BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
BÙI XUÂN TIỆP
DÂN CA GẦU PLỀNH VÀ LỄ HỘI GẦU TÀO CỦA
NGƯỜI HMÔNG Ở LÀO CAI – TRUYỀN THỐNG VÀ
BIẾN ĐỔI
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 62.22.01.25
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thu Yến
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án là do tôi viết. Các cứ liệu
nêu trong luận án trung thực, khách quan. Tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Hà Nội, ngày tháng 01 năm 2015
Nghiên cứu sinh
Tác giả
Bùi Xuân Tiệp
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Luận án sử dụng một số kí hiệu, một số chữ viết tắt:
Nhà xuất bản
Nxb
6
Phổ cập giáo dục tiểu học
PCGDTH
7
8
9
10
11
12
13
Phổ cập giáo dục trung hoc học cơ sở
Phụ lục
Trang
Trung Quốc
Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ví dụ
Xã hội chủ nghĩa
PCGD THCS
PL
tr.
TQ
UB TWMTTQVN
VD
XHCN
nghiên cứu Gầu plềnh, LHGT, nhất là sự biến đổi của chúng chưa được mấy người
quan tâm nên rất cần được nghiên cứu cụ thể, sâu sắc hơn.
Từ năm 1945 đến nay, công tác sưu tầm văn học dân gian Hmông đạt nhiều
thành tựu, diện mạo văn học dân gian Hmông hiện lên tương đối đầy đủ. Nghiên
cứu về dân tộc Hmông như lịch sử, dân tộc học, văn hóa dân gian, văn học dân
gian…được chú trọng, có kết quả. Đặc biệt, công tác sưu tầm dân ca Hmông được
đẩy mạnh; số lượng tác phẩm Gầu plềnh sưu tầm, công bố trên 1000 trang. Đó là
nguồn tư liệu chính đảm bảo cho tác giả Luận án lựa chọn, khảo sát thực hiện đề tài.
Nghiên cứu đề tài “Dân ca Gầu plềnh và LHGT của dân tộc Hmông ở Lào Cai –
truyền thống và biến đổi”, chúng tôi hy vọng góp phần giải mã, làm sáng tỏ một
2
phương diện của văn học nghệ thuật dân gian Hmông và một mảng sinh hoạt văn
hóa quan trọng của đồng bào.
Bản thân tôi có thuận lợi là sinh ra, lớn lên, công tác ở Lào Cai, được sống
cùng đồng bào Hmông, nên hiểu biết nhất định về ngôn ngữ, phong tục, tập quán,
tín ngưỡng…của đồng bào, đã tham dự nhiều LHGT, sưu tầm được số lượng đáng
kể tư liệu văn học dân gian, nhất là những bài Gầu plềnh. Điều đó thúc đẩy tôi
nghiên cứu với hy vọng làm sáng tỏ vấn đề một cách sâu sắc, đầy đủ hơn, đóng góp
thiết thực, góp phần nhỏ bé vào công cuộc xây dựng, nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của đồng bào.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ
2.1. Mục tiêu
- Luận án làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng, mật thiết giữa Gầu plềnh và
LHGT, sự biến đổi của chúng trong xã hội đương đại; vận dụng lý thuyết thi pháp
học văn học dân gian, trên cơ sở văn bản và thực tế diễn xướng, đánh giá những giá
trị nội dung, nghệ thuật Gầu plềnh; khẳng định vai trò quan trọng của Gầu plềnh
trong đời sống tinh thần dân tộc Hmông.
- Từ đó, tác giả Luận án đề xuất thái độ ứng xử phù hợp và các biện pháp tổ
3.2, Chương 3).
3.2. Về phạm vi, tư liệu khảo sát:
- Tài liệu dân ca đã công bố:
+ 04 tác phẩm, chủ yếu sưu tầm tại Lào Cai: 1) Doãn Thanh (1967), Dân ca
Mèo (Lào Cai), Nxb Văn học, Hà Nội, (quyển 1). 2) Doãn Thanh (1974), Dân ca
Mèo (Jăng Gâux Hmôngz) Lào Cai, Hội Văn học nghệ thuật Lào Cai (quyển 2). 3)
Doãn Thanh, Hoàng Thao, Chế Lan Viên (1984), Dân ca HMông, Nxb Văn học, Hà
Nội (quyển 3). 4) Doãn Thanh, Hoàng Thao, Triều Ân (2004), Ca dao dân ca Tày,
Nùng, HMông, Nxb Văn học, Hà Nội (quyển 4). Tuy công bố sau 1960, song có thể
xác định những bài dân ca trong các tập sách trên là lời cổ, thuộc về truyền thống.
+ 01 tác phẩm sưu tầm tại Hà Giang: Hùng Đình Quý (2001), Dân ca Mông
Hà Giang, Sở Văn hoá Thông tin Hà Giang, Tập 1,2,3 và một số bài báo, tạp chí.
- Phạm vi, tư liệu điền dã của tác giả Luận án:
+ Về Gầu plềnh: Tác giả tham gia nhiều buổi hát Gầu plềnh tại các LHGT,
hoặc nghe hát đơn lẻ; cùng một số nghệ nhân ghi âm, sưu tầm, biên dịch Gầu plềnh
(PL0.1, tr.164) của các ngành Hmông hoa, Hmông đen, Hmông đỏ ở các vùng có
điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội khác nhau nên tính đại diện khá cao, phù hợp đối
tượng nghiên cứu.
