tổ chức xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của người lô lô ở miền tây cao bằng từ 1945 đến nay - Pdf 24

1

ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN THỊ THÙY DƢƠNG
TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI LÔ LÔ Ở
MIỀN TÂY CAO BẰNG TỪ 1945 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS Đàm Thị Uyên
2013
2


người dân Việt Nam. Hiện nay, những nghiên cứu về người Lô Lô vẫn còn khá
ít, cho nên sự hiểu biết về dân tộc này còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, nghiên
cứu về người Lô Lô sẽ đáp ứng được nhu cầu bức thiết của thực tiễn về phát
triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Lô Lô,
mà cụ thể là người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng.
Người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng do có đường biên giới giáp với Trung
Quốc, nên người Lô Lô có một bộ phận có nguồn gốc của người Di (Trung
Quốc). Người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng phần lớn sinh sống ở các xã vùng
sâu, vùng xa, đời sống gặp nhiều khó khăn, hàng năm vẫn nhận được sự hỗ trợ
đặc biệt của Nhà nước, các tổ chức trong và ngoài nước… Điều tra, nghiên cứu
về người Lô Lô ở khu vực này, không những góp phần đánh giá hiệu quả của
các chương trình, dự án mà còn cung cấp cơ sở khoa học để điều chỉnh, xây
dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa trong những giai đoạn tiếp theo. Đồng thời còn góp phần cung cấp dữ
liệu làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội,
tăng cường và giữ vững an ninh quốc phòng khu vực biên giới và việc định
hướng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa hai bên biên giới Việt – Trung.
Ngoài ra, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát hơn về người Lô Lô trong các
lĩnh vực văn hóa, tổ chức xã hội, tôn giáo tín ngưỡng. Nhìn nhận vai trò của tộc
người này trong lịch sử phát triển của dân tộc. Đây chính là cơ sở để tăng
cường tính đoàn kết giữa các dân tộc trong cùng một địa phương, và sự gắn bó
giữa các dân tộc trong một quốc gia – vì đoàn kết là sức mạnh to lớn trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Chính vì vậy, tôi chọn: “Tổ chức xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của người
Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng từ 1945 đến nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ, với
mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc bảo tồn những di sản văn hóa
truyền thống của người Lô Lô – một dân tộc với dân số rất ít nhưng có nền văn
hóa đặc sắc và độc đáo.
4


tổng hợp tất cả các vấn đề xoay quanh người Lô Lô và cuộc sống, con người
của họ. Từ đời sống sinh hoạt vật chất đến tinh thần, từ sản xuất kinh tế đến tổ
chức xã hội, tín ngưỡng tôn giáo. Từ những lễ hội của người Lô Lô Đen ở Hà
Giang cho đến những bài múa, bài ca dao cổ của họ.
Cuối cùng là cuốn sách “Dân tộc Lô Lô ở Việt Nam”, Khổng Diễn - Trần
Bình, Nhà xuất bản Thông tấn, 2011. Đây là sách chuyên khảo hoàn chỉnh về
người Lô Lô ở Việt Nam, chủ yếu là người Lô Lô ở Hà Giang, ở Bảo Lâm,
Bảo Lạc (Cao Bằng). Cuốn sách đã nghiên cứu rõ về môi trường tự nhiên,
nguồn gốc lịch sử, dân số, đời sống kinh tế, tổ chức xã hội, văn hóa vật chất -
tinh thần của người Lô Lô ở Việt Nam.
Đây là tổng quát kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học về người dân
tộc Lô Lô, đó là những gợi ý quý báu, tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi thực
hiện luận văn của mình.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Thực hiện đề tài này chúng tôi tìm hiểu về người
Lô Lô ở 2 huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm thuộc tỉnh Cao Bằng, bên cạnh đó phản ánh
một cách khoa học, chân thực về lịch sử hình thành, tổ chức xã hội, văn hóa tín
ngưỡng của người Lô Lô, đồng thời góp phần bổ sung thêm nguồn tư liệu lịch sử
địa phương cho quá trình giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Thái Nguyên.
- Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức xã hội, tổ chức làng bản, gia đình, dòng
họ và tín ngưỡng, tôn giáo của người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng từ năm
1945 đến nay.
- Phạm vi nghiên cứu: + phạm vi không gian: nghiên cứu trên hai huyện
là Bảo Lạc và Bảo Lâm thuộc tỉnh Cao Bằng hiện nay.
+ phạm vi thời gian: từ năm 1945 đến nay.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu: Nghiên cứu về tổ chức xã hội và tín ngưỡng tôn giáo
của người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng từ năm 1945 đến nay gặp rất nhiều khó
6


