Tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người Dao ở Bắc Kạn (1986 đến 2010) - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HÀ THỊ ĐẾ TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ TÍN NGƯỠNG,
TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI DAO Ở BẮC KẠN
(1986 - 2010) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đàm Thị Uyên

Thái Nguyên, 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu đề tài Tổ chức xã hội và tín
ngưỡng, tôn giáo của người Dao ở Bắc Kạn (1986 – 2010) dưới sự hướng dẫn
của PGS.TS Đàm Thị Uyên là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu
của người khác đều trích dẫn rõ ràng. Những tư liệu không có trích dẫn là do tác
giả trực tiếp sưu tầm trong quá trình sưu tầm tài liệu tại địa phương.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013
Tác giả

1.4. Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội của người Dao Bắc Kạn 25
Chương 2. TỔ CHỨC XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DAO Ở BẮC KẠN 30
2.1. Tổ chức làng, bản 30
2.1.1. Tên gọi và hình thức tụ cư 30
2.1.2. Bộ máy quản lý của thôn, bản 33
2.2. Mối quan hệ cộng đồng thôn, bản, quan hệ dân tộc 36
2.2.1. Mối quan hệ cộng đồng thôn, bản 36
2.2.2. Mối quan hệ dân tộc 38
2.3. Tổ chức gia đình và dòng họ 40
2.3.1. Tổ chức gia đình 40
2.3.2. Tổ chức dòng họ 45
2.4. Luật tục với việc điều hành xã hội 52
2.4.1. Quy định về sử dụng đất 53
2.4.2. Quy định về quản lý, bảo vệ rừng và nguồn nước 53

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii
2.4.4. Một số quy định trong hôn nhân và ma chay 55
Chương 3. TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI DAO Ở BẮC KẠN 59
3.1. Tín ngưỡng dân gian 59
3.1.1. Cơ sở hình thành đời sống tín ngưỡng tâm linh 59
3.1.2. Tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp 62
3.1.3. Thờ cúng tổ tiên và Bàn Vương 66
3.1.4. Tết nhảy 70
3.1.5. Một số nghi lễ trong việc tổ chức tang ma, cưới hỏi và các hoạt
động văn hoá tinh thần 71
3.2. Tôn giáo 73
3.3. Tục cấp sắc 76
3.3.1. Một số đặc điểm trong lễ cấp sắc 77

Bắc Kạn cũng là điều cần thiết để thấy rằng lịch sử phát triển của người Dao
gắn liền với lịch sử dân tộc, vai trò vị trí của người Dao Bắc Kạn cũng là một
bộ phận quan trọng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, góp phần bảo tồn
những giá trị văn hoá truyền thống thực hiện mục tiêu “phát huy mạnh mẽ
tính đa dạng bản sắc độc đáo của các dân tộc anh em làm phong phú thêm
nền văn hoá chung của cả nước” như Nghị quyết Trung ương V khoá VIII
của Đảng đã đề ra trong thời kì đổi mới đất nước, đồng thời vận dụng làm cơ
sở cho việc thực hiện đường lối chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng.
Là một người con của tỉnh Bắc Kạn, lại đang làm công tác giảng dạy tại
trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương, ngôi trường giành cho con em các
dân tộc thiểu số ở 19 tỉnh, thành phía Bắc, việc tìm hiểu về tổ chức xã hội và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
tín ngưỡng, tôn giáo của người Dao còn có ý nghĩa thiết thực lâu dài đối với
bản thân chúng tôi, giúp chúng tôi hiểu thêm về cuộc sống con người và nền
văn hóa của đồng bào Dao, thêm gần gũi và gắn bó với học trò miền núi, từ
đó bản thân sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy
của mình.
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn Tổ chức xã hội và tín
ngưỡng, tôn giáo của người Dao ở Bắc Kạn (1986 – 2010) làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình với hi vọng góp phần gìn giữ và bảo vệ những bản sắc
truyền thống vốn có của người Dao ở Bắc Kạn nói riêng và dân tộc Dao nói
chung. Trên cơ sở gìn giữ và phát huy nền văn hóa sẽ thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương trong sự nghiệp chung của dân tộc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Dao
của nhiều tập thể và cá nhân. Vì vậy, khi nghiên cứu về đề tài này chúng tôi
đã được tiếp cận một số các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả ở nhiều góc

văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân tộc Dao. Nhưng có thể nói, cho
đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đi sâu tìm hiểu Tổ chức xã hội
và tín ngưỡng, tôn giáo của người Dao ở Bắc Kạn (1986 – 2010). Chính vì
vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, để hoàn
thành được đề tài này, các công trình nghiên cứu trên là tài liệu quý giá để
chúng tôi tham khảo và có một góc nhìn sâu sắc, toàn diện các vấn đề nghiên
cứu.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm tìm hiểu
về lịch sử địa phương mình, đồng thời góp phần phản ánh một cách chân thực
về lịch sử hình thành, tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người Dao,
góp phần bảo tồn, phát triển những nét đẹp trong văn hóa của đồng bào Dao ở
địa phương, và bổ sung thêm nguồn tư liệu lịch sử địa phương cho quá trình
giảng dạy và nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn gốc dân tộc, tổ chức xã hội và tín
ngưỡng, tôn giáo của người Dao ở Bắc Kạn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về tổ chức xã hội và
tín ngưỡng, tôn giáo của người Dao trong thời gian từ năm 1986 đến năm
2010, với không gian nghiên cứu là tỉnh Bắc Kạn.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu:
Tư liệu thành văn: bao gồm các tác phẩm nghiên cứu của các học giả
đã công bố và xuất bản, tạp chí dân tộc học, các đề tài nghiên cứu khoa học
cũng là nguồn tư liệu để chúng tôi kế thừa và sử dụng cho đề tài.
Tư liệu điền dã: trong quá trình đi thực tế tại địa phương, tiếp xúc với
các nhân mối để khai thác nguồn tư liệu. Đó là các thầy cúng, các bậc cao


Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BẮC KẠN

1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc
Bắc Bộ Việt Nam, trong hệ tọa độ từ 21°,48' đến 22°,44' Bắc, từ 105°,26' đến
106°,14' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông – Đông Nam
giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Tây – Tây Nam
giáp tỉnh Tuyên Quang [15,tr.23].
Bắc Kạn là tỉnh nằm trên quốc lộ 3 đi từ Hà Nội lên Cao Bằng - trục
quốc lộ quan trọng của vùng Đông Bắc, đồng thời nằm giữa các tỉnh có tiềm
năng phát triển kinh tế lớn. Chính quốc lộ 3 chia lãnh thổ thành hai phần bằng
nhau theo hướng Nam - Bắc, là vị trí thuận lợi để Bắc Kạn có thể dễ dàng
giao lưu với tỉnh Cao bằng và các tỉnh của Trung Quốc ở phía Bắc, với tỉnh
Thái Nguyên, Hà Nội cũng như các tỉnh của vùng Đồng bằng sông Hồng ở
phía Nam.
Bắc Kạn có địa hình đa dạng, phức tạp, chủ yếu là đồi và núi cao. Độ
cao trung bình so với mặt biển là 500 mét. Điểm cao nhất là đỉnh Phja Dạ -
1640 mét, điểm trung bình ở Thị xã Bắc Kạn là 200 mét, điểm thấp nhất ở xã
Quảng Chu, huyện Chợ Mới là 80 mét.
Nhìn toàn cảnh, lãnh thổ Bắc Kạn nằm ở khu vực hai cánh cung là cánh
cung sông Gâm ở phía Tây và cánh cung Ngân Sơn ở phía Đông, làm cho
bình độ Bắc Kạn cao hơn các tỉnh lân cận (Lạng Sơn, Tuyên Quang). Xen vào
giữa hệ thống hai cánh cung ấy là các nếp lõm tạo thành thung lũng lưu vực
các con sông lớn như sông Cầu, sông Năng. Các thung lũng ấy cũng là các
trung tâm cư dân và vựa lúa của tỉnh Bắc Kạn [15,tr.23,24]
Địa hình đồi núi Bắc Kạn từ Tây sang Đông nổi bật lên trước hết là
cánh cung sông Gâm. Cánh cung này kéo dài từ Phja Dạ thuộc huyện Pác
Nặm theo hướng Tây Bắc – Đông Nam về phía Đông sông Gâm xuống các