+ Về lễ hội: Tác giả nhiều lần trực tiếp tham dự, nghiên cứu LHGT ở các
vùng và các ngành Hmông khác nhau: các xã Pha Long, Tả Ngải Chồ, Lùng Khấu
Nhin (Mường Khương); xã Cán Cấu (Si Ma Cai); các xã Hầu Thào, San Sả Hồ, Tả
Giàng Phình (Sa Pa), xã Thái Niên (Bảo Thắng), xã Lao Kha (huyện Hà Khẩu, TQ)
(PL0.2, 0.3, tr.253-254); trên cơ sở đó, so sánh điểm chung và riêng giữa lễ hội các
vùng. Tuy nhiên, địa bàn chúng tôi tập trung khảo sát chủ yếu ở 3 LHGT tiêu biểu
tại 3 huyện của tỉnh Lào Cai là: Mường Khương: xã Pha Long; Si Ma Cai: xã Cán
Cấu; Sa Pa: xã Tả Giàng Phình.
+ Về điều tra bằng phiếu: (PL0.4, tr. 257): Để đánh giá mức độ tác động, ảnh
hưởng, biến đổi của Gầu plềnh và LHGT đối với lớp trẻ, chúng tôi lập phiếu điều
tra, tổ chức điều tra trên đối tượng học sinh bậc trung học của 3 huyện Sa Pa,
Mường Khương, Si Ma Cai, tổng số 450 phiếu; tổng hợp, phân tích kết quả.
trên, dịch còn ba dòng (lược 1 dòng). Vì trôngx ntus plơưl không có nghĩa nên dịch
gộp hai dòng thơ cuối còn một dòng. Câu đầu 6 tiếng, dịch còn 5 tiếng vì caox nav
caox txir (4 tiếng) dịch ra tiếng Việt là mẹ cha cô (3 tiếng). Như vậy, khi dịch ra
tiếng Việt, có sự thay đổi đáng kể sẽ làm giảm đáng kể vai trò nhạc điệu, nhịp điệu
của lời ca. Người đọc khó hình dung ra diễn xướng của lời ca ấy.
Đôi khi, dịch giả muốn dịch cho có hồn thơ thì lại bị sai lệch về ý nghĩa. VD:
“Caox nav caox txir trôngx plangl txơưv tsaoz măngx/ Cha mur cêr jur/ Caox uô
caox nav caox txir mêr nxeik gâux xưz/ Cur lê tâu txu cêr thur” (Dịch: Trước cửa
nhà em có cây lanh mọc/ Ong có nơi về đậu/ Em làm thân con gái bẩy năm theo mẹ
theo cha/ Anh có nơi qua lại) [133, tr. 10]. Nguyên nghĩa: bố mẹ em trồng cây lanh
5
trước cửa, ong mới về đậu, em làm cô gái đồng trinh của mẹ, của cha, anh mới qua
lại). Nếu nói bố, mẹ em trồng lanh...tức là gia đình có nề nếp lao động, bản thân em
chắc biết làm lanh, may vá thêu thùa,... được thừa hưởng nền nếp gia đình...Em lại
là cô gái còn trong trắng nên anh đến tìm hiểu là lẽ đương nhiên. Hiểu như vậy mới
phù hợp phong tục, tập quán dân tộc Hmông. Mặt khác, dịch ra tiếng Việt như trên,
câu thơ khó đảm bảo được vần điệu (jur vần với thur, dịch là đậu - lại).
Sau khi dịch, ý nghĩa hình tượng thơ không còn nguyên vẹn: VD: “Caox tuôr
cur lux têl trơưr/ Cur tuôr caox lux têl truz/ Ưz uô chiv cêr plênhl gâux đrâus/ Puôr
tangv têx jâuz tsênhx grêl jâuz sur hluz”. (Dịch: Em nắm tay anh nắm cho vững/
Anh cầm tay em cầm cho chặt/ Ta yêu nhau đằm thắm như khóm ngải xanh tươi)
[133, tr. 8]. Nguyên nghĩa hai câu cuối: Con đường tình duyên của đôi ta, như là từ
đám rau xương cá chuyển sang đám rau ngải lớn. Bản dịch đã bỏ từ con đường
(cêr) và từ lớn (hluz), thêm vào đó từ xanh tươi. Nếu dịch như vậy thì chỉ cho ta
cảm nhận về một tình yêu đằm thắm, ở thời điểm ấy mà thôi. Từ bản gốc, có thể
phân tích ý nghĩa hình tượng thơ như sau: Vùng cao mọc nhiều rau xương cá và rau
ngải, nhưng rau xương cá chỉ mọc vào mùa xuân, rất tươi tốt và tàn rất nhanh vào
đầu mùa hè; rau ngải hầu như quanh năm không tàn. Từ sự nhanh tàn chuyển sang
đọc tiếp cận được giá trị đích thực của tác phẩm.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính là:
4.1. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Gầu plềnh tồn tại trong diễn
xướng, ẩn chứa nhiều giá trị thuộc nhiều lĩnh vực nhận thức, tín ngưỡng, sinh hoạt,
nghệ thuật, lịch sử…Có thể các giá trị trên được thể hiện độc lập song do đặc trưng
thể loại nên phần lớn là hỗn dung, nguyên hợp. Vì vậy, tác giả Luận án sử dụng
đồng thời, khách quan, bình đẳng nhiều phương pháp chuyên ngành như ngữ văn
học, văn hóa học, lịch sử học, dân tộc học…Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên
ngành sẽ giúp cho việc khám phá các giá trị của Gầu plềnh toàn diện, sâu sắc hơn.
