Qua nghiên cứu tri thức bản địa của người Mnông về quản lý các nguồn tài
nguyên đất, rừng và nguồn nước, luận án sẽ tìm hiểu cách mà người Mnông sư
dụng vũ trụ quan của sư hòa hợp nhằm thể hiên sư tôn trọng tư nhiên, tôn trọng
thần linh như thế nào? Trong luận án này, tri thức bản địa sẽ được nhìn nhận
trong mối liên hê với bối cảnh văn hóa của người Mnông nói chung và trong sư
mai một của hê thống tri thức này nói riêng; bổ khuyết cách hiểu, cách tiếp cận tri
thức bản địa còn nhiều khoảng trống ở Viêt Nam. Trên cơ sở nhìn nhận tri thức
bản địa là một chỉnh thể nguyên hợp, không tách rời các thành tố cấu thành tri
thức này, không tách rời yếu tố kỹ thuật và phi kỹ thuật, quan tâm đến cơ sở hình


3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kho tàng tri thức bản địa liên quan
tới quản lý và sư dụng tài nguyên thiên nhiên của người Mnông tại huyện Lắk,
tỉnh Đắk Lắk.
3.2. Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Tri thức bản địa là một vấn đề rất rộng song, trong luận án này chúng tôi chỉ
tập trung nghiên cứu sâu tri thức bản địa trong quản lý và sư dụng tài nguyên
thiên nhiên bao gồm đất rừng, nguồn nước trên các khía cạnh: xem xét sư phù hợp


của kỹ thuật canh tác với môi trường sinh thái; tập trung nhìn nhận cách quản lý,
phân phối


tài nguyên qua các thiết chế (luật tục, kiêng kị) với vai trò là bà đỡ cho viêc bảo vê
tài nguyên. Đề tài đặc biêt quan tâm đến nhận thức luận của người Mnông đối
với tài nguyên thiên nhiên thông qua thế giới quan, tín ngưỡng và nghi lễ. Trên
cơ sở đó, chúng tôi xem xét những nguyên nhân, các chiều tác động làm biến đổi
tri thức bản địa. Đặc biêt quan tâm đến chiều tác động của chính sách nhà
nước đối với truyền thống quản lý tài nguyên đất rừng và nguồn nước, nên các
văn bản của nhà nước cũng được tiếp cận giới hạn trong phạm vi những nội
dung liên quan đến quyền sở hữu và quản lý tài nguyên.
3.3. Phạm vi địa bàn nghiên cứu
Huyên Lắk của tỉnh Đắk Lắk là địa bàn khảo sát chính của chúng tôi vì đây
là nơi sinh sống lâu đời của người Mnông với dân số chiếm 63 % dân số toàn
huyên. Nơi đây có địa hình cảnh quan đồi núi xen lẫn các vùng trũng tạo nên sư đa
dạng về địa hình, do đó tri thức bản địa của các nhóm Mnông cũng chịu ảnh
hưởng của môi trường sinh thái nên có những đặc trưng khác nhau. Nhóm Gar
cư trú trên núi cao nổi tiếng với viêc “ăn rừng”, nhóm Rlâm cư trú tại các vùng
trũng lại thuần thục với viêc sư dụng đàn trâu vào canh tác lúa nước. Hiên nay,

