ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
MÔN HỌC: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ:
HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ TÀI NGUYÊN NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH
GVHD : TS. Nguyễn Hồng Quân
HVTH : 1. Trần Đình Trung
2.Trương Thị Cẩm Tú
Tháng 11/2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH
ĐỊNH 3
1.1 Các nhân tố tự nhiên liên quan đến hình thành tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh 3
1.2 Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh 5
1.2.1. Hạn hán 5
1.2.2. Về lũ lụt 5
1.2.3. Về xâm nhập mặn 6
1.3. Hiện trạng Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bình Định 7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NGUỒN
TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH 12
2.1. Tình hình khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh 12
2.2. Tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước mặt 17
2.2.1. Khai thác và sử dụng các lưu vực sông 17
2.2.2. Khai thác và sử dụng các hồ chứa 19
2.2.3. Các nguồn gây ô nhiễm nước mặt lục địa 19
Hình 3: Diễn biến pH tại một số điểm quan trắc 16
Hình 4: Các tiểu vùng tưới vùng Nam Bình Định 18
Hình 5: Diễn biến ô nhiễm tại các lưu vực sông Hà Thanh, sông Kôn 21
Hình 6: Diễn biến ô nhiễm BOD
5
tại các lưu vực sông chảy qua các khu vực dân cư và cơ
sở sản xuất 21
Hình 7: Diễn biến ô nhiễm BOD
5
tại các hồ thuộc TP. Quy Nhơn 22
MỞ ĐẦU
Bình Định là địa phương thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, là 01 trong 05
tỉnh, thành phố thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung; Tổng diện tích tự nhiên:
6039,6 km
2
; Dân số: 1592,6 nghìn người; Mật độ dân: 264 người/km
2
. Vị trí địa lý kinh tế
của tỉnh đặc biệt quan trọng trong giao lưu khu vực và quốc tế, nằm ở trung điểm của trục
giao thông đường sắt, đường bộ Bắc - Nam Việt Nam, đồng thời là cửa ngõ ra biển gần
nhất và thuận lợi nhất của Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Thái Lan
thông qua Quốc lộ 19 và cảng biển quốc tế Quy Nhơn. Ngoài lợi thế này, Bình Định còn có
nguồn tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn phong phú và nguồn nhân lực khá dồi dào.
Trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đến năm 2020 đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bình Định được xác định sẽ trở thành tỉnh có nền công
nghiệp hiện đại và là một trong những trung tâm phát triển về kinh tế - xã hội, đóng góp
tích cực vào sự phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước.
Công cuộc phát triển kinh tế - xã hội trên quy mô rộng lớn và tốc độ nhanh chóng
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước
đòi hỏi tỉnh Bình Định phải có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đảm bảo, mức tăng trưởng kinh tế
b. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu là trữ lượng và chất lượng nguồn nước, thực trạng khai thác và
sử dụng; công tác quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh, nội dung
nghiên cứu mang tính khái quát.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng là: phương pháp thống kê, phương pháp bản đồ,
phương pháp tổng hợp, phương pháp chuyên gia…
5. Bố cục:
Nội dung của Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1. Khái quát hiện trạng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bình Định
Chương 2. Thực trạng công tác khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên nước
Chương 3. Đề xuất một số giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên
nước trên địa bàn tỉnh.
Hiện trạng và đề xuất giải pháp QL và SD hợp lý TNN trên địa bàn tỉnh Bình Định 5
CHƯƠNG 1
HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH
1.1. Các nhân tố tự nhiên liên quan đến hình thành tài nguyên nước trên địa
bàn tỉnh
a. Địa hình
Bình Định là tỉnh Duyên hải miền Trung của Việt Nam với lãnh thổ trải dài 110 km
theo hướng Bắc - Nam, chiều ngang hẹp trung bình 55 km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng
nhất 60 km). Vị trí nằm ở rìa phía Đông cao nguyên Kon Tum nên địa hình toàn tỉnh có xu
hướng nghiêng từ Tây sang Đông, trong đó đặc trưng là địa hình núi, địa hình đầm phá ven
biển và bờ biển và dạng địa hình thềm lục địa.
b. Khí hậu
Bình Định mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa. Tổng lượng bức xạ 140 -
150 kcal/cm
2
/năm. Nhiệt độ trung bình năm 2009 là 26.2 - 27.3
0
2
. Lại Giang lưu
vực 1.402 km
2
, sông Hà Thanh 539 km
2
và La Tinh 780 km
2
. Mùa khô, nước các con sông
cạn kiệt, chênh lệch giữa lưu lượng lũ và lưu lượng kiệt đến trên 1.000 lần.