môi trường thuận lợi cho thảm thực vật tự nhiên cũng như rừng trồng phát
triển. Rừng là thế mạnh kinh tế chủ yếu của Bắc Kạn. Nó còn có ý nghĩa lớn
về khoa học, bảo vệ môi trường.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
Do đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu chi phối và ở vị trí giao thoa
giữa các luồng di cư thực vật đã làm cho hệ thực vật, các thảm rừng ở Bắc
Kạn nói riêng và vùng Đông Bắc nói chung rất phong phú về chủng loại. Sơ bộ
cho thấy trên địa bàn Bắc Kạn có tới 826 loài thực vật, trong đó có hơn 300 loài
thân gỗ, hàng trăm loài cây thuốc, hơn 50 loài nằm trong sách đỏ [19,tr.36].
Bắc Kạn còn có những khu rừng nguyên sinh, một di sản thiên nhiên
quý giá. Đó là vườn Quốc gia Ba Bể với trên 400 loài thực vật và gần 30 loài
động vật. Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ lưu giữ nhiều nguồn gen thực vật
quý hiếm. Trên các đỉnh núi trung bình, núi đá vôi có nhiều loài cây thân
cứng, sinh trưởng chậm, tuổi đến hàng trăm năm như: trai, đinh, nghiến, lác,
chò, thông đỏ
Với chủ trương, chính sách của nhà nước, biện pháp tích cực của địa
phương, Bắc Kạn từ những năm 1990 trở lại đây đã phục sinh rừng tự nhiên,
kết hợp trồng mới, tạo độ che phủ lên hơn 50%. Điều đó không những có tác
dụng chống xói mòn đất bề mặt, mà vàh đai rừng phòng hộ đầu nguồn đã
khống chế phần nào lũ lụt, bảo vệ môi trường sinh thái. Rừng cung cấp nguồn
nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp giấy, vật tư xây dựng, rừng nguyên
sinh là trung tâm bảo tồn gien thực vật, nơi nghiên cứu khoa học sinh thái.
Ở Bắc Kạn hiện nay có các kiểu rừng như: Rừng nhiệt đới thường
xanh, mưa ẩm, trên núi thấp (dưới 700m) phân bố rộng rãi trên địa bàn, gồm
nhiều loài cây rậm rạp, nhiều tầng lớp xen kẽ, cả cây ưa ánh nắng cao hàng
chục mét, tầng giữa tán rộng, dưới là cây bụi, loài dây leo kéo qua các tầng.
Kiểu rừng này nếu trên núi đá vôi, thường là cây thân gỗ cứng, rễ cắm sâu

