ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LỮ THỊ NGỌC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO IN PHỤC VỤ
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
(Khảo sát trường hợp người Thái ở Tương Dương,
Nghệ An)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Nghệ An)
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Thị Thu Hương
Hà Nội, 2010
1
cho họ 83
3.3. Nhận xét, đánh giá của đồng bào dân tộc Thái về tờ "Dân tộc và Phát
triển" 90
3.4. Kiến nghị của đồng bào dân tộc Thái (Tương Dương) đối với tờ báo Dân
tộc và Phát triển 95
KẾT LUẬN 97
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO CHÍ PHỤC VỤ
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Báo chí có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống của đồng bào dân
tộc vùng sâu, vùng xa. Nhận thức rõ vai trò của báo chí trong công tác tư
tưởng đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước rất quan
tâm đầu tư cho lĩnh vực này. Ngày 31 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng Chính
phủ ký Quyết định số 1637/QĐ-TTg về việc cấp một số loại báo, tạp chí cho
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đến ngày 20 tháng 7 năm 2006,
Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành quyết định số 975/QĐ-TTg thay thế
quyết định 1637/QĐ-TTg về việc cấp miễn phí 18 số báo và tạp chí cho đồng
bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Đây là một chủ trương đúng đắn thể hiện sự quan tâm chăm lo của
Đảng và Nhà nước đến đời sống vật chất lẫn tinh thần của nhân dân vùng
đồng bào dân tộc thiểu số.
Cùng với báo chí cả nước, báo chí dành cho đồng bào dân tộc thiểu số
đã có nhiều cố gắng, bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, làm tốt công tác
tuyên truyền, phản ánh kịp thời những vấn đề, sự kiện lớn ở vùng dân tộc và
miền núi (DT&MN). Theo đó, báo chí dành cho đồng bào dân tộc thiểu số đã
góp phần tích cực vào việc chuyển tải chủ trương, đường lối của Đảng, chính
định chính sách và các nhà truyền thông có thể tìm ra phương pháp, cách thức
thông tin phù hợp để đạt hiệu quả tuyên truyền cao nhất.
5
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đã có một số khóa luận và luận văn nghiên cứu về đề tài báo chí dành
cho đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số như tìm hiểu về các ấn phẩm dành
cho đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số hay nghiên cứu về những nội dung
cụ thể được phản ánh trên các ấn phẩm này. Ví dụ:
- “Tin ảnh dân tộc và miền núi với vấn đề bảo lưu và phát triển
vốn văn hóa các dân tộc thiểu số” của Âu Văn Vượng (K36).
- Phương pháp thể hiện tin trên “Tin ảnh Dân tộc và Miền núi” của
Phạm Phương Thảo (K37).
- “Báo chí với vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khỏe đồng bào dân
tộc miền núi” của Trần Thị Minh (1997) (Khảo sát trên báo Nhân Dân và Tin
ảnh Dân tộc và Miền núi).
- “Thông tin kinh tế của tin ảnh Dân tộc và miền núi với việc góp
phần phát triển kinh tế của đồng bào miền núi” của Nguyễn Thị Thu Hương.
- “Sự phản ánh công tác xóa đói giảm nghèo trên chuyên đề Dân
tộc và Miền núi” của Nguyễn Thu Hiền (K41)
- Đặc biệt là gần đây nhất là luận văn: “Các ấn phẩm báo chí của
Thông tấn xã Việt Nam phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thời
kỳ đổi mới” của Trương Văn Quân.
Tuy nhiên, tất cả các luận văn, khóa luận nêu trên chỉ mới nghiên cứu
một (hoặc một số) khía cạnh về nội dung thông tin mà các nhà báo sáng tạo
và cung cấp cho đối tượng tiếp nhận – đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời,
phần nhiều các công trình tập trung nghiên cứu các ấn phẩm báo chí của
6
Thông tấn xã Việt Nam, hoặc báo Nhân dân, chứ chưa có công trình nghiên
về hệ thống báo chí dành cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời khảo sát
thực tế nhu cầu, thói quen, khả năng tiếp nhận thông tin của đồng bào dân tộc
thiếu số và đặc biệt là những nhận xét, đánh giá của họ về những ấn phẩm
dành riêng cho mình, từ đó đưa ra những đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao
chất lượng các ấn phẩm này.