Bảng 1. Phân phối dòng chảy theo hai mùa lũ và cạn
TRẠM SÔNG
LƯỢNG DÒNG
CHẢY BÌNH QUÂN
(m
3
/s)
TỔNG LƯỢNG DÒNG
CHẢY BÌNH QUÂN
( 10
9
m
3
)
TỶ LỆ (%)
Trong
năm
Mùa
lũ
Mùa
dâng và tình hình suy giảm nguồn nước ở các hệ thống sông do tình hình khai thác tài
nguyên rừng ở thượng nguồn, quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước chưa
được hợp lý và chặt chẽ nên tình hình hạn hán, lũ lụt hàng năm càng xảy ra nghiêm trọng
làm ảnh hưởng lớn đến kinh tế, môi trường và chất lượng cuộc sống của người dân.
1.2.1. Hạn hán
Bình Định là tỉnh nằm trong vùng khô hạn, mùa khô sự cạn kiệt của các sông là
nguyên nhân gây ra hạn hán nghiêm trọng trong vùng, do mùa mưa ngắn mà tập trung chủ
yếu vào tháng 10, 11. Ngược lại mùa khô kéo dài 8 tháng, nắng nhiều lại bị ảnh hưởng của
gió Tây khô nóng, bốc hơi lớn nên hàng năm thường bị hạn hán xảy ra.
1.2.2. Về lũ lụt
Bình Định nằm gọn bên sườn phía đông dãy Trường Sơn, địa hình dốc và bị chia cắt
mạnh, nhìn chung địa hình có xu hướng dốc từ Tây sang Đông khá đều đặn. Các sông
trong vùng phân ra hai đoạn khác nhau rõ rệt, phần thượng nguồn có độ dốc lớn, lòng sông
hẹp. Phần hạ lưu sông rộng và nông có độ dốc bé, khi ra đến biển sông không còn dòng
chính mà chia làm nhiều nhánh nhỏ tạo thành mạng lưới sông chằng chịt.
Chế độ triều vùng biển Quy Nhơn có chế độ bán nhật triều không đều đến nhật triều đều.
Trong tháng có từ 18-22 ngày nhật triều và 2 lần triều cường và 2 lần triều kém.
Biên độ triều cường từ 1,5-2m và biên độ triều kém chỉ xấp xỉ 0,5m.
Từ đặc điểm địa hình và mạng lưới sông như trên, khi có lũ (thường do mưa bão gây
lũ) vùng đồng bằng nước chảy tràn qua sông, qua đường giao thông vào đồng ruộng, làng
xóm khu dân cư gây ngập lũ trên diện rộng và gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản.
Kết quả kịch bản ngập lụt (theo đề tài Xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt tỉnh Bình
Định):
- Sông Lại Giang: Vùng ngập lụt phổ biến với độ sâu ngập từ 0,5 đến 5,5m với phần
Hiện trạng và đề xuất giải pháp QL và SD hợp lý TNN trên địa bàn tỉnh Bình Định 8
lớn ở vùng đồng bằng dưới Quốc lộ I. Với độ sâu ngập trên 6 m chủ yếu là bãi bồi ven
sông và vùng đồng bằng phía trên cầu Bồng Sơn ở thôn Thiết Đính Nam, thôn Lại Khánh
và Lại Đức.
- Sông La Tinh: Vùng ngập lụt phổ biến với độ sâu ngập từ 0,5 đến 4,5m, độ sâu
ngập trên 5m chủ yếu là bãi bồi ven sông và đầm Nước ngọt. Địa hình vùng nghiên cứu có
o
/
oo
; nhưng về mùa khô ranh giới mặn chuyển sâu vào đất liền cách biển khoảng 3,8
km và độ mặn tăng dần về phía cửa sông 1,05 – 13,66
o
/
oo
. Đối với các đầm ở gần biển
thuộc Quy Nhơn, Phù Mỹ, Tuy Phước quanh năm chứa nước mặn; mùa mưa độ mặn đạt từ
Hiện trạng và đề xuất giải pháp QL và SD hợp lý TNN trên địa bàn tỉnh Bình Định 9
2,82 – 10,6
o
/
oo
, mùa khô độ mặn còn cao hơn. Mặn, phèn xâm nhập ảnh hưởng trực tiếp
đến sản xuất nông nghiệp; đặc biệt là vùng ven biển, ven đê Đông và đầm Trà Ổ.
