Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
─────────────
PHÙNG THỊ SINH
TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ TÍN NGUỠNG, TÔN GIÁO
CỦA NGUỜI MÔNG Ở ĐỒNG VĂN (HÀ GIANG) TRƯỚC
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐÀM THỊ UYÊN
Thái Nguyên - năm 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐỒNG VĂN TỈNH HÀ GIANG........... 6
1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên ......................................................... 6
1.2. Đồng Văn qua các thời kì lịch sử ......................................................... 8
1.3. Khái quát về dân tộc Mông .................................................................. 9
Huyện Đồng Văn là địa bàn xung yếu, phên dậu của cửa ngõ Việt Nam
ở phía Bắc và cũng là một trong những nơi tiếp nhận di dân người Mông từ
bên kia biên giới sang Việt Nam sinh sống sớm nhất. Đến nay, người Mông là
cư dân có số lượng đông đảo nhất ở Đồng Văn nói riêng và tỉnh Hà Giang nói
chung. Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình dân tộc Mông cùng các
dân tộc thiểu số anh em khác đã có những đóng góp quan trọng trong lịch sử
xây dựng và phát triển tỉnh Hà Giang.
Tuy cư trú trên vùng đất ít thuận lợi, nhiều khó khăn nhưng dân tộc
Mông ở Đồng Văn (Hà Giang) trong lịch sử lại có một tổ chức xã hội, chính
trị đáng lưu ý bên cạnh một kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể vô cùng
phong phú độc đáo và giàu bản sắc. Vì lẽ đó mà tình hình chính trị, kinh tế,
văn hoá - xã hội của đồng bào Mông đã trở thành đối tượng nghiên cứu về
dân tộc học, lịch sử, khoa học xã hội nhân văn nói chung của nhiều cơ quan
và nhà khoa học dưới nhiều góc độ khác nhau song cho đến nay chưa có một
công trình nào nghiên cứu về tổ chức xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của
người Mông ở Đồng Văn trước cách mạng tháng Tám một cách thấu đáo và
toàn diện.
Cùng với thực tế hiện nay, các dân tộc ít người trong đó có dân tộc
Mông ở Đồng Văn trình độ dân trí còn thấp, trình độ phát triển kinh tế còn
nhiều hạn chế. Trong khi đó kẻ thù và các thế lực thù địch lợi dụng phong tục,
tập quán, tín ngưỡng kết hợp sửa đổi giáo lý đạo Tin Lành để mê hoặc, lôi
kéo, xúi giục đồng bào người Mông chống phá đường lối chính sách của
Đảng và Nhà nước ta, thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình" của chúng. Do
đó, đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của đồng bào người Mông cũng như
2
các dân tộc anh em trên địa bàn và gây mất ổn định trong nước cũng như khu
vực. Thực trạng đó đặt ra thách thức mới trong việc hoạch định chính sách
dân tộc, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mông để tăng cường
khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững ổn định trật tự an ninh quốc gia.
Tìm hiểu về tổ chức xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của người Mông ở
2001)” của Tỉnh uỷ – Hội đồng nhân dân – Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang,
nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội năm 2001. Đây là một cuốn thông sử
được biên soạn, trình bày toàn diện và có hệ thống về các lĩnh vực trọng yếu:
tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, lịch sử, văn hoá, dân tộc… của tỉnh Hà
Giang từ khi thành lập đến nay.
- “Lịch sử Đảng bộ huyện Đồng Văn (1944 – 1975)” tập I Ban chấp
hành Đảng bộ huyện Đồng Văn xuất bản năm 2004 cũng là một công trình
nghiên cứu khoa học công phu, tái hiện lại lịch sử truyền thống hào hùng của
nhân dân các dân tộc Đồng Văn trong đó có đồng bào Mông trong cuộc đấu
tranh chống thổ ty phong kiến, đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục kinh tế,
văn hoá xã hội, phát triển sản xuất, xây dựng đời sống mới.
