Tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa - Pdf 25


1
Đại học Quốc gia hà Nội
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn


Vũ Trường Giang Tri thức bản địa của người Thái
ở miền núi thanh Hóa

Luận án tiến sĩ Lịch sử
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 62227001
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS - TS Phan Hữu Dật
2. PGS - TS Hoàng Lương


17
Chương 1: Tổng quan về địa bàn, tộc người và vấn đề nghiên cứu
18
1.1. Khái quát về địa bàn miền núi Thanh Hóa……… ………… ……
18
1.2. Người Thái ở miền núi Thanh Hóa………………………………
19
1.3. Tri thức bản địa…………………………………………………….
31
Chương 2: Tri thức bản địa trong trong hoạt động sản xuất nông
nghiệp và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
50
2.1. Tri thức trong phân loại và bảo vệ đất trồng trọt… ………………
50
2.2. Tri thức trong lựa chọn giống lúa……………………… ………
58
2.3. Tri thức trong kỹ thuật canh tác ………………………………….
59
2.4. Tri thức trong đoán định thời tiết…… ……………………………
61
2.5. Tri thức về lịch và nông lịch…… ………………………………
63
2.6. Tri thức trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước…… …………
70
2.7. Tri thức trong khai thác và bảo vệ tài nguyên rừng………………
79
Chương 3: Tri thức bản địa về y học dân gian và chăm sóc sức
khoẻ cộng đồng
89
3.1. Quan niệm về ốm đau, bệnh tật…………………………………….

220
Bản đồ địa bàn nghiên cứu… ………………………………………….
221
Một số hình ảnh về người Thái…………………………………………
224
ảnh một số cây thuốc …… …………………………………………
245
Thống kê danh sách một số cây thuốc và bài thuốc…………………….
262
Những nghi lễ và kiêng kỵ trong phòng bệnh…………………………
274
Chữa bệnh bằng ma thuật……………………………………………….
282
Nghi lễ cầu
mưa…………………………………………………………
293
Truyền thuyết về ta leo………………………………………………….
295
Bảng so sánh một số từ vựng của người Thái ở một vài địa phương…
297
Danh sách những người cung cấp tư liệu……………………………….
303 4
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tri thức bản địa là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa,
góp phần làm nên bản sắc tộc người. Tri thức bản địa có thể coi là tài sản của

1993 ở Anh, năm 1996 ở Thái Lan, năm 1999 ở Hà Lan, năm 2002 ở Thái
Lan, năm 2005 ở Mỹ và năm 2008 ở Thái Lan) đã chứng minh điều đó.
So với toàn bộ cư dân Thái ở Đông Nam á và Nam Trung Quốc, người
Thái ở Việt Nam không nhiều: 1.328.725 người {212, tr 21}, nhưng

do địa
bàn bị chia cắt, lại chịu ảnh hưởng của nhiều luồng văn hóa từ nhiều hướng,
cũng như văn hóa của các tộc người cư trú xen kẽ, nên sự khác biệt giữa các
nhóm địa phương là điều không tránh khỏi. Nhiệm vụ của giới nghiên cứu
khoa học nước ta hiện nay là phải nghiên cứu một cách có hệ thống tất cả các
nhóm cư dân Thái trên địa bàn cả nước, cũng như ở các địa phương. So với
toàn bộ cư dân Thái ở Việt Nam, người Thái ở miền núi Thanh Hóa có nhiều
nét tương đồng nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt, nên việc nghiên cứu
người Thái ở đây vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Là một người sinh ra và lớn lên ở miền núi Thanh Hóa và là cán bộ
giảng dạy, nghiên cứu Dân tộc học ở Học viện Chính trị - Hành chính khu
vực I, trong nhiều năm qua tôi đã tiến hành nghiên cứu về lịch sử tộc người,
kinh tế, xã hội và văn hóa của người Thái, và có nhiều dịp đi điền dã tại nhiều
địa bàn có người Thái sinh sống thuộc miền núi Thanh Hóa. Những vấn đề về
tri thức bản địa của người Thái trong đời sống tộc người truyền thống cũng
như hiện nay đã thôi thúc tôi chọn đề tài: “Tri thức bản địa của người Thái ở
miền núi Thanh Hóa” làm luận án Tiến sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành
Dân tộc học.
Nghiên cứu đề tài này tôi muốn khái quát những tri thức bản địa của
người Thái ở miền núi Thanh Hóa, khai thác những giá trị lịch sử, văn hóa mà

