Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HOÀNG THỊ HUYỀN TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO
CỦA NGƢỜI MÔNG Ở MIỀN TÂY CAO BẰNG
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2012 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Thái Nguyên - 2013
Thái Nguyên – 2013
CHỮ KÝ XÁC NHẬN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN
KHOA CHUYÊN MÔN
PGS.TS. Đàm Thị Uyên
i
LỜI CAM ĐOAN
mình tới bạn bè và đồng nghiệp, luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong
suốt thời gian thực hiện luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn không
thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý
thầy cô và bạn bè.
Học viên
Hoàng Thị Huyền
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng I: KHÁI QUÁT VỀ MIỀN TÂY CAO BẰNG 6
1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 6
1.2. Miền Tây Cao Bằng qua các thời kỳ lịch sử 11
1.3. Người Mông ở miền Tây Cao Bằng. 13
1.4. Khái quát về kinh tế văn hóa của người Mông. 17
1.4.1. Về kinh tế 17
1.4.2. Về văn hóa 19
CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC XÃ HỘI CỦA NGƢỜI MÔNG Ở MIỀN TÂY
CAO BẰNG TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2012 28
2.1. Tổ chức gia đình và dòng họ. 28
2.1.1. Tổ chức gia đình. 28
2.1.2. Tổ chức dòng họ 33
2.2. Tổ chức làng bản 43
iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Bảng thống kê các xã thuộc huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm năm 2007 13
Bảng 2: Bảng thống kê các thành phần dân tộc ở miền Tây Cao Bằng năm 2009 . 14
Bảng 3: Bảng tổng hợp hộ dân tộc thiểu số nghèo vay vốn theo quyết định
32/QĐ -TTg và quyết định 126/QQD -TTg từ năm 2007-2009 26
Bảng 4: Các hình thái gia đình người Mông ở miền Tây Cao Bằng năm 2009 . 29
Bảng 5: Bảng thống kê các dòng họ của người Mông ở miền Tây Cao Bằng
năm 2009 34
Bảng 6 : Số hộ gia đình, nhân khẩu và bản của người Mông ở huyện Bảo Lạc,
Bảo Lâm. 43
Bảng 7: Bảng thống kê các dòng họ người Mông 48
ở xã Đức Hạnh- Bảo Lâm (Cao Bằng) 48
Bảng 8: Bảng so sánh quan niệm và nghi thức thờ cúng tổ tiên 66
của người Mông với các dân tộc khác ở huyện Bảo Lạc ( Cao Bằng) 66
Bảng 9: Bảng khảo sát số liệu người Mông theo đạo Tin Lành 82
ở huyện Bảo Lạc 82
làm rất cần thiết bởi lẽ các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng những phong
tục, tập quán và tín ngưỡng nhằm lôi kéo đồng bào Mông chống phá đường
lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.
Từ thực tế đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có những chính sách đẩy mạnh
phát triển kinh tế, nhằm giữ vững ổn định chính trị, xóa đói giảm nghèo, tăng
cường giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc và trật tự an ninh quốc gia.
Trong xã hội truyền thống của người Mông, tín ngưỡng tôn giáo luôn là
một thành tố quan trọng, được coi là cốt lõi có ảnh hưởng và chi phối đến
nhiều mặt của cuộc sống, những hoạt động tín ngưỡng tôn giáo ấy còn là yếu
2 tố cốt lõi tạo dựng nên sự cố kết chặt chẽ của cộng đồng. Vì vậy, việc tìm
hiểu tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người Mông ở miền Tây Cao
Bằng từ năm 1945 đến năm 2012 là hết sức cần thiết qua đó, nhằm góp phần
gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người
Mông nói chung mà còn góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống
của Việt Nam.
Với những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Tổ chức xã hội
và tín ngưỡng, tôn giáo của người Mông ở miền Tây Cao Bằng từ năm 1945
đến năm 2012” làm luận văn thạc sĩ, mong muốn góp một phần nhỏ bé vào
công tác nghiên cứu khoa học cũng như có một cái nhìn thấu đáo hơn, toàn
diện hơn về người Mông ở Việt Nam nói chung và người Mông ở Cao Bằng
nói riêng đang được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu tổ chức xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của các dân tộc
ở Việt Nam nói chung và của người Mông nói riêng nhằm bảo tồn phát huy
và gìn giữ các giá trị văn hóa cộng đồng các dân tộc, phục vụ cho quá trình
phát triển đất nước, đã và đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
tết và lễ hội của người Mông ở Cao Bằng.
Trên đây là những tài liệu vô cùng quý giá để chúng tôi tham khảo, học
tập cho việc hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
-Mục đích nghiên cứu: Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm tìm hiểu về
lịch sử tộc người Mông ở 2 huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm thuộc tỉnh Cao Bằng,
tìm hiểu về tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người Mông với mong
muốn nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học qua đó góp phần bổ sung
thêm nguồn tư liệu địa phương.