Để đạt được mục đích trên luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu về vai trò của công chúng trong quy trình truyền thông,
đặc biệt là vai trò của công chúng báo chí với hiệu quả của quá trình truyền
thông.
- Nghiên cứu về diện mạo báo chí dành cho đồng bào dân tộc thiểu
số, những thành công và hạn chế của báo chí dành cho đồng bào dân tộc thiểu
số, và đặc biệt nghiên cứu tìm hiểu tờ ‘Dân tộc và Phát triển’ để đưa ra đánh
giá về ưu, nhược điểm của tờ báo đối với công tác thông tin tuyên truyền cho
đồng bào dân tộc thiểu số.
- Đánh giá nhu cầu, thói quen và khả năng tiếp nhận thông tin của
đồng bào dân tộc thiểu số.
- Thu thập và tìm hiểu những nhận xét, đánh giá của đồng bào dân
tộc thiểu số về những ấn phẩm dành riêng cho họ, đặc biệt là tờ báo “Dân tộc
và Phát triển”. 8
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các ấn phẩm báo chí dành cho
đồng bào dân tộc thiểu số và công chúng đồng bào dân tộc thiểu số - đối
tượng tiếp nhận những ấn phẩm thông tin này.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu các ấn phẩm báo in
dành riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số kể sau khi có quyết định 975/QĐ-
TTg của Thủ Tướng Chính Phủ, đặc biệt là tờ “Dân tộc và Phát triển” (trong
thời gian từ 2008-2010).
Lượng đại diện cho xã dọc sông, xã Yên Hoà là xã vùng sâu, xã Thạch Giám
là xã nằm gần trung tâm huyện và thị trấn Hoà Bình. Ngoài ra, đề tài cũng
phát phiếu để lấy ý kiến của Uỷ Ban dân tộc và Miền núi tỉnh Nghệ An, cơ
quan quản lí, giám sát chương trình này ở địa phương.
Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các phương pháp quan sát, phân tích,
tổng hợp, so sánh….
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về công chúng cũng như nghiên cứu về
báo chí dành cho đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số nhưng đây là lần đầu
tiên có một công trình nghiên cứu về công chúng đồng bào dân tộc thiểu số,
và tìm hiểu những ý kiến, đánh giá của họ về các ấn phẩm dành riêng cho
mình.
10
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tạo cơ sở cho các nhà
hoạch định chính sách báo chí, chính sách về đồng bào dân tộc thiểu số có
những chính sách hợp lí, mang lại hiệu quả thiết thực.
Luận văn là một trong những nguồn tư liệu thực tế hữu ích để các cơ
quan báo chí và người làm báo tham khảo từ đó xây dựng những phương
pháp, cách thức truyên truyền phù hợp với tâm lí tiếp nhận của công chúng là
đồng bào dân tộc thiểu số.
Thông qua việc nghiên cứu công chúng đồng bào dân tộc thiểu số,
luận văn cũng mạnh dạn đề xuất một vài kiến nghị, giải pháp để nâng cao
hiệu quả công tác báo chí dân tộc thiểu số, nâng cao chất lượng các ấn phẩm
dành riêng cho đối tượng này.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Vai trò của công chúng trong quá trình truyền thông và vài
nét về công chúng dân tộc thiểu số ở Việt Nam
trò quan trọng của công chúng đối với hiệu quả của quá trình truyền thông,
trong chương này, tác giả luận văn sẽ giới thiệu về đặc trưng, đặc điểm của
đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, đặc biệt là đồng bào dân tộc Thái
(Tương Dương), và hệ thống hóa đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng
và Nhà nước ta đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là chương Mở đầu của
luận văn, tạo nền tảng cơ sở lý luận cho tác giả tiếp tục nghiên cứu về báo chí
dành riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các chương sau.