6
người Thái đã sáng tạo ra trên chiếc nôi của nền văn hóa dân tộc. Qua đó, một
mặt phát huy những mặt tích cực, hữu ích của tri thức bản địa; mặt khác, chỉ
ra những hạn chế và việc kết hợp giữa tri thức bản địa với tri thức khoa học

khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Phạm Quang Hoan: “Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam” (97). Bài viết trình bày các nội dung: 1. Tầm quan trọng của tri
thức địa phương; 2. Quan niệm về tri thức địa phương; 3. Tri thức địa phương
của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Phạm Quang Hoan: "Tri thức địa phương (tri thức truyền thống) của các
dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong đời sống xã hội đương đại” (98). Bài viết trình
bày các nội dung: 1. Tại sao cần nghiên cứu tri thức địa phương; 2. Tri thức địa
phương là gì; 3. Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Phạm Quang Hoan: "Tri thức địa phương về quản lý nguồn tài nguyên
thiên nhiên của các dân tộc ở các tỉnh miền núi Việt Nam" (99). Bài viết trình
bày các nội dung: 1. Quan niệm về tri thức địa phương; 2. Tri thức địa
phương về quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc ở các tỉnh
miền núi phía Bắc.
Dưới góc nhìn nhân học - văn hóa, ba bài viết của tác giả Phạm Quang
Hoan trình bày tương đối đầy đủ về khái niệm, nội hàm và các lĩnh vực liên
quan của tri thức bản địa nói chung, tri thức bản địa của các tộc người thiểu số
ở Việt Nam.
Hà Đình Thành "Tác động của tri thức dân gian" (180). Bài viết của
tác giả trình bày các nội dung: 1. Khái niệm và vai trò của tri thức dân gian; 2.
Tri thức dân gian của các tộc người ở Việt Nam; 3. Tác động của tri thức dân
gian trong quản lý nhà nước đối với tài nguyên môi trường.
(Mông ký Slay chủ biên): "Cung cấp tri thức địa phương một hướng
tiếp cận mới trong giáo dục cho học sinh dân tộc" (133). Bài viết của tác giả
trình bày các nội dung: 1. Quan niệm về tri thức địa phương; 2. Tri thức địa

8
phương với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; 3. Một số nguyên tắc
lựa chọn nội dung tri thức địa phương; 4. Các môn học với việc chuyển tải kiến
thức địa phương.

nước, trình bày đầy đủ và có hệ thống các nội dung: 1. Khái niệm tri thức địa
phương; 2. Tri thức địa phương và cư dân địa phương; 3. Tri thức địa phương
và bối cảnh; 4. Phân loại tri thức địa phương.
Vũ Trường Giang: “Về tri thức bản địa và phát triển” (67). Bài viết của
tác giả trình bày các nội dung: 1. Khái niệm tri thức bản địa; 2. Tầm quan
trọng của tri thức bản địa trong phát triển.
Nguyễn Thị Thu Hà: “Tri thức bản địa - những bước thăng trầm”
(85). Bài viết của tác giả trình bày các nội dung: 1. Tri thức bản địa và những
đặc điểm chung; 2. Tri thức bản địa và những bước thăng trầm.
Bùi Hoài Sơn: “Một đôi nét về khái niệm trị thức bản địa” (161). Bài
viết của tác giả trình bày các nội dung: 1. Sự phát triển khái niệm tri thức bản
địa; 2. Mối quan hệ giữa tri thức bản địa và khoa học.
2.2. Về người Thái
Cho đến nay có nhiều nhà khoa học quan tâm và có nhiều công trình
nghiên cứu về người Thái đã được xuất bản. Trong phạm vi của đề tài luận
án, kể các tác giả và những công trình nghiên cứu sau:
R. Robert: “Notes sur les Tày dèng de Lang Chánh (Thanh Hóa - An
nam)” (264). Nội dung của cuốn sách trình bày: 1. Điều kiện địa lý; 2. Hoàn
cảnh xã hội và vật chất; 3. Thần thánh ma quỷ; 4. Những trường hợp chính
của cuộc sống; 5. Các thầy mo; 6. Tín ngưỡng và các loại lễ; 7. Tinh thần
nhân dân; Phần cuối của cuốn sách là phụ lục về bản đồ, hình vẽ, truyền
thuyết, bảng thống kê… Cuốn sách là một nguồn tư liệu quý, một tài liệu
tham khảo có giá trị khi nghiên cứu về người Thái ở miền núi Thanh Hóa nói
riêng, ở khu vực Bắc Trung bộ nói chung.