4 - Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của
người Mông ở miền Tây Cao Bằng từ năm 1945 đến năm 2012.
- Phạm vi Nghiên cứu: 2 huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm thuộc tỉnh Cao
Bằng từ năm 1945 đến năm 2012.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu về tổ chức xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của người Mông
ở miền Tây Cao Bằng từ năm 1945 đến năm 2012, được dựa trên các nguồn
tư liệu sau đây:
+ Nguồn tư liệu chung: Cơ sở văn hóa Việt Nam; Các dân tộc ít người
ở Việt Nam các tỉnh phía Bắc; Dân tộc Mông ở Việt Nam, Văn hóa tâm linh
của người H’Mông ở Việt Nam truyền thống và hiện đại…
+ Nguồn tư liệu địa phương như: Lịch sử tỉnh Cao Bằng; Địa chí huyện
Bảo lạc, Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng; Báo cáo về tôn giáo của huyện Bảo Lạc,
Thống kê dân số năm 2009….
Trong đợt thực tế tại địa phương vào tháng 10 năm 2012, tác giả đã có dịp
khảo sát địa hình, cảnh quan, tổ chức xã hội, tín ngưỡng tôn giáo của đồng
bào Mông và các tư liệu truyền miệng, bài ca dao, truyền thuyết dân gian, thơ
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH CAO BẰNG
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN BẢO LẠC – HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH CAO BẰNG
, dân số 39509 người. Bảo Lạc có 16 xã và một trị trấn, diện tích
là 920,64 km
2,
dân số là 49648 người. Huyện Bảo Lâm có 13 xã và một thị
trấn với diện tích 91,06 km
2
, dân số là 56177 người [5]. Nơi đây có đường
biên giới giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, phía Tây giáp với tỉnh Hà Giang,
phía Nam giáp với Bắc Cạn, phía Đông giáp với huyện Hà Quảng, Hòa An.
(Trong quá trình nghiên cứu về miền Tây Cao Bằng luận văn chủ yếu nghiên
cứu trên địa bàn hai huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm).
Đây là khu vực có địa hình rất phức tạp, hiểm trở, chủ yếu là núi đất
xen kẽ với các núi đá: Phổ biến như ở huyện Bảo Lạc, là huyện bị chia cắt
mạnh bởi hệ thống núi cao kéo dài, có độ dốc lớn, tiêu biểu là ngọn núi Phja
Dạ cao 1980 mét so với mặt nước biển, có độ cao trung bình so với mặt biển
là 1000m. Huyện Bảo Lâm cũng là huyện có địa hình phức tạp, nhiều đèo dốc
hiểm trở, có độ dốc lớn, núi non trùng điệp. Với địa hình như vậy, gây rất
nhiều khó khăn cho việc đi lại, sản xuất và sinh hoạt của nhân dân cũng như
việc xây dựng cơ sở hạ tầng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông, lâm nghiệp và
sự phát triển kinh tế giao lưu với các vùng phụ cận.
Miền Tây Cao Bằng bao gồm nhiều dãy núi cao, điển hình là ngọn núi
Phja Dạ (Bảo Lạc) cao 1987m, được coi là nóc nhà phía đông Bắc Bộ, một
cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ. Đã có nhiều truyền thuyết về núi Phja Dạ vừa
7 thực vừa hư. Truyền thuyết kể rằng, trên đỉnh núi có bãi đất bằng, có cây cam,
quýt, lê, đào của tiên trồng, có ao (vũng) nước trong, sâu bên trong có con cá
to, lạ thỉnh thoảng nổi lên… [39,tr.129]. Ngoài ra còn có các ngọn núi sau:
(huyện Bảo Lạc) rồi chảy qua huyện Bảo Lâm (dài 32 km, diện tích mặt nước
là 304 ha) sang Hà Giang và Tuyên Quang.
Sông Nho Quế chảy từ tỉnh Hà Giang sang địa phận xã Đức Hạnh
huyện Bảo Lâm (chiều dài qua địa phận Bảo Lâm là 24 km, diện tích mặt
nước 180 ha), rồi nhập vào sông Gâm tại Nà Pồng.
Sông Neo bắt nguồn từ vùng núi Phja Oắc chảy theo hướng Đông Bắc,
qua Đình Phùng, Huy Giáp, chảy xuống Nà Tồng- Hưng Đạo, về Hồng Trị rồi
đổ vào sông Gâm tại thị trấn Bảo Lạc. Lòng sông Neo rộng trung bình 30 mét,
độ sâu trung bình 1,5 mét, lưu lượng nước và dòng chảy không ổn định
[1,tr.15].