- Luận văn thạc sĩ “Cuộc vận động định canh, định cư đối với đồng bào
Mông huyện Đồng Văn – Hà Giang trong thời kì đổi mới (1986 – 2005)”
chuyên ngành lịch sử Việt Nam của thạc sĩ Lâm Thị Thu Hằng là một đề tài
nghiên cứu cụ thể và có hệ thống về tình hình kinh tế của đồng bào Mông
trong cuộc vận động định canh định cư của Đảng và Nhà Nước ta.
Đây là tổng quát kết quả nghiên cứu của giới học thuật, là những gợi
mở quý báu, tạo điều kiện để chúng tôi thực hiện đề tài của mình.
4
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu: Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm tìm hiểu
về lịch sử địa phương mình đồng thời góp phần phản ánh một cách khoa học,
chân thực về lịch sử hình thành, tổ chức xã hội, chính trị, văn hoá tín ngưỡng
tôn giáo của dân tộc Mông và bổ sung thêm nguồn tư liệu lịch sử địa
phương cho quá trình giảng dạy và nghiên cứu.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài đi sâu giải quyết các vấn đề về tổ chức
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo của người Mông ở Đồng Văn ( Hà Giang) trước
cách mạng tháng Tám năm 1945.
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn gốc dân tộc, tổ chức xã hội, quan hệ
giai cấp, quan hệ xã hội, tín ngưỡng và tôn giáo của người Mông ở Đồng Văn
phổ thông sau này. Đồng thời làm cơ sở cho các nhà khoa học hoạch định
chính sách dân tộc, góp phần thực hiện mục tiêu bảo tồn và phát huy bản sắc
văn hoá truyền thống của dân tộc Mông nói riêng và các dân tộc thiểu số ở Hà
Giang nói chung.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 80 trang, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được
chia làm 3 chương sau:
Chương 1: Khái quát về huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang.
Chương 2: Tổ chức xã hội của người Mông ở Đồng Văn (Hà Giang)
trước cách mạng tháng Tám năm 1945.
Chương 3: Tín ngưỡng và tôn giáo của người Mông ở Đồng Văn (Hà
Giang) trước cách mạng tháng Tám năm 1945.
Luận văn còn có các phần: Bản đồ hành chính và phụ lục .
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH HÀ GIANG BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN ĐỒNG VĂN TỈNH HÀ GIANG Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐỒNG VĂN TỈNH HÀ GIANG
1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Đồng Văn là một huyện miền núi cao của tỉnh Hà Giang, điểm cực Bắc
của Tổ quốc Việt Nam. Huyện Đồng Văn có vị trí địa lý trong toạ độ từ 23
0
độ trung bình hàng năm từ 17
0
-19
0
C, lượng mưa trung bình hàng năm từ
1600mm-2000mm, chế độ thuỷ văn mỗi năm chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa
mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Vào mùa này, mưa lớn gây ra xói lở mạnh, giao
thông gặp nhiều khó khăn. Mùa khô từ tháng 11đến tháng 4 năm sau, thường
có sương muối, sương mù, nhiệt độ có lúc xuống tới 4-5
0
c như ở Phố Bảng,
Lán Xì…thời tiết khí hậu khắc nghiệt vào mùa đông (tháng 11, 12) ít mưa nên
nguồn nước sinh hoạt và sản xuất rất khan hiếm gây rất nhiều khó khăn cho
cuộc sống của con người.
Đồng Văn có con sông lớn nhất là sông Nho Quế, bắt nguồn từ các dãy
núi phía tây bắc của huyện chảy qua Ma Lé, Đồng Văn sang Mèo Vạc và Bắc
Mê rồi đổ vào sông Gâm. Sông Nho Quế là nguồn thuỷ sinh quan trọng trong
sự phát triển thuỷ điện và tưới tiêu cũng như nước sinh hoạt hằng ngày và
điều hoà khí hậu, mùa đông dòng sông đầy ắp sương mù. Ngoài ra, còn có các
con suối nhỏ khác như Lũng Táo, suối Đồng Văn, suối Phó Bảng nhưng đến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
mùa mưa mới có nước. Quá trình tạo sơn tự nhiên lâu đời trên địa hình núi đá
vôi đã để lại cho Đồng Văn những thắng cảnh đẹp.
