VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THANH XUÂN
TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MNÔNG Ở HUYỆN LẮK
TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN
TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN
Hà Nội - 2019
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ....................................................... 10
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................................ 10
1.2. Cơ sở lý thuyết ................................................................................................... 23
1.3. Khái quát địa bàn nghiên cứu ............................................................................ 37
Chương 2: TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MNÔNG Ở HUYỆN LẮK,
TỈNH ĐẮK LẮK TRONG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG ................. 50
2.1. Nhận thức luận/Thế giới quan của người Mnông về tự nhiên ........................... 50
2.2. Luật tục với việc quản lý xã hội và bảo vệ đất rừng .......................................... 55
2.3. Kỹ thuật canh tác phù hợp với môi trường sinh thái ......................................... 80
2.4. Nghi lễ củng cố niềm tin, sự tôn trọng đối với tự nhiên .................................... 85
Chương 3: TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MNÔNG Ở HUYỆN LẮK,
TỈNH ĐẮK LẮK TRONG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NƯỚC .......................... 96
3.1. Vai trò của nước trong đời sống của người Mnông ........................................... 96
Pl: Phụ lục
PTBV: Phát triển bền vững
QLBVR: Quản lý bảo vệ rừng
Sđd: Sách đã dẫn
TW: Trung ương
UBND: Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Phân loại đất trong canh tác lúa rẫy ................................................ 65
Bảng 2.2: Một số loại cây, lá chữa bệnh (nhóm Gar ở xã Krông Nô) ............. 72
Bảng 2.3: Một số loại cây, lá chữa bệnh (nhóm Rlâm ở buôn Lê) .................. 72
Bảng 2.4: Một số loại cây, lá chữa bệnh (nhóm Gar ở bon Ji Yôk) ................ 73
Bảng 4.1: Mục đích khai thác lâm sản của người Mnông ............................. 124
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Lắk tọa lạc phía Đông Nam của tỉnh Đắk Lắk, vốn là vùng đất được
thiên nhiên ưu đãi khi ban tặng dãy núi Chư Yang Sin, rừng Nam Ka hùng vĩ, hồ
Lắk thơ mộng như tấm gương lớn cho những ngọn núi duyên dáng nghiêng mình
soi bóng. Từ chính không gian hiền hòa và thơ mộng ấy, người Mnông đã tích lũy
cho mình tri thức về môi trường sinh thái mang đặc trưng văn hóa tộc người. Chính
nhờ tri thức ấy mà rừng đầu nguồn được bảo vệ, quan hệ cộng đồng được cố kết,
các thực hành văn hóa luôn hướng đến việc đảm bảo cho sự phát triển bền vững của
cộng đồng “chỉ lấy từ rừng đủ dùng, không hề lãng phí” [45].
Người Mnông là một trong những dân tộc sinh sống lâu đời trên Cao nguyên
Đắk Lắk. “Chúng tôi ăn rừng” là cách mà người Mnông nói về hoạt động canh tác
lúa rẫy của mình. Không phải ngẫu nhiên mà người Mnông chọn động từ “ăn” để
nói về cách mà họ canh tác trên các khoảnh rừng, cách mà họ lấy các sản vật từ
nguyên thiên nhiên qua luật tục, sưu tầm, tìm hiểu phong tục tập quán, sưu tầm luật
tục, văn học dân gian…Thế giới nhận thức luận chưa được quan tâm đúng mức,
trong khi chính thế giới quan là yếu tố có sự ảnh hưởng, chi phối toàn bộ các thực
hành văn hóa của cộng đồng. Chính vì cách tiếp cận tri thức bản địa như trên, các
nhà nghiên cứu ở Việt Nam ít quan tâm đến mối tương tác giữa yếu tố kỹ thuật và
phi kỹ thuật hay nói cách khác ít quan tâm mối quan hệ giữa tri thức bản địa và các
thành tố khác của văn hóa. Thậm chí, vẫn còn những nghiên cứu xem tri thức bản
địa là những phong tục tập quán lạc hậu cần loại bỏ…chính cách hiểu về tri thức
bản địa như trên đã bỏ qua việc nhìn nhận tri thức này trong mối quan hệ qua lại với
thế giới quan, vũ trụ quan, với vấn đề tâm linh, tín ngưỡng, dẫn đến việc xây dựng
một số chính sách về văn hóa, về phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc
thiểu số chưa chú ý đến vai trò của tri thức bản địa trong đời sống văn hóa của cộng
đồng. Trong khi các nhà nhân học hiện nay xem “tri thức bản địa cần phải được
hiểu như một hệ thống hoặc thế giới quan hoàn chỉnh gồm cả hiểu biết về tôn giáo,
tín ngưỡng, lễ nghi và các khía cạnh của tri thức bản địa” [70, tr.1].