Sông Năng bắt nguồn từ núi Phja Dạ, chảy qua địa phận xã Sơn Lộ (Bảo
Lạc) khoảng 15km rồi đi qua hồ Ba Bể (Bắc Cạn) rồi đổ ra sông Gâm, sau đó
gặp sông Lô ở Tuyên Quang, được phù sa bồi đắp hai bên bờ sông tạo nên
ruộng đồng bằng phẳng, hình thành các thôn xóm, vùng thấp tương đối tập
trung. Sông Năng có độ dốc đều, không có thác, không có đá to, chỉ có đá nhỏ
và cát. Sông Năng rộng trung bình 15m, độ sâu tùy theo mùa mưa hay mùa
khô, lưu lượng dòng chảy bình thường. Sông Năng ngoài cung cấp nước tưới
tiêu chính còn có số lượng cá đáng kể và lượng cát phục vụ cho việc xây dựng.
Ngoài ra còn có nhiều suối nhỏ rải khắp trên địa bàn hai huyện như:
suối Khuổi Mảng, Nà Đức, Khuổi Giào (Bảo Lạc), suối Khuổi Vác, Nà Tồng,
Nà Làng (Bảo Lâm)… Các suối này thường ngắn, dốc, lòng suối nhỏ, quanh
co uốn khúc, mùa mưa nước lên nhanh thường tạo lũ ống, lũ quét.
Các con sông lớn chảy qua qua địa bàn hai huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm là
nguồn thủy năng dồi dào, nguồn năng lượng quan trọng cho việc phát triển
kinh tế- xã hội của hai huyện. Bên cạnh đó hệ thống sông, suối còn là nguồn
cung cấp cá, tôm dồi dào với các loại cá quý hiếm như: cá anh vũ, cá rầm
xanh, cá lăng, cá chiên, cá bỗng, tôm nước ngọt…
9
Phùng, Phan Thanh.
Lượng mưa trung bình hàng năm cao, lên tới 1276 mm. Trong đó lượng
mưa lớn nhất là từ tháng 5 đến tháng 8, ngày mưa cao nhất lên tới 158,6 mm.
Độ ẩm trung bình hàng năm là 80%, cao nhất là 85% (vào các tháng 8,
11 và tháng 12) và thấp nhất là 67% (tháng 3).
Tài nguyên đất nơi đây khá đa dạng, theo số liệu điều tra khảo sát thực
địa tại huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm có những nhóm đất chính sau đây:
10 Nhóm đất đỏ vàng trên đá phiến sét và biến chất: Nhóm đất này phân
bố hầu hết trên địa bàn các xã của hai huyện, riêng ở xã Hồng An (Bảo Lạc)
không có nhóm đất này.
Nhóm đất mùn đỏ vàng trên đá sét biến chất: Với diện tích khoảng
8100 ha được phân bố ở các xã Mông Ân, Vĩnh Phong, Vĩnh Quang, Đức
Hạnh, Quảng Lâm, Yên Thổ, Thái Học (Bảo Lâm). Còn tại huyện Bảo Lạc,
nhóm đất này được phân bố hầu hết ở các xã trong huyện, trừ xã Bảo Toàn,
Sơn Lộ, Sơn Lập và thị trấn Bảo Lạc là không có nhóm đất này.
Nhóm đất vàng nhạt trên đá cát: Nhóm đất này được phân bố ở các xã
Cốc Pàng, Cô Ba, Bảo Toàn, Thượng Hà, Hồng Trị, Kim Cúc, Sơn Lộ, Sơn
Lập và Đình Phùng (Bảo Lạc). Tại huyện Bảo Lâm, nhóm đất này có diện
tích khoảng 5200 ha được phân bố tai các xã Vĩnh Quang, Lý Bôn, Nam
Quang, Tân Việt, Quảng Lâm và Yên Thổ.
Nhóm đất đỏ vàng trên đá Mácma axít: Nhóm đất này tập trung ở các
xã Sơn Lộ, Sơn Lập, Đình Phùng (Bảo Lạc). Ở Huyện Bảo Lâm, nhóm đất
này được phân bố ở các xã Vĩnh Phong, Mông Ân và Thái Học với diện tích
khoảng 4200 ha.
Đất phù sa sông suối: Có diện tích khoảng 140 ha được phân bố ở các
xã Quảng Lâm và Yên Thổ (Bảo Lâm). Ở Bảo Lạc nhóm đất này được phân
thứ 10 (1469) đổi làm huyện Định Châu, sau lại đổi thành châu Bảo Lạc. Đầu
thời Nguyễn vẫn giữ nguyên, thuộc xứ Tuyên Quang, gồm 4 tổng và 21 xã.