1.1. Lí luận chung về công chúng truyền thông
1.1.1. Khái niệm về công chúng truyền thông
Truyền thông đại chúng là quá trình truyền tải thông tin một cách rộng
rãi hướng đến mọi người trong xã hội, thông qua các phương tiện truyền
thông đại chúng [28, tr.37].
Trong nghiên cứu truyền thông đại chúng, khái niệm đại chúng được
hiểu là “quần thể dân cư không phân biệt trình độ, dân tộc, tôn giáo, đảng
phái, tuổi và giới tính…” [23, tr.113].
Nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang [28,
tr. 117] quan niệm rằng: thuật ngữ ‘đại chúng’ dù không đầy đủ, nhưng đã
phần nào nói lên tính nhân dân và bản chất dân chủ của hoạt động báo chí.
13
Theo các tác giả này, từ ‘đại chúng’ trong thuật ngữ truyền thông đại chúng
có các nội dung sau:
1. Đối tượng tác động của thông tin là xã hội rộng rãi bao gồm các
tầng lớp, các nhóm xã hội khác nhau.
2. Những nhu cầu thông tin của nhân dân được ưu tiên đảm bảo và là
thước đo trình độ năng lực hoạt động thông tin báo chí.
3. Mục đích của thông tin là nhằm hình thành đời sống tinh thần lành
mạnh của xã hội, qua đó, tác động vào việc giải quyết các nhiệm vụ xây dựng
và phát triển đất nước.
4. Đảm bảo sự phổ biến rộng rãi, dễ hiểu, giúp cho đại đa số các thành
phương tiện truyền thông mới, đang trở nên quan trọng hơn vì công chúng
đang ngày càng trở nên năng động, chủ động lựa chọn và sản xuất sản phẩm
truyền thông. Trong mối quan hệ với các PTTTĐC, họ không chỉ là người
tiếp nhận thông tin (information receiver), tức là độc giả, thính giả, khán giả
mà còn là người tiêu thụ sản phẩm truyền thông (consumer) (trích theo luận
án của TS. Đặng Thị Thu Hương). Công chúng tham gia vào mối quan hệ ‘thị
trường’ với hệ thống các PTTTĐC trong đó có các nhà quảng cáo, nhà sản
xuất sản phẩm truyền thông, và người tiêu dùng sản phẩm truyền thông
(Turow 1997; Webster and Phalen 1994). Có nghĩa là, công chúng là người
tiêu dùng sản phẩm truyền thông, nhưng chính thời gian mà họ dành để tiêu
thụ sản phẩm truyền thông là một ‘món hàng’ để các nhà cung cấp/sản xuất
15
thông điệp truyền thông ‘bán’ lại cho các nhà quảng cáo (trích theo luận án
của TS. Đặng Thị Thu Hương).
Như vậy, công chúng báo chí là người đọc, người nghe, người xem, là
người hưởng thụ sản phẩm truyền thông, nhưng đồng thời cũng là người tiêu
thụ sản phẩm truyền thông, là khách hàng của các cơ quan thông tấn báo chí.
Công chúng báo chí có thể được chia thành nhiều nhóm khác nhau tuỳ
theo loại hình phương tiện truyền thông đại chúng mà họ tiếp xúc, theo đó họ
là những độc giả, thính giả, khán giả hay người sử dụng internet.
1.1.2. Vai trò của công chúng trong quá trình truyền thông
Khái niệm truyền thông: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao
đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để
dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [28, tr. 13].
Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian. Quy trình
truyền thông diễn ra theo các bước nhất định. Chúng ta có thể hình dung ra
quy trình này thông qua các mô hình được nhiều nhà nghiên cứu truyền thông
đưa ra. Mô hình truyền thông của Shannon- Laswell là mô hình được cho là
“đơn giản nhưng dễ hiểu”, và được sử dụng phổ biến nhất [11, tr. 17-19]
tại Đại hội lần thứ III- Hội Nhà báo Việt Nam, năm 1962) [20, tr.210]. Nhà
báo, mỗi khi đặt bút viết một tác phẩm báo chí điều đầu tiên quan tâm là tác
phẩm mình viết cho ai, nhóm công chúng nào để từ đó có cách viết cho phù
hợp.
17
Công chúng là đối tượng đầu tiên quan trọng và quyết định cho việc
thiết kế thông điệp, sáng tạo tác phẩm báo chí. Thông tin trong tác phẩm báo
chí, tuy là thành quả lao động sáng tạo của nhà báo nhưng chỉ là thông tin
tiềm năng. Chỉ khi thông tin đó được đông đảo công chúng tiếp nhận thì mới
trở thành thông tin thực tế.
1.2. Vài nét về công chúng dân tộc thiểu số ở Việt Nam
1.2.1. Diện mạo chung về các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc anh em, trong đó có
53 dân tộc thiểu số, với số dân hơn 12 triệu người, chiếm hơn 14% tổng số
dân của cả nước. Quy mô dân số của các dân tộc thiểu số cũng có sự chênh
lệch đáng kể, có những dân tộc thiểu số trên một triệu người (Tày, Thái,
Mường, Khmer, Hoa) nhưng cũng có những dân tộc thiểu số có số dân rất ít,
một số dân tộc thiểu số có số dân dưới 1000 người (Si La, Pu Péo, Rơ Măm,
Brâu, Ơ đu) [39, tr. 5]
Các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược
đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và môi trường
sinh thái. Vùng dân tộc và miền núi nước ta chiếm gần ¾ diện tích tự nhiên,
bao gồm 21 tỉnh miền núi vùng cao, 23 tỉnh có miền núi và 10 tỉnh đồng bằng
có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Miền núi là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng
phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước, nơi đầu nguồn của những con
sông lớn, có hệ thống rừng phòng hộ, rừng đặc dụng giữ vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái. Trong lịch sử phát triển của đất
nước ta, địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số là địa bàn chiến lược
Nam, mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá mang bản sắc riêng từ lâu đời,
phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc. Bản sắc văn hoá dân
tộc là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết,
văn học, nghệ thuật, kiến trúc, y phục, tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán,
tín ngưỡng được sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Sự
phát triển rực rỡ bản sắc văn hoá mỗi dân tộc càng làm phong phú nền văn
hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thống nhất trong đa dạng là nét
riêng, độc đáo của nền văn hoá các dân tộc Việt Nam.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân về lịch sử, xã hội và hoàn cảnh tự
nhiên nên các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không
đều. Các dân tộc thiểu số có đời sống kinh tế - xã hội còn thấp. Nhiều dân tộc
cư trú trên địa bàn có điều kiện tự nhiên hết sức khó khăn, khắc nghiệt. Ðiều
kiện canh tác nương rẫy không ổn định nên đời sống của đồng bào thường
bấp bênh. Cuộc sống du canh, du cư thường dẫn tới đói nghèo, bệnh tật.
1.2.2. Công chúng người Thái và người Thái ở Tương Dương (Nghệ
An)
Người Thái ở Việt Nam phân bố trên địa bàn tương đối rộng, sống tập
trung chủ yếu tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Hoà Bình
và Nghệ An. Theo số liệu thống kê của cuộc Tổng điều tra dân số năm 2009,
dân số của người dân tộc Thái là: 1.986.374 người, chiếm hơn 2% dân số
của cả nước. Nói riêng về huyện Tương Dương, với số dân gần 80.000
người, thì người Thái chiếm 71% dân số (Báo cáo về tình hình kinh tế - xã
hội UBND huyện Tương Dương, 2010). Tác giả Ninh Viết Giao (2003,
tr.55) cho rằng người Thái ở Tương Dương chủ yếu là tộc người Thái di cư
từ Lào vào Nghệ An và một số là từ vùng Tây Bắc, di cư qua Thanh Hóa rồi
20
đến Tương Dương. Họ đến Tương Dương cách ngày nay khoảng độ 450
năm. Người Thái ở Tương Dương có 3 nhóm chính: Thái Hàng Tổng (Thái
Trắng), Thái Tày Thanh (Thái Đen), Thái Tày Mười.