lục cùng 12 ảnh minh họa.
8

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH MIỀN TÂY CAO BẰNG

9

BẢN ĐỒ CƢ TRÚ NGƢỜI LÔ LÔ Ở MIỀN TÂY CAO BẰNG
10 Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ MIỀN TÂY CAO BẰNG
1.1 Vị trí địa lí – điều kiện tự nhiên
Miền Tây Cao Bằng bao gồm địa phận của 4 huyện: Thông Nông,
Nguyên Bình, Bảo Lâm, Bảo Lạc (Luận văn nghiên cứu về người Lô Lô thuộc
hai huyện Bảo Lâm và Bảo Lạc). Khu vực này có đường biên giới giáp với
Trung Quốc ở phía Bắc, phía Tây giáp với tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp với
tỉnh Bắc Cạn, phía Đông giáp với huyện Hà Quảng và Hòa An.
Miền Tây Cao Bằng nằm trong hành lang biên giới Đông – Tây phía Bắc
của Tổ Quốc nên có vị trí tương đối thuận lợi. Ở đây có 47,5 km đường biên
giới với Trung Quốc, với các chợ: Cô Ba, Cốc Pàng - tương lai sẽ trở thành
những cửa khẩu quan trọng sau năm 2020 [19, tr 343]
Miền Tây Cao Bằng là khu vực vùng sâu vùng xa với địa hình chủ yếu là
núi đất, với các dải núi đá vôi xen kẽ nhau. Xen giữa các núi đá, núi đất là
những thung lũng với nhiều hình thái khác nhau. Ở đây có một số ngọn núi cao
như sau: núi Ma Thiên Lĩnh (xã Cô Ba, Bảo Lạc) đây là ngọn núi cao 1200m so
với mực nước biển; núi Chẻ Bản Miỏng cao khoảng 1200m, núi Phja Rạc cao
1500m, núi Nạm Phùm cao 1800m, núi Đán Khao (xã Đình Phùng, Bảo Lạc)
cao 1400m so với mặt nước biển [33, tr49]; dãy núi Phja Đi (xã Hồng Trị, Bảo

cao, cành lá xum xuê, từng chùm quả khi chưa chín có màu lá mạ, khi chín có
màu vàng như quả xoài, quả to bằng quả trứng gà, hạt như hạt xoài, ăn vừa
thơm vừa bùi, quả mác cai có thể ăn thay cơm. Theo kinh nghiệm dân gian,
năm nào mác cai sai trĩu quả là năm đó mất mùa. Cho nên gần đây, cây mác cai
bị chặt phá làm củi nên còn lại rất ít.
12

Các cánh rừng rậm ở xóm Ngàm Lồm và Slam Kha, rừng thông ở khu
vực Nà Chùa và Nà Phạ (xã Hồng Trị, Bảo Lạc) với các loại cây quý sau: Gỗ
nghiến, lát, gỗ đinh, gỗ dổi; cây xau xau - đây là loại cây mọc tự nhiên, có
nhiều ở vùng đất Nà Soen; cây khảo cài - loại cây có vỏ dày gây rặm ngứa,
mọc tự nhiên và có nhiều ở núi đất; các loại cây xoan đào (cáng lò) có nhiều ở
xóm Nà Van, Cốc Xả, Khau Chang, mọc tự nhiên với chiều cao từ 25 - 30 m,
đường kính to nhất có thể lên 80 -100 cm; cây trúc sào được trồng ở các
sườn ven khe núi khe suối, có nhiều ở xóm Ngàm Lồm, đây là nguyên liệu
làm ghế trúc và giấy bản [33, tr 72].
Là khu vực miền núi vùng cao, với địa hình phần lớn là đồi núi, cho
nên tài nguyên rừng ở miền Tây Cao Bằng rất dồi dào và phong phú, hệ
động thực vật rất đa dạng. Bao gồm các hệ động vật: thú, chim, bò sát:
Các loại cây nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, các loại cây lấy gỗ, cây dược
liệu. Với các loại cây điển hình: Gỗ lát, phiến, đinh
Ngoài ra còn có các loại cây: tre, nứa, vầu, chuối rừng, đinh, sấu, xoan,
xau xau, hoàng tinh, thảo quyết minh, ích mẫu, hà thủ ô ….
Ở Bảo Lạc nổi tiếng với sản phẩm măng khô vàng ươm, mận lòng đỏ,
lê xanh. Đây là các sản vật được nhân dân địa phương cũng như các khu vực
khác rất ưa chuộng. Đây chính tiềm năng để thúc đẩy kinh tế nông – lâm
nghiệp phát triển mạnh.
Miền Tây Cao Bằng cũng là nơi tập trung nhiều địa chất khoáng sản. Ở
huyện Bảo Lạc có nhiều phiến sét, sét vôi, xen cát kết, cát bột kết vôi, đá vôi
phân lớp mỏng màu đen, đá vôi dolomite hóa, đá vôi màu xám, vôi silic nhiễm

