Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (LA tiến sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MÔNG THỊ XOAN

HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI LÔ LÔ
Ở HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MÔNG THỊ XOAN

HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI LÔ LÔ
Ở HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI
Chuyên ngành: NHÂN HỌC
Mã số: 62 31 03 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. PHẠM QUANG HOAN

hóa Hà Nội, nơi tôi đang công tác, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong
suốt quá trình học tập và làm luận án.
Tôi gửi lời cám ơn chân thành đến chính quyền địa phương, người dân
Lô Lô sinh sống ở các bản của huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, nghiên cứu thu thập tài liệu để hoàn
thành luận án.
Tôi gửi lời ơn những bạn đồng nghiệp, người thân trong gia đình đã
động viên, khích lệ, chỗ dựa tinh thần vững chắc để tôi hoàn thành luận án.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017
Tác giả luận án

Mông Thị Xoan

ii


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LÔ LÔ Ở HUYỆN BẢO LẠC .... 9
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ............................................................. 9
1.2. Cơ sở lý thuyết ...................................................................................... 16
1.3. Khái quát về người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc ........................................ 26
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................ 41
Chương 2: HÔN NHÂN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI LÔ LÔ Ở
HUYỆN BẢO LẠC ....................................................................................... 43
2.1. Quan niệm về hôn nhân của người Lô Lô ............................................ 43
2.2. Các quy tắc trong hôn nhân của người Lô Lô ...................................... 48
2.3. Phong tục và nghi lễ trong hôn nhân của người Lô Lô ........................ 56

Chính trị quốc gia

CNH:

Công nghiệp hoá

DTH:

Dân tộc học

ĐHQGHN:

Đại học Quốc gia Hà Nội

HĐH:

Hiện đại hoá

KHXH:

Khoa học xã hội

Nxb:

Nhà xuất bản

Tr:

Trang


đa dạng, thể hiện qua lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, hôn
nhân và gia đình...
Hôn nhân là những tập tục, những nghi lễ mà các tộc người đã và đang
thực hiện trong các giai đoạn lịch sử, thể hiện bản sắc văn hóa của mình. Hôn
nhân là phương thức tạo lập gia đình mới, tạo nên tế bào của xã hội, nơi bảo tồn,
trao truyền và làm giàu các giá trị văn hóa tộc người qua các thế hệ. Đối với
người Lô Lô, nghiên cứu về hôn nhân sẽ góp phần làm rõ những giá trị văn hoá
tộc người được bảo tồn và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Từ đó, góp
phần nhận diện một cách cụ thể về bức tranh văn hoá tộc người Lô Lô, cũng
như bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, thực hiện quan điểm, đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, cụ thể là việc thực hiện
Nghị quyết số 33 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ IX, khóa XI về
việc “ Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững đất nước”.
Trong thời kỳ đổi mới, giao lưu hội nhập khu vực và quốc tế, văn hóa
các dân tộc thiểu số ở nước ta nói chung, hôn nhân của người Lô Lô nói riêng
vẫn còn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hóa truyền thống. Trong đó, có những
yếu tố cần giữ gìn, phát huy và một số yếu tố không còn phù hợp với xã hội
hiện đại như: kết hôn cận huyết thống, tảo hôn, kết hôn không đăng ký, sinh
con sớm, đẻ con nhiều... Bên cạnh đó, dưới tác động của bối cảnh công

1


nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), giao lưu kinh tế, văn hóa... đã và
đang làm thay đổi quan niệm, cách nhìn nhận của người Lô Lô ở huyện Bảo
Lạc trong đời sống sinh hoạt thường nhật, mà hôn nhân là một thành tố chịu
sự tác động và biến đổi mạnh mẽ: từ nội dung, thời gian thực hành các nghi
thức, nghi lễ đến trang phục, sinh hoạt ăn uống... của người Lô Lô hiện nay.
Hôn nhân truyền thống của người Lô Lô có những đặc điểm chung như