1. 3. Hiện trạng Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bình Định
Tài nguyên nước mặt lục địa
a. Đặc điểm chung
Các sông trong tỉnh đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườn phía đông dãy
Trường Sơn. Ở thượng lưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốc rất lớn, lũ lên
xuống rất nhanh, thời gian truyền lũ ngắn.
Ở đoạn đồng bằng lòng sông rộng và nông có nhiều luồng lạch, mùa kiệt nguồn
nước rất nghèo nàn; nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập mênh mông vùng hạ lưu gây ngập
úng dài ngày vì các cửa sông nhỏ và các công trình che chắn nên thoát lũ kém.
b. Đặc điểm các sông chính
- Sông Lại Giang
Sông Lại Giang gồm hai nhánh sông: Sông An Lão bắt nguồn từ vùng núi phía bắc
An Lão giáp tỉnh Quảng Ngãi chảy qua huyện An Lão theo hướng Bắc -Nam; sông Kim
Sông Hà Thanh bắt nguồn từ những đỉnh núi cao 1100m phía tây nam huyện Vân
Canh chảy theo hướng Tây Nam- Đông Bắc. Khi chảy về đến Diêu Trì sông chia thành hai
nhánh: nhánh Hà Thanh và Trường Úc đổ vào đầm Thị Nại qua hai cửa Hưng Thạnh và
Trường Úc rồi thông ra biển qua cửa Quy Nhơn. Diện tích lưu vực toàn bộ là 539km
2
, dài
58km.
c. Đặc điểm các hồ lớn
+ Hồ Núi Một: Tại sông An Trường, xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn. Diện tích
lưu vực 110 km
2
, diện tích mặt thoáng 950 ha. Độ cao so với mực nước biển 50,35m.
+ Hồ Vĩnh Sơn: Nằm trong lưu vực sông Đaksom, là một nhánh bên bờ phải
sông Kôn. Diện tích lưu vực 214 km
2
; diện tích mặt hồ 12,7 km
2
. Dung tích 131 triệu
m
3
nước.
+ Hồ Thuận Ninh: Tại suối Bèo, xã Bình Tân, Tây Sơn, có diện tích lưu vực
78,5km
2
, diện tích mặt thoáng của hồ 496 ha. Hồ có độ cao 71,2 m so mặt nước biển.
+ Hồ Hội Sơn: Tại xã Cát Sơn, huyện Phù Cát, thuộc Sông La Tinh. Diện tích
mặt thoáng 400 ha và có độ cao so với mặt nước biển 71,5 m.
+ Hồ Định Bình: trên lưu vực sông Kôn. Hồ thuộc địa phận xã Vĩnh Hảo, huyện
Vĩnh Thạnh. Mặt thoáng của hồ dài đến 13 km với bề ngang thay đổi từ 500 - 1000 m.
Độ sâu mực nước có nơi đến 40m. Diện tích hồ khoảng 1.320 ha với dung tích toàn bộ
Bảng 2. Tổng hợp trữ lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Bình Định
TT Vùng tính
trữ lượng
Trữ lượng động
(m
3
/ng)
Trữ lượng tĩnh
(m
3
/ng)
Trữ lượng tiềm
năng (m
3
/ng)
1 An Lão 101702,74 6734,70 108437,44
2 Hoài Nhơn 93118,36 4959,90 98078,26
3 Hoài Ân 126532,05 7697,40 134229,45
4 Vĩnh thạnh 129061,92 9736,80 138798,72
5 Phù Mỹ 74124,11 4013,10 78137,21
6 Phù Cát 121952,05 5804,10 127756,15
7 Tây Sơn 163489,32 10584 174073,32
8 An Nhơn 178936,71 13459,80 192396,51
Hiện trạng và đề xuất giải pháp QL và SD hợp lý TNN trên địa bàn tỉnh Bình Định 13
Hình 1. Bản đồ hệ thống Sông suối trên địa bàn tỉnh Bình Định
TT
Vùng tính
trữ lượng
Trữ lượng động
(m
nhiễm mặn theo chiều sâu khá phức tạp.