Lạc) khoảng 15km rồi đi qua hồ Ba Bể (Bắc Kạn) rồi đổ ra sông Gâm, sau đó
gặp sông Lô ở Tuyên Quang, được phù sa bồi đắp hai bên bờ sông tạo nên
ruộng đồng bằng phẳng, hình thành các thôn xóm, vùng thấp tương đối tập
trung. Sông Năng có độ dốc đều, không có thác, không có đá to, chỉ có đá nhỏ
14

và cát. Sông Năng rộng trung bình 15m, độ sâu tùy theo mùa mưa hay mùa
khô, lưu lượng dòng chảy bình thường. Sông Năng ngoài cung cấp nước tưới
tiêu chính còn có số lượng cá đáng kể và lượng cát phục vụ cho việc xây dựng.
Sông Nho Quế bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua xã Sơn Vĩ của huyện
Mèo Vạc (Hà Giang) vào xã Đức Hạnh (Bảo Lâm) rồi gặp sông Gâm tại Nà
Pồng, xã Lý Bôn (Bảo Lâm). Sông Nho Quế còn là đường ranh giới giữa xã
Đức Hạnh với hai xã Lũng Pù, Khâu Vai (Mèo Vạc, Hà Giang) đồng thời cũng
là đường ranh gới của xã Đức Hạnh với xã Lí Bôn (Bảo Lâm). Lưu lượng dòng
chảy lớn, có độ sâu 2 – 3 m. Sông chảy theo hướng Bắc – Nam, nhưng sông
này không có giá trị về kinh tế [33, tr 164]
Bên cạnh các con sông lớn, ở khu vực này có rất nhiều các con suối lớn và
khe suối nhỏ khác nhau. Các con suối ở đây cung cấp nước cho tưới tiêu và
sinh hoạt hàng ngày.
Suối Nà Đức (suối Khuổi Rầy) bắt nguồn từ xã Cốc Pàng chảy qua thôn
Nà Đức, Thượng Hà (xã Bảo Toàn, Bảo Lạc) đến địa phận xóm Nà Xiêm (xã
Bảo Toàn) gặp con sông Gâm ở dưới làng Nà Xiêm, chiều dài chảy qua xã là
3km, chiều rộng của suối từ 10 – 15m, độ sâu trung bình từ 0,8 – 1m [33, tr 16].
Suối thường có lũ cục bộ vào những năm có nhiều mưa, làm ảnh hưởng đến
mương máng thủy lợi và sạt lở đất ở gần suối.
Suối Tả Mù (xã Thượng Hà, Bảo Lạc): phát nguồn từ xóm Cốc Thốc qua
Nà Quằng – Tả Mù – Nà Báng có thác cao khoảng 6m, mùa lũ nước đổ ầm ầm,
suối chảy qua làng Pác Riệu đổ ra sông Gâm. Chiều dài suối chảy qua xã 15
km, rộng 6 – 8m, sâu từ 1,5 – 2m [33, tr 139].
Ngoài các con suối có giá trị cung cấp nước tưới tiêu và sinh hoạt cho các