người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc.
- Trình bày, phân tích những biến đổi trong hôn nhân của người Lô Lô,
nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi.
- Phân tích, so sánh về những tương đồng và khác biệt trong văn hoá
hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc với đồng tộc ở tỉnh Hà Giang và
với người Tày ở huyện Bảo Lạc.
- Chỉ rõ những vấn đề đặt ra và khuyến nghị về việc bảo tồn và phát
huy giá trị văn hoá tộc người trong hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo
Lạc, tỉnh Cao Bằng hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tuợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hôn nhân của người Lô Lô hiện
đang sinh sống ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, trong đó tập trung vào cả
những yếu tố truyền thống và hiện đại. Ngoài ra, luận án còn so sánh hôn
nhân khác tộc của người Tày với người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc và cộng đồng
người Lô Lô sinh sống ở tỉnh Hà Giang.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu các khía cạnh liên quan đến
hôn nhân truyền thống của người Lô Lô, sự biến đổi của hôn nhân và những
yếu tố tác động đến sự biến đổi đó.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu hôn nhân của người Lô Lô ở huyện
Bảo Lạc trước và sau năm 2014. Đây là thời điểm tỉnh Cao Bằng nói chung
và huyện Bảo Lạc nói riêng triển khai sâu rộng hoạt động phổ biến tinh thần
3


nội dung của Luật Hôn nhân và Gia đình được sửa đổi. Trên thực tế, đây cũng
là thời điểm các giá trị văn hóa truyền thống đang có xu hướng biến đổi và
những giá trị văn hóa mới được tiếp thu. Vì vậy, việc nghiên cứu ở khung thời
gian này cho chúng ta thấy được những nét đặc trưng trong hôn nhân truyền

cùng sinh sống, mỗi dân tộc có phong tục tập quán, nếp sống, nếp nghĩ
riêng và cư trú sinh sống trong điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù.
Luật Hôn nhân và gia đình là vấn đề mang tính nguyên tắc, chuẩn mực
sống đem phổ biến và áp dụng tới mọi người dân, mọi thành phần dân tộc
phải có những điều khoản riêng phù hợp với phong tục, tập quán, văn hóa,
xã hội… và như vậy, luật này mới có hiệu quả cao.
Luật Hôn nhân và gia đình quy định cụ thể như sau: “Việc hôn nhân là
do nam, nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên
nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở việc kết hôn” [58], “phải đủ tuổi
kết hôn với Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên, tuổi kết hôn được
tính là tuổi tròn, cứ một năm được tính là một tuổi” [58]. Vì đến tuổi đó,
nam, nữ mới chuẩn bị được tâm sinh lý để bước vào ngưỡng cửa lập gia đình
và lo cho gia đình. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, đồng bào Lô Lô vẫn coi
nhẹ việc đăng ký kết hôn, vì coi trọng việc lễ cưới nên họ tổ chức một cách
linh đình, ồn ào, ăn uống kéo dài ngày, gây lãng phí cho gia đình cũng như
làm giảm năng suất lao động của cộng đồng. Vì vậy, Ban chấp hành Trung
ương Đảng, Chính phủ ra chỉ thị thực hiện nếp sống văn minh trong việc
cưới, tang lễ, lễ hội và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra Thông tư
hướng dẫn thực hiện chỉ thị của Đảng và Chính phủ trong việc cưới là: “Phải
được tổ chức trang trọng, lành mạnh, tiết kiệm phù hợp với truyền thống
từng dân tộc thể hiện văn hóa chung của cộng đồng” [10].
Trong nghị định 32 của Chính phủ đã nêu: “Tăng cường tuyên truyền,
phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình, vận động người dân phát huy
truyền thống phong tục tập quán tốt đẹp và xóa bỏ những phong tục tập quán
lạc hậu về hôn nhân và gia đình…” [66]. Nhìn chung, có thể thấy rằng Đảng
5


và Nhà nước luôn quan tâm và có những quan điểm chỉ đạo trong vấn đề về
hôn nhân và gia đình của các dân tộc ở nước ta.