Qua nghiên cứu tri thức bản địa của người Mnông về quản lý các nguồn tài
nguyên đất, rừng và nguồn nước, luận án sẽ tìm hiểu cách mà người Mnông sử dụng
vũ trụ quan của sự hòa hợp nhằm thể hiện sự tôn trọng tự nhiên, tôn trọng thần linh
như thế nào? Trong luận án này, tri thức bản địa sẽ được nhìn nhận trong mối liên
hệ với bối cảnh văn hóa của người Mnông nói chung và trong sự mai một của hệ
thống tri thức này nói riêng; bổ khuyết cách hiểu, cách tiếp cận tri thức bản địa còn
nhiều khoảng trống ở Việt Nam. Trên cơ sở nhìn nhận tri thức bản địa là một chỉnh
thể nguyên hợp, không tách rời các thành tố cấu thành tri thức này, không tách rời
yếu tố kỹ thuật và phi kỹ thuật, quan tâm đến cơ sở hình thành của tri thức bản địa,
tìm hiểu tác động của nhận thức luận đến sinh kế bền vững của tộc người Mnông.
Tìm hiểu hệ thống tri thức bản địa của người Mnông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk
2
tập trung nghiên cứu sâu tri thức bản địa trong quản lý và sử dụng tài nguyên thiên
nhiên bao gồm đất rừng, nguồn nước trên các khía cạnh: xem xét sự phù hợp của kỹ
thuật canh tác với môi trường sinh thái; tập trung nhìn nhận cách quản lý, phân phối
3
tài nguyên qua các thiết chế (luật tục, kiêng kị) với vai trò là bà đỡ cho việc bảo vệ
tài nguyên. Đề tài đặc biệt quan tâm đến nhận thức luận của người Mnông đối với
tài nguyên thiên nhiên thông qua thế giới quan, tín ngưỡng và nghi lễ. Trên cơ sở
đó, chúng tôi xem xét những nguyên nhân, các chiều tác động làm biến đổi tri thức
bản địa. Đặc biệt quan tâm đến chiều tác động của chính sách nhà nước đối với
truyền thống quản lý tài nguyên đất rừng và nguồn nước, nên các văn bản của nhà
nước cũng được tiếp cận giới hạn trong phạm vi những nội dung liên quan đến
quyền sở hữu và quản lý tài nguyên.
3.3. Phạm vi địa bàn nghiên cứu
Huyện Lắk của tỉnh Đắk Lắk là địa bàn khảo sát chính của chúng tôi vì đây
là nơi sinh sống lâu đời của người Mnông với dân số chiếm 63 % dân số toàn
huyện. Nơi đây có địa hình cảnh quan đồi núi xen lẫn các vùng trũng tạo nên sự đa
dạng về địa hình, do đó tri thức bản địa của các nhóm Mnông cũng chịu ảnh hưởng
của môi trường sinh thái nên có những đặc trưng khác nhau. Nhóm Gar cư trú trên
núi cao nổi tiếng với việc “ăn rừng”, nhóm Rlâm cư trú tại các vùng trũng lại thuần
thục với việc sử dụng đàn trâu vào canh tác lúa nước. Hiện nay, không gian xã hội
của người Mnông đã bị tác động, thay đổi khá nhiều, rừng không còn là không gian
bao chiếm, diện tích ruộng lúa bị thu hẹp do tăng dân số và bố trí dân cư xen cài, sự
tiếp nhận kỹ thuật canh tác mới, các thiết chế văn hóa, xã hội thay đổi, du lịch trở
thành nguồn thu nhập cho một bộ phận người dân, sự tác động của chính sách đối
với tài nguyên, sự thâm nhập sâu của các tôn giáo mới…đã làm thay đổi tập quán
ứng xử của người Mnông đối với tài nguyên cũng như việc bảo lưu các yếu tố văn
hóa truyền thống. Trước bối cảnh không ngừng thay đổi và nhiều chiều tác động đối
phát triển xã hội tộc người; nghĩa là các tri thức bản địa đã và đang tồn tại trong
nhận thức của cộng đồng người Mnông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
Phạm vi thời gian được trình bày làm hai giai đoạn, từ 1945 đến 1985 và từ
1986 đến nay. Vì từ 1945, ngoài sự ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc chiến tranh chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (chất độc hóa học làm ô nhiễm nguồn nước, tàn phá
rừng, dồn dân lập đồn điền, lập ấp chiến lược…) thì về cơ bản, quyền sở hữu tài