Tổng Vân Quang có 6 xã, tổng Đông Quang có 4 xã, tổng Mông Ân có 5 xã,
tổng Yên Phú có 6 xã. Năm Minh Mệnh thứ 14 (1835) Nông Văn Vân khởi
nghĩa chống lại triều đình. Sau khi dẹp được Nông Văn Vân, năm 1835 Minh
Mệnh bỏ châu Bảo Lạc chia đất thành huyện Vĩnh Điện và Để Định. Cuối thế
kỷ XIX, châu Bảo Lạc được lập lại thuộc tỉnh Hà Giang. Những năm đầu thế
kỷ XX, châu Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng [38,tr.381-382].
Châu Bảo Lạc bao gồm 2 tổng: tổng Nam Quang và tổng Mông Ân.
Trong đó tổng Nam Quang gồm các xã: Ân Quang, Yên Lạc, Yên Đức, Gia
12 Lạc, Yên Lãng. Tổng Mông Ân gồm các xã: Mông Ân, Nam Cao, Lạc Thổ,
Mông Yên, Quan Quang [18, tr.117-131].
Theo sách danh mục các làng xã bắc kỳ của Ngô Vi Liễn, năm 1928 thì
tỉnh Cao Bằng gồm 1 phủ, 8 châu, 33 tổng, 230 xã. Trước năm 1945, châu Bảo
Lạc gồm 2 tổng Nam Quang và Mông Ân. Tổng Nam Quang gồm các xã: Ân
Quang (nay là các xã Phan Thanh, Khánh Xuân, Xuân Trường, Hồng An, và
một phần đất của xã Huy Giáp), xã Yên Lạc (gồm các xã Đình Phùng, Sơn Lộ
và một phần xã Huy Giáp và Hưng Đạo ngày nay), xã Thượng Yên (gồm các xã
Hồng Trị và Hưng Đạo ngày nay, xã Vĩnh Phong và một phần xã Vĩnh Quang
của huyện Bảo Lâm ngày nay), xã Yên Lạng (nay là xã Thượng Hà và Bảo
Toàn), xã Nặm Quét (nay là xã Cô Ba), xã Cốc Pàng (gồm các xã Cốc Pàng và
Đức Hạnh ngày nay) và xã Yên Đức (gồm xã Lý Bôn và Vĩnh Quang ngày nay,
thuộc huyện Bảo Lâm). Tổng Mông Ân gồm các xã: Nam Cao, xã Quan Quang
(nay là xã Nam Quang và Tân Việt thuộc huyện Bảo Lâm), xã Mông Ân (ngày
nay là xã Mông Ân, Quảng Lâm và một phần xã Thái Học thuộc huyện Bảo
Lâm), xã Mông Yên, xã Lạc Thổ, xã Yên Thổ và một phần xã Thái Học ngày
Thị trấn Pác Miầu
2
Sơn Lộ
2
Mông Ân
3
Đình Phùng
3
Thái Học
4
Hưng Đạo
4
Thái Sơn
5
Huy Giáp
5
Nam Cao
6
Hồng An
6
Nam Quang
7
Xuân Trường
7
Vĩnh Quang
14
Thượng Hà
14
Vĩnh Phong
15
Hưng Thịnh
16
Sơn Lập
17
Kim Cúc
Nguồn: Phòng thống kê huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm
Có thể nói, miền Tây Cao Bằng là vùng đất có nhiều sự thay đổi về tên
gọi. Song chính sự thay đổi này phần nào cũng ảnh hưởng đến nhiều vấn đề,
một mặt làm thay đổi diện mạo về mảnh đất nơi đây mặt khác sự thay đổi này
cũng ảnh hưởng đến sự có mặt của các dân tộc trên địa bàn cùng với đó là
những ảnh hưởng về kinh tế, chính trị, xã hội văn hóa của các dân tộc đối với
sự phát triển của đất nước.
5
Sán Chỉ
6815
6,51
6
Lô Lô
2366
2,26
7
Kinh
1683
1,61
8
Các dân tộc khác
(Thái, Mường, Hoa…)
94
0,09
Tổng cộng
104.739
100%
(gồm hai huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm)
-Nguồn gốc lịch sử của ngƣời Mông.
Người Mông nằm trong nhóm các dân tộc nói ngôn ngữ Mông – Dao
và được mọi người biết đến với các tên gọi như Mèo, Mán, Miêu, H’mông…
Từ những thế kỷ trước khi di cư đến Việt Nam, người Hán gọi người Mông là
“Mèo”. Tộc danh Mèo theo âm Hán Việt là “Miêu”. Đây là tên gọi một tộc
người sớm biết nghề trồng lúa nước ở vùng hồ Bành Lãi và hồ Động Đình
(Trung Quốc), lâu dần trở thành tên gọi chính thức. Trong các tài liệu “ Bắc
cương kỳ giới”, “Đại Nam nhất thống chí” cũng nhắc đến người Mèo với các