chủ đề liên quan đến hôn nhân, ví dụ nhóm cô dâu, chú rể mới cưới; nhóm bố
mẹ vừa tổ chức cưới cho con cái; nhóm những người già từ 70 tuổi trở lên;
nhóm thanh niên chưa có gia đình…
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này đã được áp dụng để trao
đổi, lấy ý kiến các chuyên gia, đồng nghiệp về các vấn đề liên quan đến đề
tài, cũng như cách đánh giá các thông tin, tư liệu thu thập được tại địa bàn
nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh: Trong quá trình thực hiện luận án, phương
pháp so sánh cũng được tác giả luận án sử dụng, cụ thể là tiến hành so sánh
hôn nhân của người Lô Lô ở Bảo Lạc với người Lô Lô ở Hà Giang và so
sánh hôn nhân của người Lô Lô với người Tày cộng cư ở huyện Bảo Lạc
để từ đó có thể rút ra được những điểm tương đồng và khác biệt, cũng như
thấy rõ được sự biến đổi trong hôn nhân của người Lô Lô cư trú ở các địa
bàn khác nhau.
- Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp phân tích tư liệu, tổng
hợp, xử lý các tư liệu. Tác giả đã kế thừa các tư liệu của các nhà nghiên cứu
đi trước để có thể xác định hướng nghiên cứu, đồng thời phân tích, đánh giá
một cách khách quan nhất và từ đó đặt ra được những vấn đề cần đi sâu
nghiên cứu hay bàn luận trong luận án.
5. Đóng góp của luận án
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu về
hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng dưới góc độ
Nhân học từ truyền thống đến hiện đại.
- Luận án đưa ra những kiến nghị, giải pháp để bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hoá trong hôn nhân của người Lô Lô, góp phần xây dựng đời
sống văn hóa mới ở cộng đồng người Lô Lô.

7



Nghiên cứu về hôn nhân và gia đình là một trong các chủ đề quan
trọng trong nghiên cứu về văn hóa tộc người. Thực tiễn cho thấy, hôn nhân
và gia đình luôn phản ánh rõ nét những đặc điểm văn hóa, xã hội của mỗi
tộc người qua từng giai đoạn phát triển trong diễn trình lịch sử. Trong truyền
thống và hiện đại, hôn nhân và gia đình thể hiện những đặc trưng văn hóa
riêng của mỗi tộc người, nhưng đồng thời cũng mang những sắc thái mới
cùng với sự biến đổi sâu sắc giữa yếu tố truyền thống và tiếp nhận những
yếu tố mới của xã hội đương đại để tạo ra đặc trưng văn hóa trong một giai
đoạn lịch sử nhất định.
Với mong muốn có cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu, tác giả
luận án đã làm rõ các vấn đề thông qua các công trình đã nghiên cứu về người
Lô Lô từ trước tới nay, nhận diện các công trình khoa học đã được công bố,
làm rõ những điểm chưa nghiên cứu hoặc chưa phân tích một cách có hệ
thống. Những tập hợp, thống kê và phân tích dưới đây cho thấy đã có nhiều
công trình, bài viết đề cập tới hôn nhân nói chung và hôn nhân của người Lô
Lô ở tỉnh Cao Bằng nói riêng, cụ thể như sau:
1.1.1. Hôn nhân nói chung qua các tài liệu nước ngoài
Trong cuốn Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước (1884), Ph.Ăngghen cho rằng, trước năm 1860, chưa có thể nói gì về
lịch sử nghiên cứu về hôn nhân và gia đình. Việc nghiên cứu về hôn nhân
dường như chỉ được bắt đầu vào năm 1861, khi công trình Mẫu quyền của
Bacôphen xuất hiện. Tác giả này cho rằng, lúc đầu loài người sống trong tình
trạng tạp hôn, con cái sinh ra không biết bố, chỉ biết mẹ, người mẹ vừa là
9


người sinh ra con cái, vừa là người (có thể cùng các chị em gái) nuôi dưỡng
con cái. Do đó, trong lịch sử nhân loại, tổ chức xã hội đầu tiên theo mẫu
quyền, rồi sau mới dần chuyển sang phụ quyền. Tuy nhiên, cùng với thời gian
và bằng các tư liệu mới phát hiện được sau này ở những khu vực và các tộc