10
Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên): “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc
Thái” (240). Nội dung của cuốn sách trình bày: 1. Truyện kể bản mường; 2.
Lai lịch dòng họ Hà Công, Lệ mường và luật mường; Phần cuối của cuốn
sách là phụ lục được lập rất công phu, chú thích về địa danh, những khái niệm

trình bày về lệ mường, truyện cổ, tục ngữ…
Hoàng Anh Nhân (chủ biên): “Văn hóa truyền thống mường Ca Da”
(139). Nội dung của cuốn sách trình bày: 1. Truyền thuyết và cổ tích; 2.
Truyện thơ, trường ca, trò diễn, dân ca; 3. Một số luật lệ… của người Thái ở
mường Ca Da (nay thuôc huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa).
Trong các kỷ yếu/sách (229, 230, 231, 247) của 5 Hội thảo khoa học
về Thái học có nhiều bài viết của nhiều tác giả cũng có đề cập đến các khía
cạnh khác nhau về tri thức bản địa của người Thái.
Cầm Trọng - Phan Hữu Dật: “Văn hóa Thái Việt Nam” (224). Nội
dung của cuốn sách trình bày: 1. Văn hóa của người Thái ở Việt Nam; 2. Văn
hóa Thái trong cội nguồn Việt Nam và Đông Nam á; 3. Văn hóa Thái - một
loại hình văn hóa thung lũng; 4. Văn hóa Thái - một loại hình văn hóa kỹ
thuật tiền công nghiệp; 5. Văn hóa thiết chế xã hội; 6. Hệ thống tư tưởng và
tri thức; 7. Mối quan hệ giữa văn hóa Thái với văn hóa các dân tộc nói ngôn
ngữ Môn - Khơ me ở Tây Bắc và một số dân tộc ở miền Bắc Việt Nam. Có
thể nói đây là một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc, trình bày văn
hóa của người Thái. Cuốn sách là một nguồn tư liệu quý, một tài liệu tham
khảo có giá trị khi nghiên cứu về văn hóa của người Thái ở Tây Bắc.
Vi Văn An: “Thiết chế xã hội truyền thống của người Thái ở miền Tây
Nghệ An” (4). Đây là luận án Tiến sĩ Sử học, chuyên ngành Dân tộc học, nội
dung chính của luận án trình bày: 1. Người Thái ở Nghệ An; 2. Quan hệ xã
hội; 3. Chế độ ruộng đất; 4. Tổ chức hành chính và bộ máy quản lý bản
mường; 5. Sự biến đổi của thiết chế xã hội bản mường

12
Ngô Đức Thịnh - Cầm Trọng: “Luật tục của người Thái ở Việt Nam”
(199). Nội dung của cuốn sách trình bày: 1. Người Thái và luật tục Thái; 2.
Các văn bản Luật tục Thái ở Tây Bắc. Cuốn sách là một nguồn tư liệu quý,
một tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu phương thức tổ chức và quản
lý xã hội của người Thái.