nguyên vẫn thuộc về cộng đồng, nhóm họ, các cá nhân tiến hành khai thác, sử dụng
tài nguyên theo sự phân phối của những người được cộng đồng tôn phong trong
làng, trong rừng. Người Mnông vẫn duy trì tập quán canh tác lúa rẫy và lúa nước
theo đúng truyền thống. Diện tích rừng và độ che phủ rừng đảm bảo cho cộng đồng
thực hiện quyền sở hữu và canh tác theo lối luân khoảnh khép kín. Ở giai đoạn này,
chúng tôi tập trung vào việc nhận diện những đặc trưng của tri thức bản địa của
người Mnông trong quản lý và sử dụng tài nguyên đất rừng và nguồn nước theo
truyền thống. Giai đoạn từ 1986 đến nay, Đảng, Nhà nước đã triển khai các chương
trình phát triển kinh tế-xã hội miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên. Ở huyện Lắk, các nông lâm trường, hợp tác xã nông nghiệp được thành
lập, diện tích đất khai hoang được mở rộng đã hình thành nên cánh đồng lúa buôn
5
Tría, buôn Triết rộng lớn; chủ trương di dân từ các tỉnh đồng bằng và duyên hải
miền Trung lên phát triển kinh tế đã đặt ra yêu cầu phân bố lại địa bàn cư trú của
người Mnông trên cơ sở vận động bà con bỏ tập quán du canh du cư, hình thành các
bon làng định canh, định cư dọc các con đường quốc lộ và nội huyện. Bên cạnh đó,
sự tác động của nền kinh tế thị trường và nhiều yếu tố khác (tôn giáo, giao lưu văn
hóa, phương tiện truyền thông, khoa học kỹ thuật…) đã tác động trực tiếp và mạnh
mẽ đến nguồn tài nguyên, đây có thể xem là giai đoạn đánh dấu nhiều sự thay đổi
trong quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của người Mnông.
4. Phương pháp nghiên cứu
từ 18 đến 40 tuổi) để thu thập thông tin về văn hóa truyền thống, về tri thức bản địa,
về lịch sử và quá trình phát triển của cộng đồng làng. Trên cơ sở cách tiếp cận lịch
đại, tác giả sẽ liệt kê, mô tả quá trình hình thành huyện Lắk, nguồn gốc về người
Mnông, điều kiện tự nhiên, bối cảnh văn hóa xã hội (các quy định về quản lý và sử
dụng tài nguyên đất rừng và nguồn nước, sinh kế truyền thống, tổ chức kinh tế xã hội,
sự thay đổi về quan niệm, cách thực hành văn hóa cũng như các chiều tác động đối với
văn hóa và tri thức bản địa về quản lý và sử dụng đất rừng và nguồn nước)…
Tri thức bản địa là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn liền
với văn hóa của cộng đồng, do vậy, nhận thức, lý giải tri thức bản địa phải gắn liền
với môi trường hình thành tri thức ấy. Áp dụng phương pháp “chân trần trong bùn”
của Jacques Dournes trong nghiên cứu văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên,
tác giả luận án sử dụng triệt để phương pháp quan sát, chụp ảnh cộng đồng làng,
cùng tham dự các sinh hoạt, các nghi lễ, thực hành canh tác… nhằm tái hiện các dữ
liệu trong phần trình bày nội dung chương 2 và chương 3 của luận án. Với lợi thế,
tác giả luận án là người Mnông nên trong quá trình sinh sống cũng như trong quá
trình điền dã đã có dịp quan sát, tham dự, chụp ảnh nhiều hoạt động trong phạm vi
gia đình và cộng đồng làng. Đây là những tư liệu sinh động, giúp cho tư liệu của
luận án có độ tin cậy cao, hạn chế tối đa ảnh hưởng bởi sự có mặt của người ngoài
cộng đồng trong quá trình thu thập dữ liệu.
Phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh đồng đại và lịch đại trong khoa học
xã hội cũng được thực hiện để nhìn nhận các số liệu, sự kiện trong mối quan hệ vốn
có với nhau theo thời gian và không gian để đảm bảo những phân tích đánh giá
trong luận án là khách quan và trung thực.
Phương pháp so sánh và phương pháp tổng hợp nhằm làm rõ đặc trưng của tri
thức bản địa của người Mnông với tri thức bản địa các tộc người khác trong khu vực.