học, Luật học... Về lý thuyết và phương pháp luận, một số nhà nghiên cứu đã
đưa ra những quan điểm trong nghiên cứu về hôn nhân. Đó là cần phải đặt hôn
nhân trong các bối cảnh văn hoá tộc người; hôn nhân trong mối quan hệ về kinh
tế và điều kiện, bối cảnh của môi trường sống; hôn nhân chịu ảnh hưởng bởi các
yếu tố kinh tế, xã hội và tổ chức xã hội, chính sách của Nhà nước. Mỗi nền văn
hóa có một quan niệm riêng về hôn nhân. Hôn nhân bao hàm một sự thay đổi
trong vị trí xã hội của hai người và ảnh hưởng đến vị trí xã hội của con cháu.
1.1.2. Hôn nhân các dân tộc thiểu số Việt Nam qua tài liệu trong nước
Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh
vực hôn nhân của các dân tộc ở vùng miền núi nước ta. Hầu hết các công
trình nghiên cứu này tập trung vào các vấn đề lịch sử phát triển của hôn nhân
và gia đình ở một số tộc người như: Tày, Nùng, Thái, Chăm, Mường và một
số nhóm tộc người ở khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên dưới góc độ Dân tộc
học. Nghiên cứu về hôn nhân và gia đình dưới góc độ đánh giá thực trạng và
xu hướng, tiêu biểu là các tác giả như: Nguyễn Đức Thịnh( 1974); Nguyễn
Hữu Thấu( 1976); Vũ Lợi (19920; Phạm Quang Hoan(1992, 1993); Đỗ Thuý
Bình( 1994)... Nghiên cứu với tư cách đi sâu mô tả các nghi lễ trong hôn
nhân, tiêu biểu như các tác giả: Trần Bình( 1998); Nguyễn Xuân Hồng(
1998); Nguyễn Ngọc Thanh( 2005); Phạm Thị Kim Oanh( 2010)... Nhìn
chung, các nghiên cứu này chú ý nhiều đến mô tả các phong tục tập quán, chủ
yếu các nghi lễ và những mối quan hệ trong hôn nhân. Nghiên cứu về hôn
nhân và nghi lễ trong hôn nhân của người Thái, tiêu biểu như các tác giả: Đỗ
Thúy Bình( 1994); Vi Văn An( 1996); Nghiên cứu về nghi lễ cưới xin, tiêu
biểu như: Quàng Thị Chính( 2005); Dương Thị Chung( 2008)... Một số ít
công trình nghiên cứu đã đi sâu về những vấn đề đặt ra của hôn nhân với phát
11


triển xã hội như: tảo hôn, hôn nhân “mua bán”, hôn nhân do cha mẹ sắp đặt…
tiêu biểu như các tác giả: Trần Đình Hượu( 1990); Đỗ Thuý Bình( 1991,

có thể nhận diện được những nét cơ bản về tộc người Lô Lô, trong đó có
phong tục tập quán hôn nhân, gia đình.
Trong công trình Trống đồng cổ với các tộc người ở Hà Giang (1996), tác
giả Lò Giàng Páo đã phác họa những đặc trưng của trống đồng Hà Giang từ
phạm vi phân bố, ứng xử của người dân Hà Giang với trống đồng, tính đồng đại
của trống đồng và phân loại trống đồng theo phương pháp dân tộc học và khảo
cổ học. Tác giả công trình đã chứng minh và khẳng định được vị trí và vai trò
của trống đồng trong vùng đồng bào các dân tộc, giải mã những hoa văn trên
trống đồng và đặc biệt là sử dụng trống đồng trong tang ma của người Lô Lô.
Trong công trình Lômipho (trường ca Lô Lô) xuất bản năm 2002, tác
giả Lò Giàng Páo đã sưu tập những bài dân ca cổ truyền mà những đôi nam,
nữ hát đối đáp theo hứng kéo dài hai, ba ngày đêm, mang tính chất vừa là
trường ca vừa là truyện kể. Dân ca Lô Lô, có đặc điểm chung là loại bài hát
nào và trong mọi trường hợp đều có thể thơ năm chữ, được các nghệ nhân hát
và phát triển tuỳ từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
Cuốn sách Dân ca trong lễ hội của người Lô Lô (2004), tác giả Lò
Giàng Páo đã mô tả lễ hội của người Lô Lô như một hình thức sinh hoạt văn
hoá, đặc biệt không thể thiếu trong cộng đồng tộc người, là hình thức sinh
hoạt văn hoá tinh thần, có sức hấp dẫn và lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội
của cộng đồng người Lô Lô. Dân ca đã trở thành một nhu cầu và khát vọng
của dân tộc qua các thời kì lịch sử.
Trong công trình Hoa văn trên trống đồng người Lô Lô (2006), nhà
nghiên cứu Lò Giàng Páo nêu rõ: Người Lô Lô quan niệm rằng, trống đồng
là sự mô phỏng hình người (nhân thể) có đầu, vai, thân, chân và gắn phần
13