a. Những nghiên cứu về nước ngầm Bình Định:
Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu cấp tỉnh như đề tài: “Tổng hợp biên
hội bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ 1/50.000, xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước ngầm,
đánh giá hiện trạng khai thác nước ngầm và đề xuất các giải pháp quản lý khai thác, sử
dụng hợp lý và bền vững tại tỉnh Bình Định” do Liên đoàn Địa chất thủy văn - ĐCCT miền
Hiện trạng và đề xuất giải pháp QL và SD hợp lý TNN trên địa bàn tỉnh Bình Định 14
Trung thực hiện (năm 2006). Bên cạnh đó có nhiều công trình điều tra đánh giá nước dưới
đất ở một số địa phương trong tỉnh như: Bản đồ nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000 tỉnh Bình
Định (1996); Báo cáo điều tra đánh giá nguồn nước ngầm vùng Vân Canh, Bình Định
(1999); Bản đồ địa chất thủy văn vùng Đông Quốc lộ 1 Bình Định tỷ lệ 1/50.000
Qua số liệu các công trình cho thấy, trung bình mỗi người dân trong tỉnh được
6.030m
3
nước/năm - gần bằng 1/2 trung bình của cả nước, và thế giới. Theo định mức của
thế giới, nước nào đạt 10 ngàn m
3
/người/năm trở lên thì thuộc loại giàu về nước (Noname
2010). Như vậy Bình Định là một tỉnh nghèo về nước.
b. Hiện trạng khai thác nước dưới đất:
Trong thời gian trước và sau năm 1975, Bình Định có điều tra nghiên cứu về nước
dưới đất. Cụ thể như tại khu vực Quy Nhơn, sân bay Phù Cát, hạ lưu sông Hà Thanh. Sau
này là Hội Vân, Chánh Thắng (Phù Cát), Long Mỹ (TP Quy Nhơn) để tìm nguồn nước
khoáng thiên nhiên.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có rất nhiều điểm khai thác nước dưới đất. Điểm cầu Tân
An, Bắc sông Hà Thanh, mỗi điểm khai thác từ 20- 25 ngàn m
3
/ngày để cung cấp cho TP
Quy Nhơn, Phú Tài, Khu kinh tế Nhơn Hội. Tại 9 thị trấn cũng có dự án khai thác mỗi
điểm từ 1.000 – 2.500 m
- Hiện nay, một số địa điểm có tình trạng nước dưới đất bị nhiễm mặn như khu vực
Khách sạn Bãi Dài thuộc Công ty Du lịch Bãi Dài Quy Nhơn, Khách sạn Du lịch thuộc
Công ty CP Du lịch Bình Định; Khách sạn Công đoàn thuộc Công ty TNHH Du lịch Công
đoàn Bình Định (nhiễm dầu), 01 giếng khai thác nước ven sông Hà Thanh của Công ty CP
Bia Sài Gòn-Miền Trung (không đảm bảo chất lượng ).
- Có 16 doanh nghiệp khai thác nước sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh,
trong đó 14 doanh nghiệp khai thác sử dụng nước dưới đất, 02 doanh nghiệp khai thác sử
dụng nước mặt nhưng chỉ mới có 01 doanh nghiệp lập hồ sơ xin cấp phép khai thác sử
dụng tài nguyên nước.
- 05 doanh nghiệp có giếng khoan, giếng đào không sử dụng nhưng chưa thực hiện
việc trám lấp, cách ly giếng theo quy định tại Quyết định số 14/2007/QĐ-BTNMT ngày
4/9/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Có 7 doanh nghiệp đã có hệ thống xử lý nước thải là: Khách sạn Hải Âu, Khách
sạn Sài Gòn-Quy Nhơn, Công ty Du lịch Bãi dài Quy Nhơn, Công ty CP thực phẩm XNK
Lam Sơn, Công ty CP Bia Sài Gòn – Miền Trung, Công ty CP Đông lạnh Quy Nhơn, Công
ty CP Thủy sản Bình Định. Tuy vậy, hầu hết các đơn vị này vẫn chưa được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền công nhận hệ thống xử lý nước thải đạt chất lượng; còn lại 13 doanh
nghiệp khác chưa có hệ thống xử lý nước thải.
- Hầu hết các doanh nghiệp chưa có hợp đồng đấu nối nước thải vào hệ thống thoát
nước chung của thành phố Quy Nhơn.
Hiện trạng và đề xuất giải pháp QL và SD hợp lý TNN trên địa bàn tỉnh Bình Định 16
- Toàn bộ 20 doanh nghiệp chưa có hồ sơ xin cấp phép xả nước thải vào nguồn
nước.