4.2. Phương pháp điền dã - dân tộc học: Chúng tôi thực hiện khảo sát thực
tế (tham dự LHGT) thu thập tư liệu, tiến hành khảo cứu, tổng hợp, phân tích tư
liệu...giải quyết mục tiêu đề tài, do vậy phải sử dụng các thao tác quan sát, phỏng
vấn sâu, quay phim, chụp ảnh, điều tra bằng phiếu; ghi âm, biên dịch Gầu plềnh;
thống kê, phân loại tư liệu…Với phương pháp này, việc nghiên cứu Gầu plềnh
trong môi trường diễn xướng tại LHGT có tính khoa học, tính thực tiễn rất cao và
cho kết quả trung thực, chính xác; đáp ứng yêu cầu đặt ra.
4.3. Phương pháp so sánh lịch đại và so sánh đồng đại: Chúng tôi sử dụng
các phương pháp nghiên cứu này để đối chiếu, so sánh Gầu plềnh (đặc biệt là diễn
xướng của chúng trong LHGT) giữa các ngành Hmông khác nhau cư trú ở các vùng
khác nhau, giữa các thời kỳ lịch sử khác nhau; đối chiếu Gầu plềnh với dân ca trữ
tình của các dân tộc khác…trên cơ sở phân tích, tổng hợp, chỉ ra nét đặc sắc cũng
như quá trình phát triển, biến đổi của chúng.
4.4. Phương pháp phân tích văn bản ngôn từ: Gầu plềnh được thể hiện qua
nhiều yếu tố, song thể hiện qua văn bản ngôn từ hay phần lời là yếu tố cơ bản và
quan trọng nhất quyết định sự tồn tại, sự diễn xướng cũng như sự sáng tạo của
người nghệ sỹ bình dân. Do đó, phân tích văn bản ngôn từ trong nghiên cứu Gầu
plềnh là con đường khoa học để khám phá những giá trị (cả nội dung, nghệ thuật)
đích thực, sâu sắc của chúng. Tuy nhiên, chúng tôi không phân tích văn bản ngôn từ
Gầu plềnh một cách thuần túy như phân tích tác phẩm văn học mà kết hợp rộng hơn
báo xu hướng biến đổi Gầu plềnh và LHGT từ truyền thống đến hiện đại, đề xuất
các giải pháp bảo tồn, phát huy góp phần xây dựng cuộc sống mới.
6. Cấu trúc Luận án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận án gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận.
- Chương 2: Diễn xướng Gầu plềnh trong Lễ hội Gầu tào.
- Chương 3: Một số bình diện thi pháp Gầu plềnh.
- Chương 4: Sự biến đổi của Gầu plềnh và Lễ hội Gầu tào.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
Chúng tôi nêu tổng quan một số vấn đề nghiên cứu và lý luận liên quan đến
đề tài để có cái nhìn tổng quát và phương hướng giải quyết các nội dung đặt ra
trong đề tài. Đó là tổng quan về: lịch sử nghiên cứu, sưu tầm; một số vấn đề cơ bản
nhất về lịch sử, văn hóa, xã hội, văn học dân gian Hmông; khái niệm Gầu plềnh;
những nội dung lý luận định hướng giải quyết vấn đề.
1.1. Tổng quan lịch sử vấn đề
1.1.1. Về sưu tầm
Trước Cách mạng tháng Tám, việc sưu tầm dân ca Hmông nói chung chưa
được quan tâm. Chúng tôi tìm thấy một số bài dân ca Gầu plềnh được in trong một
vài công trình nghiên cứu dân tộc học như “Lịch sử người Mèo” của Savina, “Lịch
sử nhân dân vùng hạ lưu sông Triết Giang” của Từ Tùng Thạch. Các tác giả sử
dụng những bài dân ca đó như tư liệu minh chứng cho nhận định, đánh giá các vấn
đề về dân tộc học, văn hóa học của mình chứ không nhằm mục đích sưu tầm, lưu
giữ; tuy nhiên, qua đó, người đọc có thể nhận thấy hai nhà nghiên cứu trên nhận
định dân tộc Hmông rất yêu ca hát, có nền dân ca phong phú là có cơ sở.
Sau Cách mạng tháng Tám, dưới ánh sáng đường lối văn nghệ, với quan
điểm bình đẳng dân tộc của Đảng, việc nghiên nhiều mặt đời sống các dân tộc thiểu
quan trọng đối với chúng tôi vì nó hội tụ cơ bản đủ diện mạo dân ca của các nhóm,
ngành Hmông ở Lào Cai. Bản thân Doãn Thanh là thầy giáo tiếng Hmông có hàng
chục năm sống cùng đồng bào, am hiểu tường tận phong tục, tập quán, thói quen,
văn hóa, ngôn ngữ, cách diễn đạt… của đồng bào, tiến hành sưu tầm nghiêm túc,
cẩn trọng nên rất đáng tin cậy. Đó là động lực thúc đẩy, củng cố thêm ý tưởng cho
tác giả Luận án hướng nghiên cứu, sưu tầm Gầu plềnh.