Phương pháp liên ngành là sự kết hợp giữa nghiên cứu dân tộc học, văn hoá
học với phương pháp của ngành lịch sử, tôn giáo học và xã hội học. Bởi vì, văn hóa
dân gian Việt Nam nói chung là tổng thể mọi sáng tạo nên không có cách nào hiệu
quả hơn là cách tiếp cận liên ngành, từ ngả đường lịch đại và đồng đại-nghĩa là cả
về diễn trình lịch sử và cấu trúc [142, tr.575-577].
nhận thức luận đóng vai trò quyết định, chi phối hành vi ứng xử giữa con người với
tự nhiên.
Bổ sung các luận điểm khẳng định vai trò, giá trị của tri thức bản địa trong
quản lý và sử dụng đất rừng và nguồn nước, là cơ sở để cộng đồng và các cơ quan
quản lý nhà nước quản lý và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững, góp phần bảo
tồn và phát huy các giá trị của văn hóa dân gian. Nghiên cứu còn góp phần khẳng
định sự phù hợp của cách tiếp cận tài nguyên thiên nhiên dựa trên nguyên tắc có sự
8
tham gia của cộng đồng, kết hợp giữa tri thức bản địa và tri thức khoa học trong
phát triển bền vững.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án chỉ ra những vấn đề cần tập trung chú ý đối với tri thức bản địa như:
những biểu hiện của tri thức bản địa về quản lý và sử dụng đất rừng và nguồn nước
thông qua các nguyên tắc xác định ranh giới đất rừng và nguồn nước, cử người phân
phối tài nguyên, việc điều hòa nhu cầu sử dụng tài nguyên, quan niệm, tín ngưỡng,
nghi lễ, luật tục, kiêng kị, sáng tạo văn nghệ dân gian...
Cung cấp cơ sở cho việc phân tích, đánh giá hệ thống chính sách liên quan
đến việc quản lý và bảo vệ tài nguyên, qua đó chỉ ra hạn chế của việc xây dựng một
số chính sách đã bỏ qua sự tham vấn ý kiến của người dân địa phương, chưa xem
xét, tôn trọng và vận dụng hợp lý các khía cạnh của tri thức bản địa vào việc quản
trị tài nguyên ở cấp cộng đồng. Chính điều này đã dẫn tới sự xung đột giữa chính
sách của nhà nước với truyền thống quản lý tài nguyên của cộng đồng, giữa cơ quan
quản lý nhà nước ở địa phương và người dân; giữa người dân thuộc các cộng đồng
khác nhau.
Luận án cũng góp phần làm giàu các nghiên cứu vận dụng tri thức tộc người
vào việc xây dựng chuẩn mực hành vi của cộng đồng và cả xã hội trước thực trạng ô
nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên nghiêm trọng như hiện nay.
gian. Về mặt phương pháp luận, tri thức khoa học vẫn tiếp tục tận dụng những tri
thức dân gian có tính thực tiễn [Sđd, tr.9]. Trong suốt thế kỷ 17, 18, tri thức khoa
học của thế giới tự nhiên được tạo ra, tiếp tục tiếp thu những tri thức dân gian địa
phương tồn tại trước đó. Một phần tri thức dân gian còn sót lại vào cuối thế kỷ 20
trở thành đối tượng của việc phục hưng hóa. Phần còn lại tiếp tục tồn tại như những
tri thức ẩn cần thiết cho việc tạo ra những cuốn sách và lý thuyết và tiếp tục thể hiện
sự gắn kết thực tiễn của những người thợ thường dân, “tri thức dân gian đã bị hệ
thống hóa thành tri thức khoa học” [Sđd, tr.10].
Những năm1960-1970 của thế kỷ XX, tri thức bản địa bị xem nhẹ, bị bỏ qua
và đánh giá thấp. Tri thức bản địa không chỉ bị đánh giá thấp bởi những nhà quản lý
có trình độ được đào tạo theo phương Tây về những tiềm năng ứng dụng thực tiễn
của nó. Thậm chí, khi tri thức bản địa được dùng hiển nhiên, thì công lao của những
người đưa nó đến với khoa học vẫn bị lờ đi [Sđd, tr.16]. Mặc dù tri thức bản địa bị
ngoài lề hóa như trên nhưng ngay từ giữa thế kỷ 19, quá trình này bị xem xét lại.