hồn lên trống đồng để làm trung tâm bảo mệnh cho muôn loài, là vật thông
tin giữa cõi sống và cõi chết. Người Lô Lô coi mặt trời là trung tâm vũ trụ
để giải thích các hiện tượng xảy ra trên thế gian và họ cũng đã dựa vào đó để

giới Việt - Trung, trong đó có người Lô Lô ở tỉnh Cao Bằng. Hai tác giả này
cho rằng, các đặc điểm văn hoá tộc người, các yếu tố ngôn ngữ, quan hệ gia
đình, dòng họ, quan niệm trong hôn nhân, sử dụng sản phẩm và dịch vụ văn
hoá cùng tập quán trao đổi, buôn bán là điều kiện để phát triển các mối quan
hệ hôn nhân của các tộc người nhóm Tạng - Miến với những người đồng tộc
và khác tộc ở bên này hay bên kia biên giới [33, tr. 66]. Công trình Hôn nhân
xuyên biên giới với phát triển xã hội (2016) do Đặng Thị Hoa chủ biên cung
cấp những thông tin, tư liệu mới có giá trị về hôn nhân của các tộc người ở
miền núi nước ta, trong đó có người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
Theo đó, người Lô Lô chuộng hôn nhân giữa những người đồng tộc và sống
gần nhau... Trong trường hợp không tìm được vợ theo nguyên tắc kết hôn của
tộc người, họ phải đi tìm vợ ở các cộng đồng tộc người xa hơn (tỉnh khác
hoặc thậm chí ở bên Trung Quốc) [34 tr. 164-165].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã nêu trên cho thấy phần nào đó
về bức tranh toàn cảnh hôn nhân nói chung và hôn nhân của người Lô Lô nói
riêng. Các luận điểm của các công trình, bài viết nghiên cứu nêu trên có giá trị
cho việc tham khảo trong luận án, đặc biệt là các công trình viết về hôn nhân
của người Lô Lô. Mặt khác, khi nghiên cứu về hôn nhân của người Lô Lô Đen
ở một địa bàn cụ thể mà tác giả luận án nêu ra đôi khi cũng có một số nét văn
hóa tương đồng đã được đề cập ở một số công trình của các tác giả đi trước,
song cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về hôn nhân và gia
đình của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng trên cơ sở so sánh
những yếu tố truyền thống và hiện đại để thấy được sự gìn giữ, trao truyền, tiếp
thu và biến đổi theo xu hướng của xã hội đương đại. Đồng thời chưa có nghiên

15


cứu nào chú ý đến so sánh hôn nhân của người Lô Lô trong truyền thống và
hiện nay cũng như với các tộc người cận cư. Như vậy, kết quả nghiên cứu của