Cùng thời gian này, Bùi Lạc và Mạc Phi công bố truyện thơ “Tiếng hát làm
dâu Tây Bắc” (Tạp chí Văn học số 3/1964) và một số bài dân ca Hmông vùng Sơn
La, Lai Châu, Lào Cai. Tiếng hát làm dâu Tây Bắc tương tự truyện thơ A Thào – Nù
Câu Doãn Thanh sưu tầm ở Lào Cai được một số học giả coi là truyện thơ về đề tài
tình yêu, trong đó có nhiều bài, đoạn, câu Gầu plềnh được khéo léo liên kết lại dưới
dạng lối kể chuyện hoặc đối đáp của các nhân vật thành câu chuyện. Chúng tôi cho
rằng đây là sự phát triển của Gầu plềnh tiến dần đến truyện thơ nên có giá trị để
khai thác phục vụ đề tài.
Năm 1974, Doãn Thanh tiếp tục cho ra mắt cuốn Dân ca Mèo Lào Cai (45
bài, trong đó có 42 bài Gầu plềnh mới sưu tầm; sách in song ngữ Việt - Hmông, Sở
Văn hóa Thông tin Lào Cai phát hành). Các bài hát sưu tầm được đại diện cho nhiều
ngành Hmông các vùng có đông người Hmông sinh sống của tỉnh Lào Cai; đặc biệt,
nhiều bài quen thuộc được nam nữ hát trong LHGT. Tác phẩm giá trị ở chỗ lần đầu
tiên, những bài Gầu plềnh được in hai thứ tiếng, giúp cho việc nghiên cứu, đối chiếu
lời Việt và lời Hmông để xác định giá trị đích thực tác phẩm thuận lợi hơn.
Năm 1984, các tác giả Doãn Thanh, Hoàng Thao tiến hành tuyển chọn, chỉnh
lý, bổ sung một số bài dân ca Hmông đã công bố trên các sách, tạp chí và công bố
cuốn Dân ca Hmông với lời giới thiệu của Chế Lan Viên do Nhà xuất bản Văn học
phát hành. Cuốn sách tuyển đủ năm loại hát dân ca Hmông với lời dịch trau chuốt
hơn. Riêng Gầu plềnh, các tác giả đã chọn một số bài từ các cuốn trước và bổ sung
38 bài mới.
10
diện khá đầy đủ là cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn và triển khai đề tài.
1.1.2. Về nghiên cứu
1.1.2.1. Ở nước ngoài
Việc quan tâm, nghiên cứu lịch sử, văn hóa, phong tục, đời sống người
Hmông xuất hiện sớm nhất ở TQ, nơi họ cư trú từ xa xưa. Chúng tôi chú ý trước hết
những nghiên cứu ở TQ, đặc biệt vùng Tây Nam TQ, nơi cư trú chủ yếu của người
Hmông và là con đường di cư của họ xuống phía Nam đến Việt Nam.
11
Đời nhà Tống (thế kỷ XII), tác giả Lục Du viết cuốn “Lão học am bút ký” đã
ghi chép một số phong tục “lạ” của người Miêu (Hmông), có đoạn tả cảnh sinh hoạt
ca hát: Người Miêu khi nông nhàn, từng bọn một hai trăm người, tay nắm tay nhau
mà hát, có mấy người thổi khèn đằng trước dẫn dắt, những cái vại cất trong bóng
cây, đói không cần ăn, chỉ lấy rượu trong vại ra uống, không ngừng ca hát, ca hát
thâu đêm ngoài trời đến hôm sau [Dẫn theo Lương Vũ Minh, 189, tr.126. bg].
Đến đời nhà Minh (thế kỷ XIV – XVII), sách “Gia Tĩnh đồ kinh” ghi chép lịch
sử triều đại nhà Minh cũng dành hẳn một mục chép về phong tục Miêu dân ở vùng Tây
Nam TQ, có ghi: Nam, nữ chưa kết hôn, hàng năm vào tháng ba, tháng tư, tập trung ở
sân bãi, ở giữa dựng một cái cột, nhảy múa xung quanh, ca hát…” [189, tr.126. bg].
Vào đời Thanh, Trần Đỉnh viết “Điền Kiềm du ký”, ghi chép tại vùng Vân Nam
(TQ), rất chú ý đến người Hmông, ông miêu tả: Tập tục của người Miêu, hàng năm vào
tháng giêng, thanh niên nam, nữ ăn mặc đẹp, cùng nhau nhảy múa [189, tr.126. bg].
Các miêu tả trên về phong tục ca hát vào dịp đầu năm của người Hmông cổ
đại có lẽ là LHGT hoặc chí ít cũng là dấu tích của LHGT ngày nay.