Nguyên nhân tri thức bản địa được xem xét lại là do sự bất lực của khoa học và
công nghệ phương Tây trong giải thích thế giới tự nhiên, trong khi người dân bản
địa lại sống hài hòa với thế giới tự nhiên, họ được xem như những nhà sinh thái học
10
thực sự với những hiểu biết sâu sắc về môi trường, những quan niệm, niềm tin và
cách bảo vệ nguồn tài nguyên [Sđd, tr.17]. Tuy nhiên, sự nóng lòng của các nhà
nhân học và các chuyên gia phát triển muốn giúp tri thức bản địa được chấp nhận đã
đẩy tri thức bản địa đến chỗ giải bối cảnh mà ở đó tri thức được hình thành và gắn
chặt, bị biến thành “giải pháp hóa toàn cầu và khái quát hóa”, tri thức bản địa bị mã
hóa và lưu giữ, phổ biến như tri thức khoa học; bị đẩy xa hơn, tri thức bản địa trở
thành một khái niệm vụ lợi và phi cá nhân, cụ thể và bối cảnh [Sđd, tr.26-28].
Ở Châu Âu và Bắc Mỹ, trong những năm gần đây có rất nhiều bài viết mang
tính học thuật về tri thức bản địa. Những nghiên cứu này tập trung vào các khía
loại và dân tộc học thực vật” đã góp phần nhìn nhận tri thức bản địa là một hệ thống
tri thức quy mô, tổng thể, có thể kể đến các nghiên cứu của Mokuku, Berkes và các
cộng sự, Stave và các cộng sự, Bollig và Schulte [dẫn theo 71, tr.6].
Qua các nghiên cứu trên, tình hình nghiên cứu tri thức bản địa ở nước ngoài
có nhiều quan điểm tiếp cận trái chiều, thậm chí có cả việc lạm dụng tri thức bản địa
cho mục đích chính trị hoặc phục vụ cho mục đích của các dự án phát triển kinh tế,
bảo tồn tài nguyên. Tuy nhiên, về cơ bản, hầu hết các nghiên cứu đều thừa nhận vai
trò của tri thức bản địa trong việc hình thành bản sắc văn hóa và sinh kế của cộng
đồng và đem đến cách tiếp cận mới với tri thức bản địa và đặt tri thức này trong
tổng thể, quan tâm đến vai trò của thế giới quan đối với hệ thống tri thức này.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu tri thức bản địa ở Việt Nam
1.1.2.1. Các nghiên cứu về tri thức bản địa nói chung và tri thức bản địa qua
các khía cạnh cụ thể
Ở Việt Nam, mối quan tâm, thiện cảm dành cho tri thức bản địa qua các
nghiên cứu ngày càng nhiều lên, hàng loạt hội thảo được tổ chức để khẳng định vai
trò, nêu lên tầm quan trọng của tri thức địa phương đối với vấn đề phát triển bền
vững miền núi. Trong đó, nhiều nghiên cứu nhấn mạnh tri thức bản địa như là một
nhân tố cốt lõi để đưa vấn đề phát triển bền vững tộc người đến sự thành công.
Về chủ đề này, các tác giả Nguyễn Ngọc Thanh, Đỗ Đình Sâm, Trần Hồng
Hạnh, Nguyễn Trường Giang, Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng tập trung nghiên cứu tri
thức dân gian của các dân tộc thiểu số Dao, Mông, Thái, Mường. Ngô Văn Lệ và
các tác giả [53] đề cập đến tri thức bản địa trên các khía cạnh: hoạt động kinh tế,
sinh hoạt văn hóa-xã hội và vai trò của tri thức bản địa trong đời sống tộc người
thiểu số Đông Nam Bộ. Nguyễn Diệp Mai [61] tập trung vào hệ thống tri thức bản
địa của người Việt rừng U Minh Thượng trong ứng xử với môi trường tạo sự thích
ứng tối ưu trong cuộc sống của họ.