Khí hậu mang tính chất ôn đới là điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho
việc trồng các loại cây ăn quả như lê, mận, đào, táo …và các cây dược liệu
quý như thảo quả, đỗ trọng, ý dĩ...
Rừng Đồng Văn vốn là một thảm thực vật đa dạng, phong phú, thích
hợp cho sự phát triển nhiều loại cây gỗ quý. Tuy nhiên do khai thác bừa bãi
nghiệt…những điều kiện sẵn có đó đã chi phối đặc điểm đời sống kinh tế, xã
hội của người dân trên vùng cao nguyên đá này.
1.2. Đồng Văn qua các thời kì lịch sử
Huyện Đồng Văn trước đây là tổng Đông Quang thuộc Châu Bình
Nguyên, phủ Tương Yên, tỉnh Tuyên Quang sau đó thuộc về Châu Bảo Lạc
do một thổ quan người Tày họ Nông ở Bảo Lạc cai quản như một lãnh địa.
Khi thực dân Pháp xâm lược, chúng tách khu vực vùng cao của tỉnh Tuyên
Quang, thành lập tỉnh Hà Giang vào năm 1891, Đồng Văn được tách ra khỏi
Bảo Lạc [1,tr.9].
Châu Đồng Văn bao gồm hai tổng: Tổng Quang Mậu và Tổng Đông
Minh. Trong đó, tổng Quang Mậu bao gồm các xã: Lũng Cô, Mìa Ré, Mai Li
Ăng, Đồng Văn, Sủng Máng, Sơn Vi, Chung Phùng, Sả Phung, Niêm Sơn.
Tổng Đông Minh bao gồm các xã: Yên Minh, Mậu Duệ, Bạch Đích, Na Khê,
Ngam La, Sà Phìn, Mèo Vạc, Lũng Chín, Lũng Tỉnh, Phú Cao, Sủng Là, Vần
Chải, Đường Thượng, Lũng Phìn [17, tr.274-290].
Theo Ngô Vi Liễn công bố trong địa dư các tỉnh Bắc Kỳ. Xuất bản năm
1928 thì Đồng Văn là một trong hai đại lý của tỉnh Hà Giang gồm các tổng
xã: Tổng Quang Mậu và tổng Đông Minh gồm 19 xã: Đồng Văn, Bạch Đích,
Sà Phìn, Lũng Phìn, Đường Thượng, Lũng Chinh, Mậu Duệ, Mèo Vạc, Niêm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Sơn, Na Khê, Ngam La, Phú Lũng, Sủng Máng, Sơn Vĩ, Phố Cáo, Sủng Là,
Sủng Thài, Vần Chải, Yên Minh.
Cuối năm 1975, hai tỉnh Hà Giang – Tuyên Quang được sáp nhập thành
tỉnh Hà Tuyên và tới tháng 10 năm 1991 lại được tách thành Tuyên Quang và
Hà Giang. Đồng Văn là một trong 7 huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang. Theo
nghị quyết của Hội đồng chính phủ, quyết định số 211/CP tách Đồng Văn ngày
15/12/1962 đã tách Đồng Văn làm 3 huyện: Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc.
Huyện Đồng Văn ngày nay bao gồm 2 thị trấn và 18 xã: thị trấn Phó
Á. Do đó có thể nói quá trình thiên di này là cuộc hành trình gian khổ đi tìm
cuộc sống tự do và công bằng.
Dân tộc Mông di cư vào Việt Nam chia làm nhiều đợt trong đó ba thời
kì đông nhất:
Thời kì đầu tiên cách đây hơn 300 năm, người Mông từ Quý Châu
(Trung Quốc) di cư sang Đồng Văn. Thời kì này người Mông ở Quý Châu
đang nổi lên phong trào đấu tranh chống chính sách “cải tù quy lưu” của nhà
Thanh (chính sách bãi bỏ tù trưởng người Mông, triều đình đưa bọn quan lại
người Hán trực tiếp đến cai trị từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XVIII) song
phong trào bị thất bại.