Năm 1933, Từ Tùng Thạch, người TQ, xuất bản tác phẩm “Lịch sử nhân
dân vùng hạ lưu sông Việt Giang” phác hoạ những nét cơ bản lịch sử các dân tộc
Hmông, Dao, Di…; trong đó, ông dành nhiều trang nói về lịch sử chiến tranh, di cư,
văn hoá, phong tục, tập quán dân tộc Hmông; khẳng định dân tộc Hmông không
phải người man rợ mà là một trong rất ít dân tộc vẫn còn lưu giữ được sắc thái của
huyện Mường Khương.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ dừng ở mức độ miêu thuật, đưa ra những
nhận định về các vấn đề lịch sử, dân tộc, văn hóa, tín ngưỡng chứ chưa đi sâu nghiên
cứu cụ thể, chi tiết mối quan hệ giữa LHGT và Gầu plềnh, chưa vận dụng những
phương pháp khoa học để làm sáng tỏ các giá trị tiềm ẩn bên trong của chúng.
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, cụ thể Gầu plềnh và
LHGT của người Hmông và mối quan hệ của chúng. Tuy nhiên, về dân tộc học, lịch
sử, văn hóa Hmông được một số tác giả quan tâm, ghi chép.
1) Thời kì phong kiến tự chủ, một số trí thức phong kiến đã nghiên cứu vùng
miền núi phía Bắc. Nhà bác học Lê Quý Đôn nghiên cứu lịch sử, địa lý, văn hoá,
phong tục các dân tộc ít người Việt Bắc, Tây Bắc (trong đó có Lào Cai) với các tác
phẩm Vân đài loại ngữ (số 1773, Viện Hán Nôm), Phủ biên tạp lục (số 1776, Viện
Hán Nôm), Kiến văn tiểu lục (số 1777, Viện Hán Nôm); tác giả Hoàng Bình Chính
ghi chép văn hoá dân tộc vùng Yên Bái, Lào Cai trong cuốn Hưng hoá phong thổ
lục (số 1778, Viện Hán Nôm), giới thiệu một số thần thoại, cổ tích Tày, Nùng,
Mường, Thái…nhưng chưa thấy các tác giả nói về người Hmông. Đến thế kỷ XIX,
Phạm Thận Duật với cuốn Hưng hoá địa chí kí lược (1856, Viện Hán Nôm) nói về
một số dân tộc ít người Tây Bắc, nhắc đến người Dao – Mèo và sưu tầm một số
sách cổ người Dao huyện Bảo Yên (Lào Cai). Như vậy có thể xác định thời kỳ này
các tộc Hmông, Dao đã di cư đến Lào Cai.
2) Thời kì cận đại, đầu thế kỷ XX
Thực dân Pháp, sau khi xâm lược Việt Nam đã cử một số đoàn thám hiểm,
truyền giáo và cả các đội quân bình định vùng núi phía Bắc. Trong các đoàn đó có
những người đã nghiên cứu một số dân tộc ít người như Savina nghiên cứu người
Hmông, Bônifaxi nghiên cứu người Tày, Mán...Các tác giả trên đề cập và sưu tầm
một số truyện cổ dân gian các dân tộc. Tuy nhiên, họ sử dụng văn học dân gian các
13
tìm về cá tính H’mông (Nguyễn Mạnh Tiến, 2014),... là những công trình khoa học
khá lớn, nghiên cứu nhiều mặt đời sống vật chất, tinh thần (nhà cửa, trang phục, phong
tục, tập quán, sinh hoạt, sản xuất, tín ngưỡng, tâm linh, văn hóa, văn học dân gian,
ngôn ngữ, chữ viết, lễ hội...) dân tộc Hmông, giúp tác giả Luận án có cái nhìn tổng thể
về dân tộc này. Các tác giả ít nhiều đều đề cập đến LHGT cũng như dân ca Hmông; tuy
chủ yếu miêu thuật lễ hội và nêu những nét phác thảo đặc điểm dân ca nhưng họ đều có
chung nhận định như: dân tộc Hmông đặc biệt yêu ca hát, có kho tàng dân ca phong
14
phú; Gầu plềnh được hát phổ biến trong cộng đồng, LHGT có ở một số vùng đồng bào
Hmông. Những nhận định, đánh giá trong các công trình trên có tính chất gợi ý, định
hướng bổ ích cho đề tài.