Trần Hồng Hạnh [33] đã tiến hành hệ thống, đánh giá khái niệm tri thức địa
phương của các nhà nghiên cứu trong ngoài nước để cho thấy bức tranh của tình
trạng sử dụng chồng chéo các khái niệm tri thức “bản địa”, “truyền thống” hay “địa
phương” là khá phổ biến, nỗ lực xác định quan niệm về tri thức bản địa của các nhà
cận khác nhau về quyền sở hữu, cho phép quan tâm đến các vấn đề văn hóa-xã hội
của các nhóm đối tượng. Bùi Minh Đạo [21], [22], [23], [24] làm sáng tỏ thực trạng
tổ chức và hoạt động của buôn làng Tây Nguyên từ truyền thống đến nay đang đối
mặt với mâu thuẫn giữa sở hữu toàn dân với sở hữu tập thể buôn làng về đất rừng;
Tình trạng thiếu đất sản xuất; Mất rừng, suy giảm môi trường sống, mất nguồn sinh
kế truyền thống; Hệ thống chính trị cơ sở cấp buôn làng hoạt động kém hiệu quả;
Đứt gãy văn hóa và mai một, mất mát nhanh văn hóa; Ảnh hưởng tiêu cực đến lòng
dân Tây Nguyên và sự phát triển bền vững vùng Tây Nguyên. Mặc dù đánh giá cao
13
hiệu quả của việc quản lý và sử dụng đất rẫy của các dân tộc tại chỗ của Tây
Nguyên, nhưng tác giả cũng nhận xét những tri thức địa phương này chỉ tồn tại và
thích dụng trong điều kiện đất còn rộng, người còn thưa trước đây, còn hiện nay, tri
thức này đã mất dần dần cơ sở tồn tại và trở thành di sản do hệ quả của việc tăng
dân số tự nhiên và cơ học, do việc khai thác đất, rừng ồ ạt, do nhu cầu bảo vệ tài
nguyên và môi sinh trong điều kiện mới.
Trong những nghiên cứu tri thức bản địa của người dân tộc thiểu số, đáng
chú ý là các nghiên cứu của một số nhà nhân học, tuy không trực tiếp đề cập đến tri
thức bản địa nhưng lại quan tâm nghiên cứu sự tác động của diễn ngôn, chính sách,
tri thức đối với văn hóa, sinh kế và tập quán địa phương trong quản lý môi trường
của người dân tộc thiểu số và về miền núi Việt Nam. Nhóm tác giả cuốn sách Diễn
ngôn, chính sách và sự biến đổi văn hóa-sinh kế tộc người [10] đứng trên quan điểm
nhân học hiện đại, nhằm thể hiện sự tranh luận với các nghiên cứu tri thức bản địa
dưới quan điểm tiến hóa luận đơn tuyến, định kiến tộc người và hướng tới nghiên
cứu tri thức địa phương cần phải được hiểu như là một hệ thống hoặc thế giới quan
hoàn chỉnh. Các nền văn hóa sẽ được nghiên cứu theo chiều ngang, bằng và hướng
đến sự đa dạng và độc đáo của từng tộc người. Pamela McElwee [71] còn so sánh
giữa tri thức bản địa và tri thức khoa học để từ đó nêu lên thực trạng nghiên cứu tri
đóng góp vào việc bảo vệ khu bảo tồn nhưng lại bỏ qua nghiên cứu cụ thể về tri
thức bản địa liên quan đến sự hiểu biết, niềm tin, thần linh, nghi lễ, hoạt động
tôn giáo vốn tồn tại với môi trường và chi phối sâu sắc các thực hành của người
dân bản địa [71, tr. 13-14].
1.1.2.2. Các nghiên cứu về tri thức bản địa của các tộc người thiểu số ở Việt
Nam trong việc quản lý, sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Mặc dù nghiên cứu tri thức bản địa ngày càng tăng về số lượng và phạm vi đề
cập nhưng Pamela McElwee [71] lại nêu lên một thực trạng nghiên cứu tri thức bản
địa tại Việt Nam “bị giới hạn chủ yếu ở phương pháp tiếp cận phân loại hoặc liệt kê
danh mục và những phương pháp này không nhận ra được sự đa dạng và tính tổng
thể của tri thức bản địa”. Một trong những nghiên cứu chỉ quan tâm tiếp cận tri thức
bản địa dưới góc độ liệt kê, phân loại và giới thiệu kỹ thuật canh tác mà chúng ta có
thể kể đến đó là Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc [121], tác giả cuốn sách này dựa
vào khái niệm kiến thức kỹ thuật bản địa của Warren để giới hạn phạm vi đề cập
gồm: kiến thức về trồng trọt, chăn nuôi; kiến thức về quản lý rừng và tài nguyên
cộng đồng; kiến thức về dinh dưỡng và sức khỏe con người; kiến thức về tổ chức
cộng đồng và truyền thụ kinh nghiệm cho con cháu… không đề cập các kiến thức
văn hóa như: âm nhạc, tín ngưỡng, đạo đức… Đỗ Đình Sâm, Trần Sỹ Hải, Nguyễn
Hữu Thành cũng chỉ quan tâm nghiên cứu về các hoạt động nông nghiệp hoặc các
giải pháp kỹ thuật địa phương [71].