ngưỡng dân gian trong đời sống của người Thái…
Hoàng Thị ánh: Tìm hiểu tục lệ cưới xin của người Thái ở xã Xuân Lẹ,
huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” (15). Đây là luận văn cử nhân chuyên
ngành dân tộc học, nội dung chính của luận văn trình bày về quan niệm và các
nghi lễ trong hôn nhân của người Thái…
Khổng Minh Hằng: “Tìm hiểu tri thức về bảo vệ môi trường của người
Thái ở xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” (90). Đây là luận
văn cử nhân chuyên ngành dân tộc học, nội dung chính của luận văn trình bày
quan niệm về môi trường và các tri thức tộc người trong bảo vệ môi trường
của người Thái.
Vũ Phương Nga: “Các phong tục tập quán về sinh đẻ và nuôi con cái
của người Thái ở xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” (146).
Đây là luận văn cử nhân chuyên ngành dân tộc học, nội dung chính của luận
văn trình bày về các phong tục tập quán về sinh đẻ và nuôi con cái của người
Thái.
Cao Văn Thanh (chủ biên): “Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền
thống của người Thái vùng núi Bắc Trung bộ hiện nay” (179). Nội dung của
cuốn sách trình bày: 1. Giới thiệu về người Thái và văn hóa truyền thống của
người Thái; 2. Thực trạng văn hóa truyền thống của người Thái; 3. Bảo tồn và
phát huy truyền thống của người Thái…
Vi Văn Biên: “Văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ
An” (16). Nội dung của cuốn sách trình bày: 1. Khái quát về tộc người Thái ở
Thanh Hóa và Nghệ An; 2. Văn hóa ẩm thực; 3. Làng bản - nhà cửa; 4. Trang

14
phục; 5. Công cụ lao động và phương tiện vận chuyển; 6. Đôi nét về văn hóa
vật chất của người Thái ở Bắc Trung Bộ và người Thái ở Tây Bắc…
Ngoài ra, trên các Tạp chí khoa học như: Nghiên cứu lịch sử, Dân tộc
học, Văn hóa dân gian, Nghiên cứu Đông Nam á, Văn hóa nghệ thuật, Nguồn
sáng dân gian, Dân tộc và thời đại… cũng đã đăng tải nhiều bài viết về kinh

người Thái dưới góc nhìn bản sắc văn hóa tộc người.
3.3. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của tri
thức bản địa của người Thái trong giai đoạn hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa bao gồm rất
nhiều lĩnh vực, trong phạm vi của luận án, tôi nghiên cứu những tri thức bản
địa trong sản xuất nông nghiệp (tôi chỉ đề cập tới những tri thức trong trồng
trọt, mà chưa đề cập tới những tri thức trong chăn nuôi, hái lượm, thủ công
nghiệp) và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; tri thức bản địa về y học dân gian
và chăm sóc sức khỏe; tri thức bản địa trong tổ chức và quản lý xã hội.
Luận án tiến hành nghiên cứu diện tại nhiều xã có người Thái cư trú ở
miền núi Thanh Hoá và nghiên cứu điểm là hai xã Yên Khương (huyện Lang
Chánh) và Xuân Lẹ (huyện Thường Xuân).
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận án này, tôi đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Trên nền tảng lý luận đó, sử
dụng phương pháp điền dã Dân tộc học là điền dã, ghi chép, chụp ảnh, phỏng
vấn, thảo luận nhóm… Trong chừng mực nào đó, chúng tôi còn áp dụng một
số phương pháp như: phương pháp nghiên cứu tham dự (PR: Participating
Research), phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân
(PRA: Participatory Rural Appraisal)… Khi áp dụng PRA, chúng tôi thực
hiện các yêu cầu:
- Thái độ làm việc: Tự nguyện, kiên nhẫn ngồi lắng nghe để người dân
được trình bày những điều họ làm hoặc cách thức mà họ lựa chọn, để từ đó
hiểu được tại sao họ lại làm như vậy.