Chẳng hạn ở huyện Bảo Lạc, nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,2
0
C,
trong đó nhiệt độ không khí thấp nhất vào tháng 12 và tháng Giêng năm sau,
nhiệt độ không khí cao nhất là từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt độ có thể lên tới
39
0
C [1, tr 15]. Trong khi đó, ở huyện Bảo Lâm nhiệt độ trung bình hàng năm
16

khoảng từ 22 – 30
0
C, thấp nhất là dưới 10
0
C, có những thời điểm ở một số
vùng xuống 0
0
C [33, tr 164]
Lượng mưa trung bình hàng năm cao, lên tới 1276 mm [1, tr 15]. Số ngày
mưa trung bình là 113,8 ngày trong một năm. Lượng mưa lớn nhất từ tháng 5
đến hết tháng 8, ngày mưa cao nhất lên tới 158,6 mm [1, tr 15]. Ngoài ra còn
xảy ra các hiện tượng thời tiết khác: sương mù, sương muối, mưa đá. Hàng
năm trung bình có 0,3 ngày/ năm có hiện tượng mưa đá; 65,6 ngày/ năm xảy ra
hiện tượng sương mù trong đó ngày sương mù nhiều nhất là tháng 11 – 12
hàng năm, lên tới 10,4 – 11,5 ngày; 0,1 ngày/ năm có sương muối [1, tr 15]. Số
giờ nắng trung bình hàng năm là 1421 giờ, trong đó tháng 7 có số giờ nắng cao
nhất lên tới 160, 3 giờ, tháng 1 có số giờ nắng thấp nhất 65,1 giờ. Độ ẩm trung
bình hàng năm là 80% [1, tr 16]
Đất ở miền Tây Cao Bằng chủ yếu gồm những loại đất sau:
+ Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq) được hình thành do quá trình phong hóa đá

Huyện Bảo Lâm và huyện Bảo Lạc trước kia cùng một đơn vị hành chính
- dưới tên gọi là Bảo Lạc. Trải qua các thời kì lịch sử, vùng đất này đã có nhiều
lần thay đổi về địa giới hành chính.
Dưới thời nhà Lý (1009-1225), huyện Bảo Lạc thuộc châu Quảng
Nguyên, đến thời nhà Trần (1226-1400) tên gọi Bảo Lạc vẫn không thay đổi.
Đến thời nhà Lê (1428-1527), cơ cấu tổ chức hành chính nước ta được chia
thành đạo, dưới đạo là trấn, lộ, huyện, châu; đơn vị hành chính cơ sở là xã.
Thời kì này, châu Bảo Lạc thuộc Tây Đạo. Năm 1466, dưới thời vua Lê Thánh
Tông, châu Bảo Lạc thuộc Tuyên Quang thừa tuyên. Năm Minh Mệnh 14
(1833) (sau khi dẹp cuộc biến loạn của Nùng Văn Vân), bỏ châu Bảo Lạc và
chia thành hai huyện Vĩnh Điện và Để Định, lúc đầu vẫn thuộc phủ An Bình,
cho tới năm Minh Mệnh 16 (1835) đổi thuộc phủ Yên Ninh mới lập (nay là
vùng đất Bảo Lạc - Cao Bằng) [29, tr 871].
Đến năm 1891, châu Bảo Lạc được lập lại thuộc tỉnh Hà Giang. Tới năm
1925, châu Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng. Theo sách Danh mục các làng xã
Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn, năm 1928, thì châu Bảo Lạc có 2 tổng và 10 xã: tổng
Mông Ân và tổng Nam Quang. Trong đó: tổng Mông Ân có 5 xã (Lạc Thổ,
18

Mông Ân, Mông Yên, Nam Cao, Quan Quang); tổng Nam Quang gồm 5 xã
(Ân Quang, Gia Lạc, Yên Đức, Yên Lạc, Yên Lãng).
Đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945, châu Bảo Lạc có 2 tổng: Nam
Quang và Mông Ân. Tổng Nam Quang gồm các xã: xã Ân Quang (nay là các
xã Phan Thanh, Khánh Xuân, Xuân Trường, Hồng An và một phần đất của xã
Huy Giáp), xã Yên Lạc (gồm các xã Đình Phùng, Sơn Lộ và một phần xã Huy
Giáp và Hưng Đạo ngày nay); xã Thượng Yên (gồm xã Hồng Trị và Hưng
Đạo ngày nay, xã Vĩnh Phong và một phần xã Vĩnh Quang của huyện Bảo
Lâm ngày nay); xã Yên Lạng (nay gồm các xã Thượng Hà và Bảo Toàn); xã
Nặm Quét (nay là xã Cô Ba), xã Cốc Pàng (gồm các xã Cốc Bàng và Đức
Hạnh ngày nay); xã Yên Đức (xã Lý Bôn và Vĩnh Quang ngày nay, thuộc