vật dụng khác từ miền xuôi lên đến bến Chợ Mới, bến Duộc bằng các thuyền
ván lớn nhỏ. Trong hoà bình lại vận chuyển che, nứa, gỗ… từ Bắc Kạn về xuôi.
Sông Năng là con sông có độ dài thứ hai sau sông Cầu bắt nguồn từ
Phja Dạ và Phja Uắc, chảy qua địa giới huyện Pác Nặm, Ba Bể. Sông Năng
dài 87 km, lưu vực rộng 890 km², lưu lượng nước trung bình hàng năm 42
m²/giây, lớn hơn cả sông Cầu [15,tr.28]. Dọc hai bên bờ sông là các bãi phù
sa đặc biệt màu mỡ. Đoạn giữa về hạ lưu, sông chảy luồn qua Động Puông
vào cuối hồ Ba Bể rồi đổ xuống thác Đầu Đẳng, hợp với sông Gâm ở Tuyên
Quang. Thuỷ sản sông Năng xưa rất dồi dào, từ dòng chính đến các chi lưu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
đều rất nhiều tôm, cá. Sông Năng còn đóng vai trò vận tải hàng hoá từ Chợ Rã
thông thương với hồ Ba Bể.
Ngoài hai con sông nói trên, ở Bắc Kạn còn có các sông như sông Bắc
Giang (nhân dân địa phương gọi là tả Lương Thượng) ở Na Rì, độ dài nội tỉnh
65 km. Đây là con sông lớn thứ ba của Bắc Kạn. Sông Bắc Giang bắt nguồn
từ Vân Tùng – Ngân Sơn, qua Thượng Quan xuống Lương Thượng theo
hướng Tây Bắc – Đông Nam gặp sông Na Rì từ Liêm Thuỷ, Xuân Dương
chảy ra Pác Cáp, rồi qua Bình Gia – Lạng Sơn sang Trung Quốc [12,tr.29].
sông Na Rì – Lương Thượng làm ẩm mát thêm huyện Na Rì vốn có phần khô
hanh. Sông này còn là nguồn cá, nguồn vàng sa khoáng. Dọc hai bên sông,
suối là các cánh đồng lúa khá tốt tươi. Nguồn thuỷ sản có nhiều loài cá quý
như anh vũ, chày đất, chép
Sông tiểu Phó Đáy gồm hai nhánh bắt nguồn từ hai xã Ngọc Phái và
Đại Sảo, chảy qua xã Bình Trung, (Chợ Đồn) trong địa phận Bắc Kạn dài 36 km.
Sông này chảy qua huyện Sơn Dương – Tuyên Quang rồi đổ vào sông Lô.
Sông Hiến (Tả Phán) bắt nguồn từ xã Cốc Đán – Ngân Sơn chảy về
phía Đông đổ vào sông Bằng Giang (Cao Bằng), độ dài nội tỉnh 22 km.

tính chất á nhiệt đới và gió mùa Đông Bắc, nên mùa xuân tuy không dài
nhưng tiết trời ấm áp.
Lượng mưa trung bình hàng năm ở Bắc Kạn trong khoảng 1400 đến
1600 mm. Cũng như chế độ nhiệt, mưa ở đây chia thành hai mùa rõ rệt: mùa
mưa trùng với mùa nắng trong năm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10. Thời
gian còn lại là mùa ít mưa. Thời kì cuối mùa khô, do độ ẩm không khí cao,
mây mù, mưa phùn gây cảm giác rất lạnh và ẩm thấp. Cuối thu đầu đông, gió
chuyển hướng từ Tây Nam sang Đông Bắc lại xuất hiện mưa ngâu.
Độ ẩm trung bình hàng năm cả tỉnh thuộc loại cao, trên 80%. Sự biến
thiên độ ẩm không đều trong năm và ngay cả trong cùng một mùa. Những
năm tháng có độ ẩm cao nhất là khi thời tiết mưa phùn và mưa ngâu, trong đó
có những ngày độ ẩm không khí đến độ bão hoà (100%). Độ ẩm tương đối và
tuyệt đối nhỏ là khi thời tiết khô ráo, trời trong xanh, vào những tháng 11 và
tháng 1 năm sau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
Bắc Kạn có nhiều loại đất khác nhau, nhiều vùng có tầng đất khá dầy,
hàm lượng mùn tương đối cao, đặc biệt một số loại đất là sản phẩm phong
hoá từ đá vôi, thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả. Nói
chung cùng với khí hậu thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi, đất đai
trong tỉnh còn khá tốt và là cơ sở quan trọng để phát triển nông, lâm nghiệp.
Về cơ cấu sử dụng đất, diện tích được khai thác hiện chiếm hơn 60%, trong
đó chủ yếu là đất lâm nghiệp. Diện tích chưa sử dụng hiện nay còn khá lớn.
Nằm ở trung tâm vùng Đông Bắc, Bắc Kạn đã từng trải qua quá trình
lịch sử địa chất, kiến tạo phức tạp. Hoạt động kiến tạo đã làm xuất hiện các
quặng khoáng thứ sinh, đá biến chất. Do đặc điểm sinh khoáng như vậy, nên ở
Bắc Kạn khá phong phú, đa dạng về tài nguyên khoáng sản và phân bố ở khắp
các huyện. Đây là một trong những thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội nói