16
- Hình thức làm việc: Đa dạng, đơn giản, cụ thể để người dân có thể
trình bày những tri thức của họ một cách dễ dàng và đầy đủ.
- Đánh giá: Dùng những thông tin nhìn thấy được, công khai các

Chương I. Tổng quan về địa bàn, tộc người và vấn đề nghiên cứu.
Chương II. Tri thức bản địa trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Chương III. Tri thức bản địa về y học dân gian và chăm sóc sức khoẻ
cộng đồng.
Chương IV. Tri thức bản địa trong tổ chức và quản lý xã hội.

18
Chương 1
Tổng quan về địa bàn, tộc người và vấn đề nghiên cứu

1.1. Khái quát về địa bàn miền núi Thanh Hóa
Miền núi Thanh Hóa là một khu vực rộng lớn với diện tích 7.893 km
2

(chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh), có địa thế núi non hiểm trở với hệ thống bắc
sông Mã là núi đá vôi tiếp nối của dãy Hoàng Liên Sơn và kết thúc bằng dãy
Tam Điệp, có độ cao giảm dần từ 1.500 mét đến 100 mét, đỉnh cao nhất là Bù
Luông (1.667 m) thuộc địa giới 2 xã Thanh Sơn (huyện Bá Thước) và Phú
Xuân (huyện Quan Hóa); hệ thống nam sông Mã gồm các dãy phiến thạch,
grannít chạy từ Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Thường Xuân sang Như
Xuân… có độ cao trên dưới 1000 mét, đỉnh cao nhất là Bù Chó (1.122 m)
thuộc xã Xuân Mỹ (huyện Thường Xuân). Nếu xét dưới góc độ sinh thái thì
đây cũng là khu vực của vùng rừng mưa nhiệt đới với hệ sinh thái phổ tạp. Vì
vậy, thảm thực vật và quần động vật ở đây rất phong phú, tạo điều kiện cho
cuộc sống định cư với sự xuất hiện sớm của nghề nông, đặc biệt là ở các thung
lũng đầu nguồn hoặc phụ lưu các sông lớn như mường Ca Da (huyện Quan
Hóa), mường Khoòng, mường ống (huyện Bá Thước), mường Đèng (huyện
Lang Chánh), mường Chiếng Ván (huyện Thường Xuân).
Miền núi Thanh Hóa có hai hệ thống sông chính là sông Mã và sông

cũng là khu vực giữ vị thế quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh
- quốc phòng, giữ gìn môi trường sinh thái, bảo đảm sự ổn định, phát triển
không chỉ riêng cho vùng mà còn cho cả tỉnh; là vùng giàu tiềm năng, có
nhiều thế mạnh: đất đai phát triển nông nghiệp, nghề rừng, khoáng sản, thuỷ
điện, thương mại cửa khẩu, du lịch…
1.2. Người Thái ở miền núi Thanh Hoá
Theo tổng điều tra dân số ngày 1 - 4 - 1999, miền núi Thanh Hoá có
các tộc người thiểu số là Mường, Thái, Thổ, Hmông, Dao, Khơ mú cư trú.
Dân số của tộc Thái là 210.908 người, cư trú tập trung ở 8 huyện miền núi và
một số xã miền núi, trung du của các huyện đồng bằng.
Bảng 1.1: Dân số các tộc người thiểu số ở miền núi Thanh Hóa
TT
Huyện
Dân tộc
Mường
Thái
Thổ
Hmông
Dao
Khơ mú
1
Mường Lát
681
13.621