Thời kì thứ hai, cách đây 300 năm, lần này người Mông vào Việt Nam
qua hai con đường: Một là vào Đồng Văn - Hà Giang, hai là vào theo đường
Ximakai - Bắc Hà - Lào Cai. Những người Mông di cư vào Việt Nam đợt này
phần lớn ở Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc). Với sử sách
Trung Quốc thì thời kì này phù hợp với phong trào khởi nghĩa của người
Mông ở Quý Châu thất bại (1776-1820) [13, tr.14].
Thời kì thứ ba, cách đây trên 200 năm. Đây cũng là thời kì người Mông
ở Trung Quốc di cư sang Việt Nam đông hơn cả và nó tương đương với thời
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
gian người Mông nhiệt tình hưởng ứng phong trào “Thái Bình Thiên Quốc”
đấu tranh chống nhà Thanh, cuộc đấu tranh kéo dài từ 1840-1868.
Những năm về sau, người Mông vẫn rải rác di cư sang Việt Nam. Với
vị trí là mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, huyện Đồng Văn (Hà Giang) là khu
vực người Mông từ Trung Quốc sang nước ta sớm hơn các địa phương khác,
cách đây 300 năm vào cuối thời nhà Minh đầu thời nhà Thanh. Ban đầu họ
sống trên các triền núi dọc hai bên bờ sông Nho Quế dần dần mới mở rộng địa
bàn cư trú ra các vùng thấp hơn.
Hiện nay, Mông là dân tộc đông nhất ở Hà Giang và cũng là dân tộc
Mông còn gìn giữ và bảo lưu được nhiều giá trị văn hoá truyền thống phong
phú, tốt đẹp của dân tộc mình.
1.3.2.Vài nét về văn hóa truyền thống
- Văn hoá vật chất:
Nguồn sống chính của người Mông là dựa vào canh tác nương rẫy.
Nương có hai loại là nương định canh và nương du canh, nương định canh gọi
là nương thổ canh hay thổ canh hốc đá. Nương du canh phụ thuộc vào thiên
nhiên, năng suất không ổn định. Ngày nay, người Mông làm nương theo chế
độ luân canh kết hợp với trồng, bảo vệ rừng và làm ruộng bậc thang .
Lương thực chính của người Mông là cây ngô, một số nơi có nước,
người Mông làm ruộng bậc thang trồng lúa trên sườn núi. Ngoài ra người
Mông còn trồng thêm các loại cây khác như sắn, khoai, thực phẩm, rau xanh
(đậu, rau rền, vừng…), cây dược liệu (đỗ trọng, tam thất, ý dĩ..), cây ăn quả
(mận, mơ, lê, đào, chuối…), đặc biệt chú trọng trồng cây lanh để dệt vải, nuôi
gia súc (bò, ngựa) để làm phương tiện canh tác và vận chuyển.
Người Mông đã đạt đến trình độ cao trong kĩ thuật rèn công cụ lao
động bằng sắt và kĩ thuật cày nương hốc đá, chỉ cần đủ lọt lỡi cày là người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Mông có thể điều khiển trâu bò cày hết phần đất đó. Cùng với những dụng cụ
trên thì cuốc, dao, liềm, quẩy tấu cũng là những dụng cụ gắn bó với cuộc sống
lao động của người Mông.
Dụng cụ sinh hoạt hằng ngày của người Mông khá đơn giản, phương
tiện nấu nướng thường dùng là bếp lò, chảo, chậu gỗ… trên bếp lò thường
bắc một chiếc chảo lớn, chảo đó vừa để nấu canh, vừa dùng để nấu mèn
mén, nấu rượu hoặc dùng để nấu cám lợn. Trong mỗi gia đình người Mông
thường có chiếc cối xay lớn để xay ngô, xay thóc, cối giã gạo, khung dệt
vải lanh, đồ nghề một số nghề thủ công như rèn, mộc, tiện…
Về ăn uống, từ cây lương thực chính là ngô, người Mông chế biến
văn hoá truyền thống Mông mang những dáng vẻ đặc sắc.
Người Mông thường sống rải rác thành từng bản nhỏ theo dòng họ.