mạnh mẽ ở các làng có cư dân tin theo đạo Tin Lành.
Để nghiên cứu có thêm tính thuyết phục, chúng tôi còn tiến hành điền da
tại xa Đắk Rung, huyên Đắk Song (tỉnh Đắk Nông); xa Đăm Rông, huyên Đăm
Rông (tỉnh Lâm Đồng), qua đó, có sư so sánh những tương đồng và dị biêt về tri
thức bản địa giữa các nhóm Mnông ở những địa phương khác nhau.
3.3. Phạm vi thời gian nghiên cứu
Luận án nghiên cứu tri thức bản địa của người Mnông ở huyên Lắk, tỉnh Đắk
Lắk trong viêc quản lý và sư dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tiến trình
phát triển xa hội tộc người; nghĩa là các tri thức bản địa đa và đang tồn tại
trong nhận thức của cộng đồng người Mnông ở huyên Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
Phạm vi thời gian được trình bày làm hai giai đoạn, từ 1945 đến 1985 và
từ 1986 đến nay. Vì từ 1945, ngoài sư ảnh hưởng trưc tiếp từ cuộc chiến tranh
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (chất độc hóa học làm ô nhiễm nguồn nước,
tàn phá rừng, dồn dân lập đồn điền, lập ấp chiến lược…) thì về cơ bản, quyền
sở hữu tài nguyên vẫn thuộc về cộng đồng, nhóm họ, các cá nhân tiến hành khai
thác, sư dụng tài nguyên theo sư phân phối của những người được cộng đồng
tôn phong trong làng, trong rừng. Người Mnông vẫn duy trì tập quán canh tác
lúa rẫy và lúa nước theo đúng truyền thống. Diên tích rừng và độ che phủ rừng
đảm bảo cho cộng đồng thực hiên quyền sở hữu và canh tác theo lối luân khoảnh
khép kín. Ở giai đoạn này, chúng tôi tập trung vào viêc nhận diên những đặc
trưng của tri thức bản địa của người Mnông trong quản lý và sư dụng tài
nguyên đất rừng và nguồn nước theo truyền thống. Giai đoạn từ 1986 đến nay,
Đảng, Nhà nước đa triển khai các chương trình phát triển kinh tế-xa hội miền
núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Ở huyên Lắk, các nông lâm


trường, hợp tác xa nông nghiêp được thành lập, diên tích đất khai hoang được
mở rộng đa hình thành nên cánh đồng lúa buôn



đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội nông dân, Hội phụ nữ…), người dân địa


phương nhằm thu thập ý kiến về chính sách phát triển kinh tế-xa hội, chính sách
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá.


Phỏng vấn hồi cố, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm đối với đối tượng là các
già làng, trưởng buôn, trưởng thôn, những người am hiểu (trên 60 tuổi), đại diên
các hộ gia đình người Mnông (nhất là các hộ gia đình trẻ, thanh niên Mnông có độ
tuổi từ 18 đến 40 tuổi) để thu thập thông tin về văn hóa truyền thống, về tri thức
bản địa, về lịch sư và quá trình phát triển của cộng đồng làng. Trên cơ sở cách tiếp
cận lịch đại, tác giả sẽ liệt kê, mô tả quá trình hình thành huyện Lắk, nguồn gốc
về người Mnông, điều kiện tư nhiên, bối cảnh văn hóa xa hội (các quy định về
quản lý và sư dụng tài nguyên đất rừng và nguồn nước, sinh kế truyền thống, tổ
chức kinh tế xa hội, sư thay đổi về quan niệm, cách thực hành văn hóa cũng như
các chiều tác động đối với văn hóa và tri thức bản địa về quản lý và sư dun
̣ g đất
rừng và nguồn nước)…
Tri thức bản địa là một thưc thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn
liền với văn hóa của cộng đồng, do vậy, nhận thức, lý giải tri thức bản địa phải gắn
liền với môi trường hình thành tri thức ấy. Áp dụng phương pháp “chân trần trong
bùn” của Jacques Dournes trong nghiên cứu văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên, tác giả luận án sư dụng triêt để phương pháp quan sát, chụp ảnh cộng
đồng làng, cùng tham dư các sinh hoạt, các nghi lễ, thưc hành canh tác… nhằm tái
hiên các dữ liêu trong phần trình bày nội dung chương 2 và chương 3 của luận
án. Với lợi thế, tác giả luận án là người Mnông nên trong quá trình sinh sống
cũng như trong quá trình điền da đa có dịp quan sát, tham dư, chụp ảnh nhiều
hoạt động trong phạm vi gia đình và cộng đồng làng. Đây là những tư liêu sinh
động, giúp cho tư liêu của luận án có độ tin cậy cao, hạn chế tối đa ảnh hưởng