1
)
Nhà ở của người Thái ở Tương Dương cũng giống với nhà ở của đồng
bào Thái ở các địa phương khác, không có sự khác biệt lớn. Người Thái ở nhà
sàn, hướng ra ruộng và tựa lưng vào núi. Nhà sàn có 2 lối lên xuống bằng cầu
thang, một lối đi chính ở phía trước nhà và một lối theo cửa bếp, thường là
nơi lên xuống của phụ nữ trong gia đình. Nhà được chia làm 3 gian và được
chia làm nhiều buồng nhỏ.
Trang phục của đồng bào Thái ở Tương Dương cũng tương tự như
trang phục của dân tộc Thái ở Tây Bắc. Đàn ông mặc áo cộc xẻ thân với hàng
khuy vài bằng vải tết tròn. Trang phục của phụ nữ Thái cầu kỳ với nhiều hoạ
tiết, hoa văn được chính những ngừơi phụ nữ Thái dệt hoặc thêu. Chiếc khăn
Piêu là phục trang mà được chị em rất ưa dùng.
Hiện nay, nhờ có nhiều chương trình dự án đầu tư phát triển kinh tế xã
hội ở miền núi như Chương trình 30A, Chương trình 134, Chương trình
135… nên đồng bào Thái ở Tương Dương có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
rất lớn, từ phát nương làm rẫy sang trồng rừng (cây mét, luồng và các loại cây
lấy gỗ khác) và trồng cây ăn quả (xoài, mít, chuối…), nhận giao khoán bảo vệ
rừng đặc biệt là phát triển chăn nuôi (trâu, bò, dê, lợn, cá lồng…). Trong cộng
1
Ma tốt là những ma không gây hại cho cuộc sống của con người như Phi hươn (ma nhà),
Phi pu pà (ma nương rẫy), Phi bàn (ma bản),,,,Ma xấu là những loại ma gây hại cho con
người như Phi pop (ma cọp ), Phi nắm (ma nước)…
22
đồng ngưòi Thái ở Tương Dương hiện nay có rất nhiều mô hình VAC, VACR
có quy mô lớn, hình thành các trang trại tổng hợp, “có thu nhập cao (từ 200 –
500 triệu đồng/năm), thu nhập bình quân đầu người đạt gần 10 triệu
đồng/năm, giảm hộ nghèo từ 72% (năm 2006) xuống còn 42% (năm 2009)”
các dân tộc” [20, tr. 273].
Ngay từ năm 1935, tại Đại hội Đảng lần thứ nhất, Đảng đã có Nghị
quyết về các dân tộc thiểu số. Sau Cách mạng tháng Tám, tháng 4/1946 Đảng
tổ chức Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu. Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (năm 1951) khẳng định: “Các dân tộc
ở Việt Nam đều được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp
đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc” [20, tr.182].
Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng xác định
nguyên tắc: “Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến
kịp các dân tộc đa số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả
năng to lớn của mình, trong cán bộ cũng như nhân dân cần khắc phục tư
tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đoàn kết chặt chẽ giữa các
dân tộc để cùng nhau tiến lên xã hội chủ nghĩa” [2, tr. 433 - 434].
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng ta đã đề ra nhiều
chính sách cụ thể giải quyết vấn đề dân tộc, ví dụ như Nghị quyết về vấn đề
dân tộc (tháng 8/1952) của Bộ Chính trị Trung ương Đảng lao động Việt
Nam; hay chính sách dân tộc do Chính phủ ban hành ngày 22/6/1953. Chính
nhờ chính sách đoàn kết dân tộc đúng đắn mà các dân tộc thiểu số ở vùng núi