Đây được coi như là một đơn vị tự quản, các thành viên trong đó đều phải
chấp hành những luật tục và những quy định cụ thể.
- Văn hoá tinh thần:
Về tín ngưỡng tôn giáo: Ngoài thờ tổ tiên, người Mông sùng bái nhiều
thần linh nên “ vạn vật hữu linh ” là tín ngưỡng bao trùm của họ.
Trong nghi thức thờ cúng tổ tiên, các gia đình người Mông đều có bàn
thờ tổ tiên ở gian giữa. Bàn thờ rất đơn giản, bát hương chỉ có một ống vầu
hoặc nứa gắn vào vách hoặc đặt trên một tấm ván. Trên bàn thờ có quét dính
tiết gà, lông gà. Người Mông không thờ thổ công trong nhà. Trong tang ma,
người Mông tổ chức rất chu đáo dù người mất là trẻ hay già đều có phong tục
làm đám “ ma tươi ” và “ ma khô ”.
Lễ hội của người Mông cũng được chuẩn bị rất chu đáo vì đây không
chỉ là dịp được nghỉ ngơi, ăn uống thoả thích mà còn là dịp gặp gỡ, làm tròn
nghĩa vụ với gia đình, tổ tiên, đồng tộc. Vào dịp lễ tết bà con người Mông tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
chức hội vui, đánh yến, ném còn, đu quay, chơi đánh cù, hát giao duyên. Đặc
sắc nhất là chợ tình, mỗi năm chỉ có một phiên được tổ chức vào tháng 2 hoặc
tháng 3 âm lịch hàng năm.
Hôn nhân của người Mông theo chế độ một vợ một chồng được tiến
hành qua 3 giai đoạn chính: Dạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ cưới. Một cổ tục đặc sắc
trong tình yêu - hôn nhân của người Mông là tục cướp vợ (kéo vợ), về hình
thái hôn nhân là tàn dư của hôn nhân thời kỳ quá độ từ chế độ mẫu quyền
sang chế độ phụ quyền. Đây có thể là hình thức phát sinh để chống lại quyền
áp đặt của cha mẹ và dòng họ về hôn nhân.
Làm giàu thêm văn hoá truyền thống Mông là kho tàng văn hoá nghệ
thuật dân gian phong phú: truyện cổ tích, truyện thơ, tục ngữ, câu đố, dân ca,
hay những hình ảnh sống động trên tranh cắt giấy.
Có thể thấy rằng đồng bào dân tộc Mông ở Đồng Văn có đời sống văn
hoá vật chất và tinh thần khá phong phú, đa dạng cùng tồn tại và phát triển
trong nền văn hoá truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam [1, tr.10].
Chính trên nền tảng của sinh hoạt vật chất tinh thần đó mà trong quá trình đấu
tranh sinh tồn và phát triển người Mông đã làm nên một bề dày truyền thống
anh hùng. Đó là tinh thần cần cù, chịu khó, kiên cường, sáng tạo vượt qua mọi
thách thức, khó khăn để sinh tồn. Đó là tinh thần quật khởi trước các thế lực
phong kiến cường quyền áp bức bóc lột và thực dân phát xít xâm lược để bám
đất giữ làng, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Truyền thống tốt đẹp
đó đã trở thành điểm tựa cho các thế hệ tiếp theo phát huy, xây dựng sức sống
mãnh liệt của nhân dân các dân tộc nơi đây nhất là từ khi có sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
Chương 2: TỔ CHỨC XÃ HỘI CỦA NGƯỜI MÔNG Ở ĐỒNG VĂN
(HÀ GIANG) TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Mỗi dân tộc đều có cấu trúc xã hội truyền thống mang những nét đặc
thù riêng, sự hoạt động của nó tồn tại qua nhiều đời đến nay vẫn tiếp diễn.
Bên cạnh những yếu tố lạc hậu, tiêu cực cần loại bỏ thì trong nó chứa đựng
không ít những yếu tố tích cực ảnh hưởng đến sự phát triển của nông thôn
hiện nay, sự vận hành của nó cũng chính là nơi gìn giữ bảo lưu các giá trị văn
hóa của mỗi tộc người. Tổ chức xã hội của người Mông ở Đồng Văn là một
điển hình về tổ chức xã hội của tộc người cư trú ở địa bàn miền núi.