tác động đến hê thống tri thức bản địa của người Mnông và những vấn đề đặt ra
từ đó.
Cung cấp nguồn tư liêu tham khảo hữu ích cho chủ đề nghiên cứu về tri
thức bản địa, về người Mnông, về Tây Nguyên, giúp ích cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy và cả hoạch định chính sách.
Chỉ ra những vấn đề cấp bách, những thách thức đặt ra từ sư biến đổi
nhanh chóng theo chiều hướng thiếu tích cưc của tri thức bản địa của người
Mnông hiên nay và kết nối với vấn đề phát triển bền vững Tây Nguyên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Dưới góc độ văn hóa dân gian, luận án góp phần nhìn nhận tri thức bản
địa của người Mnông trong viêc quản lý và sư dụng các nguồn tài nguyên đất
rừng và nguồn nước dưa trên tính chỉnh thể nguyên hợp, không tách rời các
thành tố cấu thành tri thức bản địa, không tách rời giữa yếu tố kỹ thuật và phi kỹ
thuật, xác định nhận thức luận đóng vai trò quyết định, chi phối hành vi ứng xư
giữa con người với tư nhiên.
Bổ sung các luận điểm khẳng định vai trò, giá trị của tri thức bản địa trong
quản lý và sư dụng đất rừng và nguồn nước, là cơ sở để cộng đồng và các cơ
quan quản lý nhà nước quản lý và bảo vê tài nguyên một cách bền vững, góp


phần bảo tồn và phát huy các giá trị của văn hóa dân gian. Nghiên cứu còn góp
phần khẳng định sư phù hợp của cách tiếp cận tài nguyên thiên nhiên dưa trên
nguyên tắc có sư


tham gia của cộng đồng, kết hợp giữa tri thức bản địa và tri thức khoa học
trong phát triển bền vững.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án chỉ ra những vấn đề cần tập trung chú ý đối với tri thức bản địa

QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu về tri thức bản địa trên thế giới
Ở phương Tây, thường cho rằng không có cái gọi là tri thức bản địa theo
nghĩa tri thức “dân gian” đa từng tồn tại và biến mất, và theo một cách nào đó
khoa học và công nghê trở thành tri thức bản địa. Tuy nhiên, các nhà nghiên
cứu cho chúng ta thấy ngay từ thời trung cổ và giai đoạn đầu của thời hiên
đại, các kinh nghiêm cộng đồng, truyền thống truyền miêng, kinh nghiêm cá
nhân và quyền hạn có được thông qua học hỏi hình thành nên tri thức “cô
đọng” hay “sư thông thái được truyền giao” được sắp xếp thành những tri thức
chuyên biêt, đặc biêt là tri thức y học [82, tr.8]. Từ thế kỷ 16 trở đi, tri thức dân
gian Châu Âu kết hợp với y học có nguồn gốc Châu Á và Châu Mỹ. Chính sư vô
danh này đa giúp xác định được những hoạt động mang tính khoa học mới nổi,
đối nghịch với tri thức dân gian. Về mặt phương pháp luận, tri thức khoa học
vẫn tiếp tục tận dụng những tri thức dân gian có tính thưc tiễn [Sđd, tr.9]. Trong
suốt thế kỷ 17, 18, tri thức khoa học của thế giới tư nhiên được tạo ra, tiếp tục
tiếp thu những tri thức dân gian địa phương tồn tại trước đó. Một phần tri thức
dân gian còn sót lại vào cuối thế kỷ 20 trở thành đối tượng của viêc phục hưng
hóa. Phần còn lại tiếp tục tồn tại như những tri thức ẩn cần thiết cho viêc tạo ra
những cuốn sách và lý thuyết và tiếp tục thể hiên sư gắn kết thưc tiễn của những
người thợ thường dân, “tri thức dân gian đa bị hê thống hóa thành tri thức khoa
học” [Sđd, tr.10].
Những năm1960-1970 của thế kỷ XX, tri thức bản địa bị xem nhẹ, bị bỏ qua
và đánh giá thấp. Tri thức bản địa không chỉ bị đánh giá thấp bởi những nhà quản
lý có trình độ được đào tạo theo phương Tây về những tiềm năng ứng dụng thưc
tiễn của nó. Thậm chí, khi tri thức bản địa được dùng hiển nhiên, thì công lao của
những người đưa nó đến với khoa học vẫn bị lờ đi [Sđd, tr.16]. Mặc dù tri thức
bản địa bị ngoài lề hóa như trên nhưng ngay từ giữa thế kỷ 19, quá trình này bị
xem xét lại. Nguyên nhân tri thức bản địa được xem xét lại là do sư bất lưc của
khoa học và công nghê phương Tây trong giải thích thế giới tư nhiên, trong khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status