Mặc dù, mục đích hôn nhân là giống nhau nhưng quan niệm và các lệ
tục lại khác nhau. Sự khác nhau trong quan niệm hôn nhân và các nghi thức
tiến hành hôn nhân là dấu ấn văn hoá của từng cộng đồng, từng khu vực, từng
dân tộc và từng thời đại lịch sử.
Tác giả Kathleen Gough cho rằng: Hôn nhân là một mối quan hệ được
thiết lập giữa một người phụ nữ và một người đàn ông/hoặc hơn một người,
mà qua đó một đứa trẻ được sinh ra bởi người phụ nữ trong hoàn cảnh không
bị cấm bởi các quy tắc của mối quan hệ này là phù hợp với các quyền chung
về thân phận của các thành viên bình thường của xã hội của đứa trẻ hoặc giai
cấp xã hội của nó.
Từ điển Tiếng Việt: Đã đưa ra khái niệm về hôn nhân rất cô đọng như
sau: “ Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng” [111].
Tác giả Đỗ Thuý Bình cho rằng, “ Hôn nhân và gia đình là các thiết chế
rất đa dạng và phức tạp phản ánh các mối quan hệ sinh học và xã hội, vật chất
và tinh thần, tư tưởng và tâm lý và hôn nhân - một thể chế xã hội luôn luôn là
đối tượng của sự kiểm soát xã hội, còn trong xã hội có giai cấp là đối tượng của
luật pháp” [8, tr.28].
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình(sửa đổi năm 2014) thì “Kết hôn là
việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều
kiện kết hôn và đăng ký kết hôn; Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau
khi đã kết hôn; Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ
chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” [58].
Khi một người đàn ông và một người đàn bà cam kết chung với nhau
với những quyền và nghĩa vụ đối với nhau cũng như đối với con cái, thì đó là
hôn nhân, do đó người ta coi hôn nhân là môt thể chế xã hội. Hôn nhân trải
qua những thay đổi trong lịch sử, có đòi hỏi những điều kiện nhất định, chịu
17


ảnh hưởng của các quan hệ kinh tế, nhất là quan hệ sở hữu và các yếu tố

chất giới tính giữa nam và nữ, được hợp thức hóa bởi những quy định của xã
hội, từ đó nâng cao quyền hạn và trách nhiệm của vợ và chồng trong quan hệ
với nhau và với con cái của họ” [37].
Tuy dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng quan niệm về hôn
nhân của các tác giả đều phân biệt yếu tố quan hệ giới tính trong hôn nhân với
ý nghĩa văn hoá, xã hội của hôn nhân và không tác giả nào đồng nhất hôn
nhân với quan hệ giới tính. Từ những khái niệm của các tác giả nêu trên, tác
giả luận án đưa ra quan niệm về hôn nhân như sau: “Hôn nhân là sự liên minh
giữa nam giới và nữ giới, được hợp thức hoá bởi tập quán và pháp luật của
xã hội, tạo ra môi trường chung sống giới tính và tái sản xuất ra con người.
Trên cơ sở đó, hôn nhân quy định những quyền hạn, trách nhiệm, khuôn mẫu
ứng xử giữa chồng với vợ trong gia đình và với các thế hệ tương lai của họ”.
- Hôn nhân anh em chồng (levirate) và chị em vợ (sororate): Là hình
thức hôn nhân được thực hiện khi vợ hay chồng đã mất. Nếu chồng mất có thể
kết hôn với anh hay em trai chồng; nếu vợ mất có thể kết hôn với chị hay em
gái của vợ.
- Hôn nhân con cô con cậu: Là loại hình hôn nhân mà các con của anh
em trai được phép kết hôn với các con của chị em gái ruột.
- Hôn nhân một vợ một chồng: Là hình thức hôn nhân tương đối bền
vững, phát sinh trong xã hội khi có được những điều kiện kinh tế - xã hội cần
thiết. Về lao động, mức độ phân công lao động và chuyên môn hóa cao, làm
cho năng suất lao động phát triển tới mức có của cải dư thừa, kinh tế gia đình
xuất hiện bên cạnh các hình thức kinh tế khác. Chế độ hôn nhân một vợ một
chồng đã cho phép xác định được người cha đẻ của các con trong gia đình mà
trong các hình thức hôn nhân trước đó chưa xác định được.
- Hôn nhân liên minh 3 thị tộc: Theo tác giả Nguyễn Hữu Thấu, Hôn
nhân liên minh 3 thị tộc là một hình thái hôn nhân đặc thù của thời kỳ quá độ
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status