Để tiện việc đi lại và cai trị địa bàn miền núi phía Bắc, nơi có vị trí
chiến lược trong yếu, năm Đinh Hợi (1047), vua Lý Thái Tông lần đầu tiên
cho mở đường lên phủ Phú Lương. Từ địa phận Bắc Kạn trở lên, con đường
này chủ yếu đi theo bờ Đông sông Cầu, đến Duộc thuộc xã Mỹ Thanh thì phía
Đông lên núi qua Thôm Ưng, kéo Tu Lồm sang Côn Minh – Na Rì, ngược
sông Lương Thượng lên Thượng Quan – Ngân Sơn; phía Bắc có hai ngả, một
ngả lên Nguyên Phúc, qua Sĩ Bình, xuống Hạ Quan, theo sông Hạ Liêu (Hà
Hiệu) ngược theo tả ngạn sông Năng, rồi vượt đèo theo sông Nguyên Bình sang
Cao Bằng, một ngả theo sông Hà VỊ - Vi Hương; phía Tây theo sông Cầu ngược
lên phía Chợ Đồn. Con đường quốc lộ số ba đến năm Bính Thìn (1916) mới mở
qua Bắc Kạn, su đó mở thêm tỉnh lộ đến Chợ Rã, Chợ Đồn [15,tr.17].
Kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, vua Lê Thái Tổ lập lại chủ
quyền, bờ cõi vẫn theo như cũ. Thời Lê Thánh Tông – niên hiệu Hồng Đức
thứ 21 (1490), vùng đất Bắc Kạn được gọi là phủ Thông Hoá, thuộc trấn Thái
Nguyên, nằm trong Bắc Đạo. Phủ Thông Hoá vẫn gồm các châu như thời Lý -
Trần. Riêng châu Vĩnh Thông đổi thành châu Bạch Thông. Dưới châu là các xã.
Thời Lê Trung Hưng (vua Lê chúa Trịnh 1533 – 1788), vùng đất Bắc
Kạn thuộc trấn Thái Nguyên, các đơn vị hành chính dưới trấn căn bản vẫn
như cũ. Dưới triều vua Quang Trung cũng vậy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Đến thời Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đã thực hiện một
cuộc cải cách hành chính thống nhất trong cả nước, chia đơn vị hành chính
thành các cấp tỉnh, châu - huyện, tổng, xã. Bắc Kạn thuộc tỉnh Thái Nguyên,
gồm hai châu là Bạch thông và Cảm Hoá [19,tr.47].
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách xâm lược và đô
hộ nước ta. Triều Nguyễn từng bước đầu hàng. Từ năm 1884 trở đi, chúng
đánh mạnh lên các tỉnh miền núi phía Bắc trong đó có Bắc Kạn. Chiếm được