Hình 2: hình ảnh xả nước thải trong quá trình nuôi tôm của
Công ty TNHH Asia Hawaii Ventures tại Phù Mỹ, năm 2010. Ảnh M. Đức
c. Diễn biến chất lượng môi trường
• Các nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất:
Hiện nay, thành phố Quy Nhơn đã đưa vào vận hành hệ thống cấp nước với công
suất 53.500 m
3
(cũ) huyện An Nhơn chưa thực hiện đầy đủ các giải pháp bảo vệ môi trường cũng như đầu
tư xây dựng hoàn thiện các hạng mục xử lý chất thải nên dẫn đến tình trạng ngấm chất thải,
nước rỉ từ bãi rác vào môi trường đất làm ô nhiễm nguồn nước ngầm khu vực và không thể
sử dụng được cho mục đích sinh hoạt.
Kết quả quan trắc chất lượng nước ngầm do Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện
tại 33 điểm thuộc các khu vực dân cư tập trung, các khu vực gần bãi rác và một số khu-
CCN trên địa bàn tỉnh Bình Định vào tháng 3/2010 và so sánh với QCVN
09:2008/BTNMT, cho thấy:
- 45 % mẫu phân tích có chỉ tiêu Coliform vượt quy chuẩn cho phép từ 2 đến 7 lần.
- 33% mẫu phân tích có chỉ tiêu NH
4
+
vượt quy chuẩn cho phép từ 1,2 đến 8,8 lần.
Nước ngầm nhiễm bẩn Coliform, NH
4
+
phần lớn phân bố tại các khu vực tập trung
dân cư của các huyện và thành phố Quy Nhơn. Nguyên nhân ô nhiễm phát sinh từ chất thải
của hoạt động chăn nuôi do cơ sở chuồng trại không đảm bảo, không đủ khoảng cách cách
ly hợp vệ sinh theo quy định.
Hiện trạng và đề xuất giải pháp QL và SD hợp lý TNN trên địa bàn tỉnh Bình Định 18
Hình 3: Diễn biến pH tại một số điểm quan trắc
Ô nhiễm Flour trong nước ngầm có nguồn gốc từ đặc điểm cấu trúc địa chất và thủy
văn tại một số xã của huyện Tây Sơn, An Nhơn và Vân Canh đã gây ra tình trạng suy giảm
sức khỏe (hư răng, xương,…) đối với người dân vùng ô nhiễm (hăng 2003; Noname 2010).
Bảng 3. Hàm lượng F
-
trong một số mẫu nước ngầm
TT Địa điểm quan trắc Hàm lượng F
-
2
(diện tích đất nông nghiệp là 105.211,1 ha, trong đó đất trồng cây
lâu năm là 63.580,4 ha) bao gồm lưu vực sông La Tinh, sông Kon và sông Hà Thanh. Lưu
vực sông La Tinh rất khó khăn về nguồn nước do không có các sông lớn nên quy hoạch
phải lấy nước từ sông Kon qua đập Vân Phong để tưới tiêu nông nghiệp.
Hình 4: Các tiểu vùng tưới vùng Nam Bình Định
Thống kê diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất
cây trồng hằng năm, các công trình thủy lợi và diện tích
vùng tưới Nam Bình Định được trình bày như sau:
Bảng 4: Hiện trạng thủy lợi vùng Nam Bình
Định
Hiện trạng và đề xuất giải pháp QL và SD hợp lý TNN trên địa bàn tỉnh Bình Định 20
b. Hiện trạng khai thác nguồn nước phục vụ sinh hoạt
- Khu vực đô thị: Hiện tại chỉ có nhà máy ở thành phố Quy Nhơn cấp nước cho nhu cầu
sinh hoạt với công suất 20.000 m
3
/ngày đêm. Nguồn nước được khai thác từ sông Hà Thanh qua
các giếng ở Diêu Trì cách trung tâm thành phố 9 km.
- Khu vực nông thôn: nước sinh hoạt phần lớn là giếng khoan hở hoặc khoan sâu. Ngoài ra
còn lấy từ các ao hồ, sông nhỏ. Chất lượng nước sông không đảm bảo vệ sinh, vùng gần biển nước
sinh hoạt bị nhiễm mặn.
c. Hiện trạng khai thác nguồn nước phục vụ công nghiệp
Nhu cầu nước công nghiệp trong lưu vực sông Kon – Hà Thanh hiện nay chủ yếu đáp ứng
nhu cầu nước cho các khu công nghiệp. Các Khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã đi vào hoạt
động trên địa bàn tỉnh đều nằm trong lưu vực sông Kon – Hà Thanh.
d. Hiện trạng sử dụng nguồn phát điện: Trong lưu vực sông kon có công trình thủy điện
Vĩnh Sơn với công suất lắp máy 66 MW đã đi vào vận hành một cách hiệu quả. Sản lượng điện
bình quân hằng năm là 230 triệu KWh.