11.562
546
607

20
6
Ngọc Lạc
83.927
246 1.246

7
Thường Xuân
3.075
47.496
10
2
1

8
Như Xuân
3.568
22.505
9.251
9
Như Thanh
17.259
12.204

4.563
4.510

14
Thọ Xuân
8.485
407
5
15
Hà Trung
1.774 16
Yên Định
1.190
5


Trung Quốc những thành tựu văn hóa truyền thống của mình {241, tr 17}.
Cuộc thiên di lớn thứ hai của tổ tiên người Thái diễn ra bắt đầu vào
cuối thiên niên kỷ I sau Công nguyên cùng sự lớn mạnh của nhà nước Nam
Chiếu, Đại Lý và phát triển kéo dài suốt những thế kỷ XII - XIII - XIV, kết
thúc vào thế kỷ XV, nhờ sự suy yếu của những nhà nước Môn - Khơ me tại
Đông Dương và sự suy yếu hay thất bại trước quân Mông - Nguyên của
những nhà nước Tạng - Miến. Kết quả là một loạt quốc gia Thái được thiết
lập ở Tây Đông Dương, thay thế các quốc gia Môn - Khơ me ở vùng Lào,
Thái Lan…
Chiếm lĩnh Tây Bắc, các lãnh chúa Thái thần phục triều đình phong
kiến Việt Nam (Lý, Trần, Lê sơ…) và được phép cai quản các lãnh địa cát cứ
của mình. Mỗi vùng thường có một mường trung tâm và các mường phụ
thuộc do một lãnh chúa lớn, là bồi thần trực tiếp của triều đình trung ương
đứng đầu. Đến đời Lý Thánh Tông, ảnh hưởng của nhà Lý đối với vùng này
đã rất lớn: “năm 1067, vào tháng 2 mùa xuân, Ngưu Hống (có thể phiên âm từ
Ngu Háu (Rắn Hổ mang - biểu tượng của người Thái đen) và Ai Lao đều vào
triều cống. Lễ vật gồm có vàng, bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi…” {46, tr
247}.
Cộng đồng người Thái ở Việt Nam có sự phân chia thành hai ngành
Thái trắng (Tay khao) và Thái đen (Tay đăm) rất độc đáo mà không thấy có ở
các nhóm Tai khác của miền Nam Trung Quốc một số quốc gia ở khu vực
Đông Nam á lục địa.
ở miền núi Thanh Hóa, người Thái có hai nhóm tự gọi là Tày và Tày
Dọ. Nhóm tự gọi là Tày phân bố chủ yếu ở các huyện Quan Hoá, Quan Sơn,
Mường Lát, Bá Thước, Lang Chánh…; nhóm tự gọi là Tày Dọ tập trung chủ

22
yếu ở các huyện Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh. PGS - TS Lê Sỹ Giáo
cho rằng “Danh xưng Tày Dọ có thể có mối liên hệ với các địa danh Mường
Xo (Lai Châu), Mường Do (Vân Nam - Trung Quốc) xưa kia” {74, tr 41}. TS

đến vùng mường ẹt, mường Xòn. Một bộ phận khác ở Mường Xăm, Mường
Pua, Xiềng Khọ, Mường Xòn lại nói tổ tiên họ vốn từ mường Ca Da (Quan
Hóa - Thanh Hóa) chạy giặc sang Lào.
Người Thay Đeng (Thái Đỏ) ở mường ó, huyện Hủa Mương cho biết
nguồn gốc của họ ở Việt Nam sang. Theo họ một số từ mường Ca Da (Quan
Hóa - Thanh Hóa) đầu tiên đến vùng Xiêng Men, sau đó đi vào mường ó.
Người Thay Đeng (Thái Đỏ) ở Sốp Hao huyện Xiêng Khọ lại có nguồn gốc từ
mường Khoòng (Bá Thước - Thanh Hóa), mường Ca Da (Quan Hóa - Thanh
Hóa) và mường Mun (Mai Châu - Hòa Bình) đến.
Nói hầu hết người Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn đều là người Thái ở Việt
Nam di chuyển sang, nhưng trong qúa trình thiên di của tộc người này đã có
một bộ phận theo con đường ngược lại. PGS - TS Lê Sỹ Giáo cho biết:
ở mường Ca Da (nay là đất các xã Hồi Xuân, Phú Nghiêm… huyện
Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa), dòng họ quý tộc Lò Khăm cũng có nguồn
gốc từ mường Bua, mường Xà của đất Lào thiên cư đến. Dòng họ này
khi cúng người chết đều đưa linh hồn về Lào. Đặc biệt hơn, xưa kia
trong dịp Tết Nguyên đán dòng họ Lò Khăm vẫn phải cho người con
dâu cả ăn mặc, búi tóc theo kiểu người Lào. Phạm vi bảo lưu tập tục ở
đây tuy chỉ còn ở người con dâu đầu nhưng nó lại là chi tiết rất lý thú
nhắc nhở về nguồn gốc của một dòng họ lớn ở vùng này {75, tr 34}.
Người Thái ở mường Khoòng, cụ thể là dòng họ Hà Công đã từ Mai
Châu (Hòa Bình) di cư vào đã được 5 - 6 đời. Người Thái các vùng trên đều
thừa nhận tổ tiên chung với Thái - Mai Đà (Mai Châu, Đà Bắc), thường hay đi
đám ma, nhận họ hàng ở Hòa Bình.
Người Thái ở mường Chiếng Ván (nay là đất các xã Vạn Xuân, Xuân
Chinh, Xuân Lẹ… của huyện Thường Xuân), cụ thể là dòng họ Cầm Bá đã từ
Lai Châu di cư vào ở rể cho một chi họ chuyên về tế lễ đền từ (gọi là chi ông
Đăm; còn một chi nữa chuyên lo lễ nghi thờ trời gọi là ông Mường) đã sống ở