Một số tác giả quan tâm nghiên cứu tập quán khai thác, quản lý, sử dụng tài
nguyên của một số tộc người cụ thể như: Lò Ngọc Biện [6] Nguyễn Ngọc Thanh
15
[88]…đã mô tả cách thực hành tri thức địa phương trên phương diện kỹ thuật và
thiết chế liên quan đến việc quản lý và sử dụng tài nguyên đất, rừng và nguồn nước
của người Mường ở một số huyện của tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa. Mặc dù các tác
giả có đề cập đến nhận thức về rừng gồm có hai chức năng: nuôi sống, điều hòa môi
Qua điểm luận một số tác giả nghiên cứu chủ đề tri thức bản địa về quản lý, sử
dụng, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trên cho thấy có sự tách biệt từng
loại tài nguyên đất, rừng, nước hoặc tập trung quan tâm đến tính hữu dụng về mặt
kỹ thuật của tri thức này trong sản xuất nông nghiệp mà bỏ qua phần trình bày về
thế giới quan, vũ trụ luận. Trong khi đó, các tác giả như Rapaport, Dolmatoff,
Lansing, Janjanapan, Cầm Trọng lại chỉ ra rằng tôn giáo, nghi thức và các biểu
tượng lại chính là thực thể điều hòa mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, rằng
lực lượng siêu nhiên là một cơ chế có sức mạnh đặc biệt trong việc điều hòa mối
quan hệ nói trên [dẫn theo 9, tr.353]. Hoàng Cầm đứng trên hướng lý thuyết nhìn
nhận tôn giáo, nghi thức và các biểu tượng như là một thực thể điều hòa mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên bởi vì niềm tin tôn giáo thể hiện vũ trụ quan của các
tộc người bản địa, không phải là sự biểu lộ nỗi sợ hãi của con người trước lực lượng
siêu nhiên. Mối quan hệ khăng khít, nền tảng của vũ trụ quan sinh thái chi phối đến
thực hành của con người đối với tự nhiên, trong đó lực lượng siêu nhiên đóng vai
trò quyết định. Lối tư duy này quy định cách thức con người hành động theo hướng
chia sẻ với môi trường tự nhiên như là một phần của xã hội con người, đây là mô
hình quan trọng trong nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để đạt được sự cân bằng sinh
thái trong tương lai [9], [36], [38].
Trên đây là những công trình nghiên cứu về tri thức bản địa ở Việt Nam. Tri
thức bản địa được đề cập trên các khía cạnh, rất phong phú, đa dạng, hữu ích cho
chúng tôi trong tham khảo, tiếp tục nghiên cứu mảng vấn đề này trong luận án.
Cách tiếp cận tập trung vào tập quán khai thác và bảo vệ hiệu quả các nguồn tài
nguyên thiên nhiên của các dân tộc miền núi luôn được các tác giả quan tâm từ rất
sớm và ngày càng chiếm số lượng lớn trong các tài liệu viết về tri thức bản địa. Các
nghiên cứu trên đều khẳng định, đánh giá vai trò quan trọng của tri thức bản địa.
Tuy nhiên, đáng chú ý nhất trong số các nghiên cứu về tri thức bản địa ở Việt
Nam, đó là bàn luận của Pamela McElwee trong bài “Việt Nam có tri thức bản địa
không?” cho rằng: phần lớn các nghiên cứu về tri thức bản địa/tri thức sinh thái
lịch sử từ những năm 1912 về Cao nguyên miền thượng cũng như về vùng người
Mnông mà không đề cập chút nào về tôn giáo nhưng cuốn sách vẫn là một nghiên
cứu tổng quát không chỉ đầu tiên mà còn chất lượng nhất về Tây Nguyên”. Còn lại
các tác giả như: Georges Condominas, J.Dournes, Gerald Canon Hickey, Joann
L.Schrock, Henry và Evangeline Blood, ngoài những mô tả dân tộc học về đời sống,
sinh kế, phong tục tập quán đều đề cập thế giới quan, tôn giáo, tín ngưỡng, huyền
thoại…của người Mnông.