2.2.2. Khai thác và sử dụng các hồ chứa
trường. Ngoài ra, chất thải từ chăn nuôi chưa được quan tâm thu gom và xử lý đảm bảo
là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước.
Ngoài ra, những hoạt động tự phát, không theo quy hoạch như chặt phá rừng bừa
bãi, canh tác nông lâm nghiệp không hợp lý và thải chất thải sinh hoạt bừa bãi vào các
lưu vực làm cho nguồn nước bị cạn kiệt, bị ô nhiễm. Nguy cơ ô nhiễm nguồn nước
càng trầm trọng, nhất là vào mùa khô.
2.2.4. Diễn biến ô nhiễm:
• Diễn biến chất lượng môi trường nước các sông lớn của tỉnh
Kết quả quan trắc chất lượng nước tại các con sông lớn của tỉnh, cho thấy, ở
thượng lưu còn khá tốt trong khi mức độ ô nhiễm ở hạ lưu ngày càng tăng do ảnh
Hiện trạng và đề xuất giải pháp QL và SD hợp lý TNN trên địa bàn tỉnh Bình Định 22
hưởng của các khu đô thị, cơ sở công nghiệp ven sông. Diễn biến ô nhiễm này đang có
xu hướng tăng dần theo năm ở tất cả các lưu vực trên địa bàn tỉnh.
Xem xét diễn biến ô nhiễm theo từng lưu vực cũng nhận thấy mức độ ô nhiễm có
chiều hướng tăng dần từ thượng lưu về hạ lưu, đặc biệt tăng cao tại các đoạn sông chảy
qua các khu vực tập trung dân cư, khu cụm công nghiệp, thể hiện rõ nhất diễn biến này
là tại các lưu vực sông Hà Thanh, sông Kôn (Hình 6).
Hình 5: Diễn biến ô nhiễm tại các lưu vực sông Hà Thanh, sông Kôn
Nguồn: Trung tâm Quan trắc môi trường Bình Định
Đặc biệt, trong những năm gần đây tình trạng ô nhiễm hữu cơ thể hiện khá rõ tại
các lưu vực sông, mức độ ô nhiễm này đang tăng dần theo năm, qua kết quả quan trắc
tháng 3/2010 tại các điểm quan trắc hàng năm hàm lượng BOD5 vượt từ 0,2 đến 3 lần
tiêu chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT ([B1] và [A2]). (Hình 5)
Hình 6: Diễn biến ô nhiễm BOD
5
tại các lưu vực sông chảy qua các khu vực dân cư và cơ
sở sản xuất.
Nguồn: Trung tâm Quan trắc môi trường Bình Định
Đối với các thông số (pH, DO, TSS, NO
2
-Độ sâu dòng chảy năm: Y = 31,536 x M (mm)
-Tổng lượng dòng chảy năm: W = 31,536 x 10
6
x Q (m
3
)
Trong đó :
F: là diện tích lưu vực tính bằng Km
2
31,536 x 10
6
là số giây trong 1 năm.
Theo quy luật chung, dòng chảy năm của các sông tỉnh Bình Định biến đổi theo
không gian và thời gian. Nghiên cứu sự biến đổi dòng chảy năm theo không gian bằng cách
xây dựng bản đồ đẳng trị dòng chảy năm, đánh giá sự phân bố dòng chảy năm theo các
vùng trong tỉnh và nghiên cứu sự biến đổi theo thời gian bằng cách xác định sự thay đổi
của dòng chảy giữa các tháng và các mùa trong năm.
Đặc trưng cơ bản của nguồn nước sông là đại lượng trung bình nhiều năm, là một
trong những tiêu chuẩn chính để tính toán, xác định quy mô, kích thước công trình thuỷ lợi,
thuỷ điện, khả năng cung cấp nước sông suối cho sản xuất và đời sống cũng như để lập quy
hoạch, phát triển kinh tế của lãnh thổ.
Chuẩn dòng chảy năm là trị số dòng chảy trung bình nhiều năm được xác định theo
công thức:
n
n
i
i
Q
Q
∑
2
W
0
=
2,19 x 10
9
m
3
Y
0
= 1300 mm
- Lưu vực sông An Lão (tính đến trạm Thủy văn An Hòa)
F = 383 Km
2
Q
0
= 30,3 m
3
/s
X
0
= 3033 mm
M
0
=
79,1 l/s.Km
2
W