24

Đối với người Thái ở miền núi Thanh Hóa (và cả miền núi Nghệ An),
sự phân biệt Thái trắng, Thái đen không rõ ràng như ở Tây Bắc. Do vậy, việc
xác định nhóm Thái nào ở Thanh Hóa và Nghệ An tương đồng với Thái trắng
và nhóm Thái nào tương đồng với Thái đen ở Tây Bắc là một việc làm cần
thiết và có ý nghĩa khoa học. Có hai ý kiến khác nhau về vấn đề này:
1. PGS - TS Lê Sỹ Giáo cho rằng:
Bộ phận tự nhận là Tày Dọ ở Thanh Hóa và Tày Mường ở Nghệ An chỉ
là một và bộ phận này tương đồng Thái trắng ở Tây Bắc; các nhóm
Tày, Tày Mường ở Thanh Hóa và Tày Thanh, Tày Mười ở Nghệ An
tương đồng Thái đen ở Tây Bắc {82, tr 25}.
2. TS Vi Văn An cho rằng:
Mặc dù tự nhận là Thái đen nhưng các nhóm địa phương có tên gọi Tày
Thanh, Man Thanh, Tày Mười, Tày Khăng thuộc nhóm Tày Nhại ở
Nghệ An lại có những nét tương đồng với người Thái trắng Tây Bắc, vì
thế, chúng tôi xếp họ vào nhóm Thái trắng. Trái lại, mặc dù tự nhận là
Thái trắng, nhưng các nhóm địa phương Thái có tên gọi Tày Mường,
Tày Xiềng, Hàng Tổng thuộc nhóm Tày Dọ lại có những nét tương đồng
với người Thái đen ở Tây Bắc, vì thế, chúng tôi xếp họ vào nhóm Thái
đen {7, tr 34 - 35}.
1.2.2. Các đặc điểm về kinh tế
Cũng giống như những người đồng tộc của mình ở Tây Bắc, người
Thái ở miền núi Thanh Hoá là những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước vùng
thung lũng, nên đặc trung cơ bản của người Thái là những cư dân thung lũng
và nền văn hóa Thái, dưới góc độ địa - văn hoá, có thể gọi là văn hóa thung
lũng. Trong sản xuất nông nghiệp, tuy người Thái đã biết sử dụng cày nhưng
phương thức canh tác cơ bản vẫn là dùng trâu quần ruộng. Bên cạnh đó, hệ
thống thuỷ lợi “làm thay đổi dòng chảy”: Mương, Phai, Lốc, Cọn được xây
dựng và sử dụng từ lâu đời. Hệ thống thuỷ lợi theo phương pháp thủ công này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status