Ngoài ra, một số công trình, tuy không trực tiếp đề cập đến vấn đề của đề tài
Luận án này nhưng rất cần thiết cho chúng tôi có cái nhìn rộng hơn, cụ thể hơn về
con người, phong tục, tập quán Hmông ở từng vùng như các luận văn: Quan hệ
dòng họ của người Hmông hoa ở xã Kim Nọi Mù Căng Chải” của Vương Duy
Quang (1988), Tìm hiểu văn hóa Mông huyện Sa Pa của Lê Huy Phú (2002) và một
số bài báo của Lê Trung Vũ, Nguyễn Văn Lợi, Phạm Đức Dương…
Hai chục năm trở lại đây, ở Lào Cai, phong trào nghiên cứu văn hóa, văn
nghệ dân gian phát triển mạnh, xuất hiện nhiều tác giả với nhiều bài báo viết về các
mặt đời sống đồng bào Hmông ở các huyện của tỉnh Lào Cai. Tiêu biểu: Trần Hữu
Sơn: “Trang trí dân gian trên trang phục Hmông hoa Bắc Hà” (Tạp chí Văn hóa
nghệ thuật, số 6/1990), “Sa man giáo của người HMông ở Lào Cai” (Tạp chí Văn
hóa dân gian, số 6/2001), Hoàng Minh Lường: “Một số phong tục - tập quán liên
quan đến nhà cửa của người Hmông ở Lào Cai” (Tạp chí Văn hóa dân gian số
4/1995); Lê Hồng Lý, Hoàng Tích Biên Hòa: “Người Hmông xanh ở Nậm Xé” (Tạp
chí Văn hóa dân gian số 4/1995); Lý Cẩm Tú, Hoàng Minh Lợi “Một số tập tục của
người Hmông xanh tỉnh Lào Cai” (Tạp chí Văn hóa dân gian số 1/1997), Lê Ngọc
Thắng: “Mối quan hệ giữa văn hóa truyền thống và kinh tế của người Hmông ở Bắc
LHGT về quy mô, số lượng ngày càng đông người tham dự và có gợi ý rất quan trọng
đối với chúng tôi: con người ngày càng hướng nhiều hơn vào đời sống tâm linh qua
hoạt động lễ hội.
LHGT là lễ hội rất tiêu biểu, vì vậy được quan tâm nghiên cứu, lựa chọn, hiện
diện trong Từ điển lễ hội Việt Nam và 65 lễ hội cổ truyền Việt Nam. Tuy các công trình
nghiên cứu LHGT trên chỉ dừng ở mức độ miêu thuật, nhận định ban đầu nhưng là
những định hướng quan trọng để chúng tôi kế thừa, tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.
Về dân ca Hmông và Gầu plềnh: Ngay sau khi có những tác phẩm dân ca
Hmông đầu tiên được công bố, tác giả Tô Hoài có bài “Tiếng hát làm dâu, tiếng hát
đau thương, tiếng hát căm hờn ngàn đời của người phụ nữ Mèo” in trên Tạp chí Văn
học số 2/1965. Tác giả phân tích nội dung đồng thời lưu ý một số vấn đề dịch thuật sao
cho đúng bản chất dân ca Hmông và truyền thống văn hóa, tâm lý người Hmông. Bài
viết đã cung cấp cho chúng tôi nhiều tư liệu quý, cách nhìn nhận vấn đề nghiên cứu
phải thấu đáo, toàn diện, sâu sát, am hiểu đời sống, phong tục của đồng bào.
Năm 1967, nhà sưu tầm, dịch giả Doãn Thanh viết lời giới thiệu cuốn Dân
ca Mèo (Lào Cai) đã nêu những đặc điểm cơ bản về nội dung, diễn xướng 5 tiểu
loại (theo tên tự gọi) dân ca Hmông, song ông lưu ý ranh giới giữa các tiểu loại ấy
còn có điểm chưa thỏa đáng. Doãn Thanh dành 2 trang mô tả các vấn đề cơ bản của
Gầu plềnh: - các dạng bài hát; - các đối tượng tham gia hát; - các hoàn cảnh hát; đánh giá sơ bộ giá trị nội dung Gầu plềnh. Ông đặc biệt đánh giá cao loại hát Gầu
plềnh, coi là “loại rất có giá trị văn học”, loại bài hát phong phú và đa dạng nhất:
“Từ Tiếng hát tình yêu, ta có thể nhận thức được khá đầy đủ nhiều mặt đời sống xã
hội, đời sống tình cảm của người Mèo, càng thấy họ là những người giàu tình cảm,
rất coi trọng tín nghĩa. Trong dân ca Mèo, loại này (Gầu plềnh) là phần chủ yếu, có
nhiều giá trị tích cực nhất” [132, tr.16].
Tác giả Phan Nhật viết bài “Tìm hiểu quá trình hình thành truyện thơ Tiếng
hát làm dâu” đăng trên Tạp chí Văn học, số 3 năm1972. Áp dụng lý thuyết cấu trúc,
16
ông đã lập sơ đồ so sánh kết cấu truyện thơ “Tiếng hát làm dâu” với 6 kiểu bài dân
Gầu plềnh nhưng tác giả đã nêu lên phương pháp luận và những gợi ý có tính chất
nền tảng giúp chúng tôi kế thừa triển khai Luận án.
Tác giả Lê Trường Phát hoàn thành Luận án Tiến sĩ Thi pháp truyện thơ các
dân tộc thiểu số, năm 1997; lựa chọn một số truyện thơ Hmông, đối chiếu với Gầu
plềnh và kết luận: một trong những cơ sở hình thành truyện thơ Hmông là dân ca
tiếng hát tình yêu (Gầu plềnh); đồng thời lập bảng so sánh Gầu plềnh và truyện thơ,
phân tích việc sử dụng Gầu plềnh để sáng tạo truyện thơ Hmông như thế nào. Như
17
vậy, có thể thấy vai trò, sự ảnh hưởng của Gầu plềnh trong nền dân ca Hmông là rất
rõ và đã thu hút sự quan tâm của nhiều người.
Hoàng Việt Quân viết cuốn Tìm hiểu dân ca dân tộc Mông do Nhà xuất bản
Dân tộc phát hành năm 2004. Lần đầu tiên, một cuốn sách khá dày dặn (188 trang)
nghiên cứu về dân ca Hmông do một tác giả lăn lộn nhiều năm với vùng cao viết.