J.Dournes [46] đã đưa chúng ta lạc vào một thế giới huyền ảo nhưng không
kém phần sống động, qua đó chúng ta thấy được: dáng vẻ con người và lịch sử Tây
Nguyên; các tộc người, các phương ngữ và diện mạo của họ; các kỹ thuật và nghi
thức sáng chế; thuật chữa bệnh; tổ chức đời sống gồm gia đình và xã hội; tính biểu
tượng của luật pháp thể hiện qua sự nghiêm minh của chất thơ; vị trí hàng đầu của
18
cái tinh thần tôn giáo; đêm đêm bên bếp lửa và ý niệm về thế giới đã phản ánh quan
niệm vũ trụ mang tính siêu hình. Cao hơn nữa là những ý niệm được biểu đạt qua
các câu chuyện kể, qua những giấc mơ của người Tây Nguyên đã được J. Dournes
tái hiện sống động trong “Rừng, đàn bà, điên loạn” [45]. Khác với Yersin, Kemlin,
Lavallé, Maitre, Guerlach Sabatier, Altomarchi… vốn chỉ tập trung vào thám hiểm,
cai trị, truyền giáo…Với phương pháp “chân trần trong bùn”, J. Dournes không
nghiêm túc lắm với nhiệm vụ truyền giáo theo cái nghĩa cải đạo cho dân chúng địa
phương mà ông lại rất nghiêm túc trong việc nghiên cứu xã hội người K’ho, Srê, Mạ,
và đặc biệt là người Gia Rai. Đó là vì “ông e ngại không muốn thay đổi một nền văn
hóa mà ông cho rằng còn gần gũi với Thiên chúa giáo nguyên thủy hơn cả nền văn hóa
phương Tây của ông” [1, tr.163]. Ông dắt chúng ta đi qua miền mơ tưởng Giarai thông
qua các huyền thoại của họ và cho phép chúng ta hiểu rằng “những con người tưởng
chừng chỉ hành động vì miếng ăn thường nhật này, còn có những mối lo toan và một tư
tưởng cao lớn hơn nhiều, khi ngọn lửa trong bếp bùng cháy” [46, tr. 410]. Mặc dù,
quát về khu định cư của người Mnông, tổ chức chính trị xã hội được biết đến bởi
đơn vị cơ bản là làng, những người đàn ông thiêng trong rừng và làng có trách
nhiệm phân phối các lô canh tác nương rẫy...Năm 1967, Gerald Canon Hickey lại
tiếp tục hướng nghiên cứu các tộc người Tây Nguyên [155] đã mô tả về quyền sử dụng
đất và nông nghiệp của người Mnông. Joann L.Schrock và các tác giả [156] đã cho ra
đời một tập nghiên cứu dân tộc học tổng hợp về các tộc người ở Tây Nguyên trong đó
có người Mnông. Henry và Evangeline Blood [150], [151] giới thiệu về hệ thống đại từ
và sưu tầm huyền thoại của người Mnông. Có thể thấy, qua nguồn tài liệu của các nhà
nghiên cứu người Mỹ mà chúng tôi có điều kiện tiếp cận cho thấy các học giả người
Mỹ kế thừa khá nhiều từ các học giả người Pháp. Điều dễ nhận thấy trong các công
trình của các học giả nước ngoài đó là chưa có sự thống nhất trong cách phân nhóm tộc
người Mnông; quan điểm và góc nhìn chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng chính trị thực
dân, đế quốc và chịu sự chi phối mạnh mẽ của tôn giáo chính quốc; đôi chỗ có phần
cực đoan khi nhìn nhận, đánh giá con người và văn hóa Tây Nguyên. Tuy nhiên, đây
vẫn là những tài liệu có giá trị tham khảo nhất định, nhất là các tư liệu về bản đồ để các
nhà nghiên cứu đi sau có cơ sở đối chiếu [108, tr.15]
Hầu hết các nghiên cứu của các tác giả Việt Nam về người Mnông chủ yếu tập
trung vào việc sưu tầm và tìm hiểu văn hóa tộc người trên các khía cạnh đời sống
kinh tế, văn hóa, có thể kể đến Cửu Long Giang và Toan Ánh [26], Bế Viết Đẳng
(chủ biên) [20], Lưu Hùng [41], [42]. Rất nhiều thần thoại, truyền thuyết, luật tục,
sử thi, nghi lễ, các phong tục tập quán, trò chơi dân gian được sưu tầm và biên soạn
và đã đem đến một hiểu biết về thế giới quan: Ngô Đức Thịnh [91], [92], [93], [94],
[95], [96], [97], [98], [101], [102], [103]; Đỗ Hồng Kỳ [48], [49], [50], [51], [52];
Trương Bi [4], [5]; Y Tâm, Tô Đình Tuấn [6], Triệu Văn Thịnh [106]; Công trình
Sử thi Tây Nguyên với 100 tác phẩm của các dân tộc Ê đê, Mnông, Ba Na, Ra GLai,
Xê Đăng được sưu tầm, biên dịch và công bố, trong đó sử thi Mnông (được sưu tầm
20
cho đến cách thức tác động vào tự nhiên trên cơ sở môi trường tự nhiên là một phần
của mối quan hệ xã hội”, chính điều này đã đảm bảo cho con người có một cuộc
sống hài hòa, cân bằng với tự nhiên.
21