chủ Cộng Hoà ra Nghị quyết số 103/NQ-TVQH về việc thành lập tỉnh Bắc
Thái trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên nhằm đáp ứng nhu
cầu tăng cường lực lượng cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu của dân tộc.
Ngày 14 tháng 4 năm 1967, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 50/CP
về việc thành lập thị trấn Bắc Kạn trực thuộc huyện Bạch Thông. Ngày 29
thánh 12 năm 1978, do nhu cầu tăng cường lực lượng để bảo vệ vùng lãnh thổ
biên giới phía Bắc, được sự đồng tình của nhân dân hai tỉnh Bắc Kạn và Cao
Bằng, Quốc hội đã quyết định tách hai huyện Ngân Sơn và Chợ Rã nhập vào
tỉnh Cao Bằng. Từ đó huyện Chợ Rã đổi thành huyện Ba Bể.
Tiếp đó đến ngày 16 tháng 7 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết
định “giải thể thị trấn Bắc Kạn thuộc huyện Bạch Thông thành lập thị xã Bắc
Kạn thuộc tỉnh Bắc Thái”. Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân các dân tộc và
yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội khoá IX, kì họp thứ mười đã
phê chuẩn việc chia lại địa giới hành chính của một số tỉnh. Trong đó tỉnh Bắc
Thái được chia thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên.
Nhày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bắc Kạn chính thức được tái lập. Các
huyện Ngân Sơn, Ba Bể tái nhập lại vào tỉnh Bắc Kạn, thành lập thêm huyện
Chợ Mới trên cơ sở tách từ phần đất phía Nam huyện Bạch Thông. Ngày 28
tháng 5 năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 56/2003/NĐ-CP về việc
thành lập huyện Pác Nặm trên cơ sở tách huyện Ba Bể [19,tr.49,50].
Như vậy, trải qua không ít những thay đổi về địa dư hành chính, hiện
nay tỉnh Bắc Kạn được chia thành 8 đơn vị hành chính bao gồm 7 huyện và
thị xã Bắc Kạn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
Phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng vẻ vang,
trong thời kì xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh đến

27.505
9,3%

5
Mông
17.470
5.9%

6
Hoa
2118
0.7%

7
Sán Chay
976
0.3% (Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn, năm 2009)

Dân tộc Tày có số dân đông nhất chiếm 52,7% dân số toàn tỉnh. Một bộ
phận cơ bản người Tày Bắc Kạn có nguồn gốc lâu đời từ thời nguyên thuỷ
đến nay. Người Tày phân bố ở tất cả các huyện và hầu khắp các xã trong tỉnh.
Họ chủ yếu sống ở vùng thấp, trong các thung lũng ven đồi núi, ven sông
suối, nơi có ruộng lúa nước, quy tụ lại thành Bản, Nà, Khuổi…
Dân tộc Dao chiếm trên 17,5% dân số, gồm 3 ngành cơ bản là Dao Đại
Bản, Dao Tiểu Bản, Dao Áo Dài. Trong mỗi ngành Dao lại có các nhóm Dao
khác nhau. Mói chung dân tộc Dao sống phân cư ở nhiều vùng, nguồn sống
chủ yếu là nương rẫy, chăn nuôi đại gia súc và một sô ít làm ruộng lúa nước.