Bảng 1.1: Bảng thống kê các dân tộc ở miền Tây Cao Bằng năm 2009
STT
Dân tộc
Số dân
% so với tổng số dân
1
Kinh
1683
1,61
2
Tày
24849
23,76
3
Nùng
17092
16,31
4
Mông
34552
32,98
5
Dao
17288
16,51
6
Lô Lô
2366
2,26
7

Lô Lô là một bộ lạc trong nhóm Ô Man mà Tân Đường thư gọi là Lu Lu
(âm Hán Việt: Tự Lộc) và Nguyên sử loại biên gọi là Lô Lô (âm Hán Việt: Lỏa
La), hiện nay còn rất nhiều ở Tứ Xuyên và Vân Nam. Các nhà sử học và dân
tộc học đã nhắc đến việc người nước Nam Chiếu (tổ tiên của người Lô Lô
nước ta và người Di, Bạch của Trung Quốc) đã nhiều lần gây khuynh đảo hệ
thống cai trị của nhà Đường trên lãnh thổ nước ta các thế kỷ VII – X [15, 16].
Xét về mặt lịch sử cũng như tên gọi, người Lô Lô ở Việt Nam có quan hệ
mật thiết với người Di ở Trung Quốc. Người Di là một dân tộc cư trú ở miền
Tây cao nguyên Vân Quý với diện tích rộng lớn khoảng 500 km
2
. Họ là dân tộc
thiểu số có số dân đông nhất miền Tây Nam Trung Quốc, phân bố chủ yếu ở
bốn tỉnh: Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu và Quảng Tây. [6, tr 24]. Từ xa xưa
người Di đã có quan hệ với người Đế Khương, cũng có ý kiến cho người Di và
Đế Khương có nguồn gốc chung.
1.3.2 Quá trình di cư đến địa phương
Theo một số nghiên cứu trước, thì có ba cuộc di cư lớn ở các thế kỉ X,
XVI, XVII đưa hàng vạn người Lô Lô vào nước ta [10, tr 5]
21

Năm 937, quốc gia Nam Chiếu do Đoàn Tử Bình cầm đầu đánh chiếm.
Cư dân cũ ở đây phần không chịu quy phục, phần bị đánh bại phải đầu hàng
hay chạy tản mát về phía Nam để tránh sự khủng bố của người Bạch. Có lẽ
những người nhóm Lô Lô đầu tiên đã vào Việt Nam ngay từ những thời kì ấy
và có thể còn sớm hơn nữa; song cái mốc mà được nhiều nhà nghiên cứu nhắc
đến là vào đời nhà Minh (khoảng thế kỉ XV), do không chịu nổi ách thống trị
tàn nhẫn của chính quyền phong kiến, tù trưởng Lô Lô đã cùng dân chúng nổi
lên chống lại, sau đó ông ta bị giết. Một tù trưởng khác là Lu Ngô Quân đã
không chịu hàng phục kéo hơn một vạn quân Lô Lô đi về phía Nam, tới đất
Đồng Văn khai phá đất đai dựng bản lập mường [8]

mới, phân hóa học. Cho nên sản lượng lương thực của họ đã tăng nhanh chóng
Do điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, người Lô Lô đã hình thành
loại nương xếp đá và thổ canh hốc đá. Do đất đai canh tác khan hiếm, họ đã cần
mẫn nhặt từng hòn đá, kè thành những bờ nương giữ đất trồng trọt. Trải qua
nhiều thế hệ, họ đã biến những khoảnh đất hoang hóa thành nương rẫy để trồng
lúa, ngô và nhiều loại cây trồng khác. Bên cạnh hai loại cây trồng chính là ngô
và lúa, người Lô Lô còn thâm canh một số loại cây trồng, trong đó có tam giác
mạch. Đất trồng loại cây này là những khoảnh nương cao, nương xấu bạc màu,
nương hốc đá. Công việc chuẩn bị đất đơn giản hơn so với trồng ngô và lúa. Gia
đình nào có điều kiện thì cày vỡ một lần trước Tết Nguyên đán hoặc đến tháng 2
cày xáo đất rồi bừa tơi, san phẳng, nhặt sạch cỏ rác và trồng luôn. Họ trộn lẫn
mạch với phân chuồng, vãi đều như gieo mạ khắp nương, hoặc dùng cuốc mổ
hốc, hốc cách hốc, hàng cách hàng 20cm, nếu ở nương bằng họ dùng cày chia
thành từng rãnh và tra hạt rồi lấp đất. Chu kỳ sinh trưởng của tam giác mạch
ngắn ngày hơn so với ngô và lúa, thường chỉ trồng sau 3 tháng (từ tháng 2 đến
tháng 4) là thu hoạch. Đây là giống cây trồng khỏe, sinh trưởng nhanh, chu kỳ
phát triển ngắn, lại được trồng chủ yếu ở những nương đất xấu, hoặc thổ canh
hốc đá nên cỏ ít có điều kiện phát triển. Do vậy, từ khi gieo trồng cho đến khi
23