Tác phẩm gồm 2 phần: - Tình hình sưu tầm, nghiên cứu dân ca Mông ở Lào Cai,
Yên Bái; - Khảo sát một số loại hình dân ca Mông ở Lào Cai, Yên Bái. Trong đó,
tác giả đã khảo sát 7 loại hình dân ca Hmông là Tiếng hát tình yêu, Tiếng hát cưới
xin, Tiếng hát cúng ma, Tiếng hát than thân, Tiếng hát ru con, Tiếng hát đánh giặc
và Tiếng hát lao động sản xuất. Hoàng Việt Quân đã nêu lên ý nghĩa cơ bản của các
loại hình dân ca; đặc biệt quan tâm đến những bài dân ca đề tài về đánh giặc và lao
động sản xuất mới sưu tầm từ năm 1975 trở lại đây ở Lào Cai, Yên Bái. Tuy tác giả
không tập trung phân tích Gầu plềnh như một tiểu loại văn học dân gian Hmông,
không khai thác phương diện diễn xướng và các phạm trù, phương tiện nghệ thuật
nhưng đây là tài liệu tốt để tác giả Luận án tham khảo, kế thừa.
Năm 2012, Hoàng Thị Thủy hoàn thành Luận án Tiến sỹ Dân ca nghi lễ dân
tộc Hmông, nghiên cứu diễn xướng, nội dung, nghệ thuật của hai mảng dân ca đám
cưới và tang ma. Đáng chú ý là Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Kiến Thọ với đề tài
Thơ ca dân gian dân tộc Hmông từ truyền thống đến hiện đại (2013). Tác giả đã có
một số kết luận như: Thơ ca dân gian Hmông là kho tàng văn hoá đặc sắc phản ánh
đưa ra một số ý kiến thú vị như nhiều bài có cấu trúc, ý tứ giống các bài hát trong
“Kinh thi” của TQ [140, tr. 228], hoặc thể loại hát Khâu - xìa có thể chia 3 loại nhỏ
để hát tương ứng với ba tiểu loại dân ca gâux tus zuôs, gâux plênhl, gâux uôz
nhangs (hát mồ côi, hát tình yêu, hát làm dâu). Đó là những gợi ý bổ ích để định
hướng có thể tìm lời giải đáp khi nghiên cứu Gầu plềnh.
Năm 2007, Phùng Thị Thanh, giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Lào Cai
hoàn thành Luận án Tiến sỹ Phân tích đối chiếu hệ thống ngữ âm - âm vị học của Tiếng
Việt với tiếng Hmông và các lỗi phát âm tiếng Việt của học sinh Hmông tại trường Đại
học Sư phạm Hà Nội. Luận án nghiên cứu sâu lĩnh vực ngữ âm, âm vị học đồng thời đề
xuất các giải pháp sửa lỗi cho học sinh người Hmông ở Lào Cai, tuy không trực tiếp liên
quan đến đề tài Luận án nhưng đã cung cấp cho chúng tôi một số vấn đề về phương pháp
phân tích ngôn ngữ Hmông, trong đó có ngôn ngữ dân ca Hmông.
Ngoài những công trình kể trên còn có một số bài giới thiệu âm nhạc Hmông
của Hồng Thao, Kim Vĩnh, những mục khảo tả ngôn ngữ, âm nhạc trong các công
trình viết về văn hóa Hmông của các tác giả Trần Hữu Sơn, Hùng Đình Quý…
Những bài, mục này chủ yếu nêu lên những phác thảo, những đặc điểm chung nhất
của dân ca, dân nhạc Hmông chứ chưa đi sâu nghiên cứu một tiểu loại dân ca nào
cụ thể.
Gần đây, giới nghiên cứu đã chú ý việc nghiên cứu quan hệ giữa lễ hội dân
gian và văn hóa, văn học dân gian. Đáng chú ý là bài Tổng quan về kho tàng lễ hội
cổ truyền Việt Nam của tác giả Nguyễn Chí Bền trong cuốn Văn hóa dân gian Việt
Nam - Những suy nghĩ do Nxb Văn hóa Dân tộc phát hành năm 1999. Trên cơ sở
tổng thuật, đánh giá nhiều công trình nghiên cứu lễ hội ở Việt Nam, tác giả khẳng
định một số luận điểm quan trọng như: “lễ hội là một thành tố của văn hóa”, “lễ hội
cổ truyền không là một thành tố bất biến”, “lễ hội tồn tại như là kết quả của quá
trình tiếp biến văn hóa”; “trên đường vận hành của trò diễn dân gian trong lễ hội,
người dân đã đưa vào đủ loại: ca hát, múa gậy tiền...và lễ hội là thời điểm mạnh của
19
đạo, quản lý xã hội trong việc tổ chức thực tiễn, xây dựng chính sách bảo tồn, phát
huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, khắc phục những biểu hiện tiêu cực nảy sinh
trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
1.2. Tổng quan về dân tộc Hmông
1.2.1. Tên gọi và các nhóm người Hmông ở Việt Nam
Một số nghiên cứu dân tộc học cho rằng người Hmông vốn là cư dân nước
Tam Miêu được người TQ gọi là Miêu Tử hoặc Miêu dân sống ở khu vực giữa hồ
20
Động Đình và Bành Lãi. Ngày nay, họ sống chủ yếu ở miền nam TQ và được phân
chia 4 nhóm lớn: (1) Ghao Xong: Miêu Đỏ (tây Hồ Nam); (2) Hmu, Gha Ne: Miêu
Đen (đông nam Quý Châu); (3) Hmao: Miêu Hoa lớn (tây bắc Quý Châu, đông
bắc Vân Nam); (4) Hmông: Miêu Trắng, Miêu Xanh, Miêu Hoa nhỏ (nam Tứ
Xuyên, tây Quý Châu, nam Vân Nam); một bộ phận người Hmông di cư sang Việt
Nam khoảng gần 300 năm trở lại đây [9].