2.1. Tổ chức gia đình và dòng họ.
2.1.1. Tổ chức gia đình
Gia đình là loại hình chung sống mang tính chất giới tính được liên kết
lại nhờ hôn nhân nhằm để tái sản xuất cả về phương diện sinh học, lẫn
phương diện kinh tế và văn hóa [50, tr.167]. Gia đình người Mông phản ánh
con gái ngoài làm nương rẫy còn đảm nhận hoàn toàn việc nhà và xe lanh dệt
vải. Người già, trẻ em trong nhà phụ giúp chăn thả trâu bò, cắt cỏ ngựa.
Cũng như các dân tộc khác ở Hà Giang, gia đình người Mông ở Đồng
Văn thể hiện ý thức phụ quyền đậm nét. Điều này phản ánh rõ qua mối quan
hệ giữa các thành viên trong gia đình, dù đó là tiểu gia đình hay đại gia đình
thì vai trò quyết định thuộc về chủ gia đình (chi plo) là người cha (người
chồng hoặc anh cả).
Trong lĩnh vực sản xuất, chủ gia đình là người chỉ đạo tổ chức và phân
công lao động cho các thành viên phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe và khả năng
của mỗi người. Chủ gia đình là người đảm nhận việc khấn tổ tiên, đón thầy
cúng và nhiều công việc khác mà theo phong tục người phụ nữ không được
làm. Trong quan hệ với bên ngoài, chủ gia đình thay mặt gia đình trong các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
công việc của làng bản, tiếp đón khách nhất là người thuộc dân tộc khác, giải
quyết những vấn đề nảy sinh liên quan đến lợi ích của gia đình và các thành
viên trong đó, giữ gìn quan hệ đoàn kết giữa gia đình với dân bản nói chung.
Tính chất phụ quyền còn biểu hiện trong quan hệ tài sản, chỉ con trai
mới có quyền thừa kế tài sản. Khi chủ gia đình còn sống, toàn bộ tài sản thuộc
quyền quản lý và phân phối của ông ta. Trường hợp chủ gia đình chết thì
người anh trai cả sẽ thay mặt cha mẹ quản lý số tài sản chung đó. Khi chia tài
sản, anh em trai được chia phần bằng nhau nhưng nếu ai trực tiếp phụng
dưỡng bố mẹ thì nhiều hơn một chút so với các anh em còn lại. Trong trường
hợp vợ chồng con cái muốn ra ở riêng khi cha mẹ còn sống thì chỉ được chia
một phần tối thiểu tài sản theo ý của người cha. Người con gái không được
chia tài sản nhưng khi đến tuổi trưởng thành có thể tự đi làm thuê, phát nương
để tích lũy một số đồ dùng của cải sau này mang đến nhà chồng.
Trong gia đình, vợ chồng bình đẳng trong việc nuôi dạy con cái song
khi con lớn thì quyền quyết định dựng vợ gả chồng hay làm ăn, học hành
gọi là lễ “thành phà” lúc đó mới được tự do.
Xét một cách tổng thể, trong quan hệ gia đình của người Mông, sự bình
đẳng chỉ là tương đối vì ý thức phụ quyền mạnh, uy quyền thuộc về người đàn
ông cho thấy chế độ gia trưởng xuất hiện, điều hành toàn thể các thành viên
và công việc trong gia đình. Ý thức “trọng nam khinh nữ ” tồn tại rất đậm nét
trong xã hội truyền thống của người Mông, ngày nay những tập tục quá hà
khắc đã bị đẩy lùi song những dấu vết còn lại mang tính quy định trong đời
sống xã hội vẫn còn tồn tại. Thông qua gia đình mỗi thành viên đều hình
thành và tự học được các nếp ứng xử, từ gia đình, người con trai Mông biết
thổi khèn, thổi sáo, người con gái Mông biết thêu thùa, biết múa, biết hát giao