thu hoạch, hầu như không phải làm cỏ. Khi thu hoạch dùng liềm và dao cắt sát
gốc, đập rụng hạt vào thùng gỗ tại nương giống như thu hoạch lúa. Thân cây để
khô đốt thành tro làm phân bón cho nương. Sau khi thu hoạch, mạch được gác
trên sàn bếp và được chế biến dần thành món mèn mén truyền thống. Đậu Hà
Lan, răng ngựa, khoai lang cũng được trồng phổ biến ở đây. Cây dong riềng
cũng là một loại cây trồng có mặt rất sớm trong đời sống của người Lô Lô,
thường được trồng ở nương thổ canh hốc đá để lấy củ.
Bên cạnh trồng trọt, người Lô Lô còn chăn nuôi để tăng thêm thu nhập.
Trước kia, đối với các loại gia súc, gia cầm, họ thường thả rông, không làm
chuồng trại, đến đêm thì cột vào khu vực gần nhà hoặc gầm nhà sàn. Các giống

riêng bên cạnh bàn thờ chính, phía bên phải của bàn thờ chính có chỗ thờ
những người chết bất đắc kì tử trong gia đình hoặc dòng họ mình. Ví dụ: nhà ở
của người Lô Lô ở xã Cô Ba (Bảo Lạc) là nhà sàn từ ba đến năm gian lợp ngói
hoặc lợp gianh, tùy theo điều kiện từng gia đình cột có thể kê đá tảng, xuyên
xà, trong nhà được ngăn làm nhiều buồng. Người Lô Lô ở đây đi ngủ ít mắc
màn vì theo họ khi làm nhà đã tìm được ngày tốt để dựng nhà nên ít hoặc
không có muỗi [33, tr 36]
Đồ đạc trong nhà rất đơn giản, thường chỉ có bàn, ghế gỗ, chiếu, hòm
đựng quần áo, đèn dầu. Rất ít nhà có tủ, mỗi nhà đều có một cái chạn bát. Chỗ
ngủ của người Lô Lô được quy định rất chặt chẽ, không ai được xâm phạm chỗ
ngủ của người khác nhất là buồng ngủ của cô dâu. Những người khách và con
trai chưa vợ cùng với ông già ngủ ở gian giữa. Nhưng họ kiêng không được
nằm chính giữa bàn thờ, chân không quay vào bàn thờ. Người có vợ có chồng
thì quay buồng ở hai gian bên cạnh, lương thực để trên gác. Cũng giống như
các dân tộc khác, họ để trâu bò dưới sàn. Nhưng ngày nay đã hạn chế dần, trâu
bò được ở tại các chuồng trâu, bò nằm cách xa nhà.
25

Trang phục của người Lô Lô rất đặc sắc và độc đáo. Về cơ bản người Lô
Lô Hoa và Lô Lô Đen trang phục đều giống nhau, chỉ khác nhau là ở nơi phụ
nữ mặc áo cổ vuông chui đầu, nơi mặc áo cổ tròn xẻ ngực. Kỹ thuật tạo dáng áo
của phụ nữ nơi thân áo rộng thẳng, tay áo rộng. Nơi thân áo phía dưới thu nhỏ,
tay áo hẹp.
Một bộ trang phục đầy đủ của của phụ nữ Lô Lô Đen gồm có: khăn đội
đầu, áo, quần, xà cạp, túi đựng trầu, vòng cổ, đôi hài, nón đội đầu. Phụ nữ Lô
Lô Đen mặc quần hai ống rộng dưới bó, trên vùng eo lưng thắt lại bằng chất
liệu vải thô tự dệt nhuộm chàm pha củ nâu để giữ màu đen tím lâu phai. Áo
cũng bằng vải chàm mang một sắc thái riêng, áo ngắn bó sát thân được thêu
bằng chỉ màu đỏ viền vải xanh lá mạ cuốn quanh thân chính vòng, cánh tay áo
dài hơn thân áo được thêu bảy vòng vàng, xanh và đỏ, cúc áo bằng đồng nhỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status