Tên gọi: trước năm 1979, ở Việt Nam, người Hmông được biết đến với tộc
danh Mèo (phiên âm từ chữ Miêu); hiện nay có nhiều ý kiến và tồn tại nhiều cách
gọi khác nhau: Mèo, Mẹo, H.Mông, H’Mông, Hơ Mông, Mông.
Cách viết: các văn bản, tài liệu ở nước ta có nhiều cách viết tộc danh
Hmông: Hmôngz, Hmông, H'mông, Hơ Mông, Mèo, Mẹo, Miêu. Trong chữ viết
của người Hmông, tên tự gọi ghi là Hmôngz [15, tr. 220]. Ngày 04/12/2001, Hội
đồng Dân tộc Quốc hội, khóa X, có Công văn số 903-CV/HĐDT, đề nghị viết là Mông.
Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ đã lên danh mục 54 dân tộc ở nước ta, công bố tại
Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979, theo đó, gọi và viết tộc danh
Hmôngz là Hmông. Tổng điều tra dân số, ngày 1/4/2009 cũng viết là Hmông. Tuy
nhiên, tộc danh Mèo vẫn có giá trị pháp lý như Hmông, giống như tộc danh Việt Kinh, Chăm - Chàm, Hoa - Hán. Theo nhà văn người Hmông Mã A Lềnh, người
Hmông tự gọi tộc danh và viết là Hmôngz; người Việt không phát âm được dấu
giọng z, nên viết Hmôngz thiếu chữ z để cho gần với hệ chữ Việt chỉ là “sự lược bớt
dấu giọng” nên không ảnh hưởng [68, tr. 7 - 9]. Thống nhất quan điểm này, trong
Nghiên cứu thời tiền sử về người Hmông (khoảng 3000 năm TCN) có một số
ý kiến cho rằng tộc người Hmông vốn là cư dân phương Bắc di cư xuống TQ (F.M.
Savina trong “Lịch sử người Mèo”, Keith Quincy, trong “Người Hmông - lịch sử
một dân tộc”). Tuy nhiên, việc người Hmông có phải cư dân Siberia di cư xuống
TQ hay không thì chính Savina cũng thừa nhận là không chắc chắn vì không chứng
minh được con đường người Hmông di chuyển như thế nào qua dãy núi An Tai và
Thiên An Sơn. Sau này (năm 1994), các tác giả Cư Hòa Vần, Hoàng Nam đã viện
dẫn cứ liệu nhân chủng học do Giáo sư N.R.Morơde nghiên cứu từ phân tích nhóm
máu và khảo cổ học về người Hmông ở Tứ Xuyên, Quý Châu, khẳng định người
Hmông có nguồn gốc Mông gôlôit, không có nguồn gốc phương Tây [173, tr.18-19]
và hiển nhiên người Hmông ở Việt Nam cũng vậy.
Người Hmông sống ở vùng Hồ Nam đã liên tục chống lại Hoàng Ty và bị người
Hoa Hạ đánh bại, họ chia 2 nhóm chính: một đi về Tây Bắc châu thổ sông Vị, tới Tây
Tạng và dần dần bị đồng hóa, hòa lẫn với những tộc người khác, trở thành người Mili;
một đi về Tây Nam, đến lưu vực sông Dương Tử, cư trú trong vùng núi cao Nam
Dương Tử, họ giữ được bản sắc dân tộc giữa các cộng đồng dân tộc khác ở phương
Nam (người Hán gọi là Rợ phương Nam). Thời Nam Bắc triều trở đi, người Hmông
không ngừng di chuyển về Tây Nam; họ là tiền nhân của người Hmông hiện nay.
“Cuối Minh, đầu Thanh, tộc Miêu di cư đến đông nam Vân Nam dừng lại ở Mã
Quan...Đến triều Thanh, một bộ phận đã vào Lào Cai” [190, tr.44. bg].
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu dân tộc Hmông trên thế giới đều có
chung quan điểm: khoảng hơn ba nghìn năm trước, người Hmông đã từng sinh
sống ở lưu vực sông Hoàng Hà, là một trong những chủ nhân của nước Tam Miêu;
có nền văn hóa phát triển khá rực rỡ với nền văn minh lúa nước; có chế độ cai trị
riêng và đã chiến đấu kiên cường chống lại các thế lực khác. Bị chèn ép, một bộ
phận người Hmông phải thiên di dần về vùng núi cao Nam TQ rồi đến vùng núi Bắc