huyện Chợ Mới. Trong ngôn ngữ người Sán Chay ở Bắc Kạn, yếu tố ngôn
ngữ Tày mờ nhạt, chủ yếu thể hiện trong văn hoá dân gian và tập quán ở nhà
sàn, làm lúa nước.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
Trong quá trình cộng cư, các thành phần dân tộc tỉnh Bắc Kạn luôn gắn
bó, giúp đỡ nhau trong sản xuất, sinh hoạt cũng như trong cuộc đấu tranh xây
dựng và bảo vệ quê hương đất nước. Chính nhờ đó, đồng bào đã tạo nên
truyền thống đoàn kết dân tộc vô cùng quý báu. Ngày nay đồng bào các dân
tộc Bắc Kạn đang ra sức phát triển kinh tế, văn hoá, xây dựng quê hương, bản
quán ngày càng giàu đẹp.
1.3.2. Dân tộc Dao ở Bắc Kạn
1.3.2.1. Tên gọi và nguồn gốc lịch sử
Cho đến nay tên gọi của người Dao ở nước ta vẫn chưa được minh
định. Trên báo chí, đài phát thanh, trong những luận văn, những công trình
nghiên cứu của những làm công tác dân tộc và dân tộc học, người ta vẫn gọi
người Dao bằng những tên gọi khác nhau. Trong cùng một luận văn, một
cuốn sách, tên gọi của người Dao cũng không được gọi nhất quán từ đầu đến
cuối, đoạn này gọi là Mán, đoạn sau lại gọi là Dao, thậm chí trong một bảng
thống kê người ta thấy cả Mán và Dao, khiến cho người đọc lầm tưởng là hai
tộc người khác nhau [7,tr.15].
Trong dân gian người ta còn gọi người Dao bằng nhiều tên gọi khác
nhau như Động, Dao, Xá Đó chính là tên gọi do các dân tộc khác gán cho
họ, còn chính người Dao lại tự nhận mình là “Kiềm miền” hay “Dìu miền”
[14,tr.6]. Tên gọi “Kiềm miền” tức là “người ở rừng núi”, tên gọi này chỉ là
một tên phiếm xưng vì cùng với người Dao còn có tộc người khác sống ở
miền núi. Tên tự gọi nữa của đồng bào là “Dìu miền”, phát theo âm Hán Việt
Dìu là Dao, miền là người, có nghĩa là “người Dao”. Tên gọi Dao được nhắc

khoảng thế kỉ XIII cho tới đầu thế kỉ XX, họ đi bằng đường thủy là chủ yếu.
1.3.2.2. Các nhóm Dao
Trước khi đi vào vấn đề này cần đề cập đến thuật ngữ “nhóm” được
dùng ở đây. Việc áp dụng chưa thống nhất, người này gọi là “nhóm Dao”,
người kia gọi là “ngành Dao” mà không ai nói đến nội dung của các thuật ngữ
đó ra sao. Nhóm ở đây được dùng với nghĩa là các tập đoàn địa phương có
chung nguồn gốc lịch sử, nhưng chỉ khác nhau về một số đặc điểm sinh hoạt
và văn hóa, các nhóm Dao ở Việt Nam là như vậy [7,tr.24].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

20
Do nhiều biến cố lịch sử như hạn hán, mất mùa liên tiếp nhiều năm, bị
chiến tranh tàn phá, bị áp bức bóc lột, khiến cho người Dao từ miền Nam
Trung Quốc phải phân tán thành nhiều nhóm nhỏ thiên di đi khắp nơi, một số
nhóm đã vào Việt Nam. Trên đường di cư các nhóm đã tiếp thu những yếu tố
văn hóa mới cũng nảy sinh, hình thành những phong cách riêng của từng
nhóm và họ cũng mang thêm những tên gọi do các tộc người khác gán cho họ.
Mặc dù vậy các nhóm vẫn luôn luôn nhận rõ mối liên hệ giữa họ với nhau là
cùng chung một nguồn gốc lịch sử, cùng chung một ông tổ. Điều này đã được
phản ánh trong các câu chuyện truyền khẩu, trong các thư tịch cổ của người
Dao như đã nói ở trên.
Trải qua quá trình phát triển lịch sử của mình trên đất nước Việt Nam,
các nhóm Dao vẫn sống trong tình trạng không ổn định vì cuộc sống du canh
du cư và các nhóm Dao vào Việt Nam lại không cùng một thời kì cho nên quá
trình hình thành dân tộc diễn ra rất chậm chạp và chúng ta vẫn thấy pử họ
nhiều yếu tố văn hóa địa phương. Về mặt hình thức, những yếu tố văn hóa
này lại lộ ra một cách rõ nét nên dễ làm cho người ta nhận thấy hơn là những
yếu tố văn hóa chung của khối Dao. Tình trạng đó không chỉ làm cho chúng
ta khó thấy cái chung - cái thống nhất của toàn khối Dao mà bản thân việc xác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status