TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
MAI THỊ CHINH
t
LẺ HỘI LỒNG TỒNG - NÉT ĐẸP VĂN HÓA
CỦA ĐỒNG BÀO DÂN
Tộc TÀY
TỈNH LÀO CAI
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
•
•
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học:
ThS. VŨ NGỌC DOANH
HÀ NỘI, 2015
rf
Chương 2: LẺ HỘI LÒNG TÒNG - NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA ĐÒNG
BÀO DÂN TỘC TÀY TỈNH LÀO CAI
2.1 Khái niệm lễ hội............................................................................................19
2.1.1 Khái niệm “Lễ” .................................................................................... 20
2.1.2 Khái niệm “Hội” ...................................................................................21
2.2 Khái quát về Lễ hội Lồng Tồng................................................................ 22
2.2.1 Tên lê hội: Lê hội Lông Tông.............................................................. 22
2.2.2 Lịch sử hình thành lễ hội.......................................................................22
2.2.3 Thời gian và địa điểm tổ chức lễ h ộ i...................................................22
2.2.4 Công tác chuẩn bị lễ hội........................................................................23
2.3 Nội dung Lễ hội Lồng Tồng.........................................................................23
2.3.1 Phần lễ .................................................................................................... 23
2.3.2 Phần hội..................................................................................................26
2.4 Lễ hội Lồng Tông của đồng bào dân tộc Tày ở xã Phú Nhuận, huyện
Bảo Thắng, tỉnh Lào C ai................................................................................... 28
2.4.1 Vị trí và vai trò của các thành phần tham gia lễ h ộ i...........................28
2.4.2 Lễ vật....................................................................................................29
2.4.3 Không gian tổ chức lễ hội.................................................................... 29
2.4.4 Diễn trình tổ chức lễ h ộ i.......................................................................29
2.4.4.1 Khai m ạc...................................................................................... 30
2.4.4.2 Trò diễn và trò chơi diễn ra trong lễ hội....................................30
2.5 So sánh Lễ hội Lông Tồng của đông bào dân tộc Tày ở Lào Cai với Lễ
hội xuống đồng của các dân tộc khác.............................................................. 31
2.5.1 Lễ hội Roóng Poọc của đồng bào dân tộc Giáy ở Tả Van (SaPa)... 31
2.5.2 Lễ hội Lồng Tồng của đồng bào dân tộc Tày ở huyện Chiêm Hóa,
tỉnh Tuyên Quang............................................................................................33
Chương 3: GIÁ TRỊ, THựC TRẠNG YÀ MỘT SỔ GIẢI PHÁP GIỮ
GÌN NÉT VĂN HÓA Ở LẺ HỘI LÒNG TÒNG ......................................... 36
thật trong lịch sử dân tộc, các vị tố nghề...
Đen với bất kì vùng miền nào trên đất nước Việt Nam vào bất kì một
khoảng thời gian nào trong năm đều thấy sự xuất hiện và tồn tại của các lễ
hội. Lễ hội là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc về nhiều mặt
của đời sống (chính trị, văn hóa xã hội, tôn giáo tín ngưỡng ...) của cư dân
vùng lúa nước. Đa phần các lễ hội đều diễn ra trong khoảng thời gian vào
mùa xuân. Đó là mùa chuyển giao thời vụ, cũng là thời điểm giao mùa hết
đông sang xuân, khi tiết trời đẹp, ngày tháng nông nhàn, cư dân có điều kiện
về thời gian cũng như về tinh thần để tổ chức lễ hội. Bởi thế mà dân gian có
câu " Tháng giêng là tháng ăn chơi ". Lễ hội ngoài mục đích tưởng nhớ công
ơn, tri ân các vị thần để cầu cho một năm mới may mắn, một vụ mùa bội
thu, một cuộc sống sung túc, còn là nơi đế người dân giải trí, nghỉ ngơi sau
một vụ mùa, một năm lao động vất vả.
Mỗi lễ hội lại có những đặc trưng, những nét văn hóa riêng biệt. Lễ hội
Lồng Tồng là một lễ hội như vậy. Lồng Tồng theo cách gọi của người Tày Nùng là lễ hội xuống đồng với nhiều nghi thức và thành phần lễ hội sinh
động. Vào ngày hội, tất cả mọi người trong thôn, bản đều tham gia làm lễ.
Nhà nào cũng có mâm cúng, gà luộc, bánh chưng, xôi đỏ, xôi vàng, trứng
nhuộm màu...những ước mơ, những khát vọng về cuộc sống ấm no, sinh sôi
1
nảy nở, an lành đều được gửi gắm vào đó. Qua lễ hội Lồng Tồng cho chúng ta
thấy được nhiều nét văn hóa, phong tục của dân tộc Tày như hát Then (hát
hội), các điệu múa... Lễ hội Lồng Tồng đã có từ rất lâu đời, được truyền từ
đời này sang đời khác trong cộng đồng người dân tộc Tày. Lễ hội Lồng Tồng
cũng như lễ xuống đồng của người Kinh đều mang đậm dấu vết tín ngưỡng
phồn thực và thành phần lễ hội sinh động. Tại Lễ hội, mỗi sản vật được dâng
lên cúng trời đất, Thần Nông đều mang một ý nghĩa thể hiện được sự giao hoà
của trời đất, là thành quả lao động của những bàn tay cần cù, chịu khó, chắt
_
ГТЧ Ạ
hội Lông Tong:
“Các lễ hội ở Lào Cai” trên trang Web “Du lịch SaPa”; “Lễ hội Lồng
Tồng đặc sắc của SaPa” trên trang Web “Du lịch Khát Vọng Việt”...
Còn rất nhiều các nguồn tư liệu khác cũng tìm hiểu và nghiên cứu về đề
tài này. Tuy nhiên, trên các bài viết được kế ra ở trên chủ yếu nói rất chung
chung về lễ hội. Hầu hết các bài báo chỉ trình bày tóm tắt nội dung của lễ hội
thông qua phần lễ và phần hội của lễ hội Lồng Tồng cùng với một số hình ảnh
minh họa cho lễ hội. Các bài báo chỉ khai thác lễ hội ở một khía cạnh hẹp, chỉ
mang tính chất liệt kê những trò chơi, trò diễn trong lễ hội mà chưa khai thác
sâu vào những nét văn hóa nổi bật, những giá trị văn hóa cần được lưu giữ và
bảo tồn. Ngoài ra, các bài viết, tư liệu trên chưa đánh giá được kĩ thực trạng
phát triển được lễ hội để từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm khôi phục
những giá trị văn hóa truyền thống đang dần bị mai một hoặc các biện pháp
để phát triển lễ hội, biến lễ hội thành một địa điểm du lịch hấp dẫn.
Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa những thành tựu đã đạt được của
những người đi trước, cùng với việc nghiên cứu, tìm hiếu của bản thân.
Thông qua bài khóa luận của mình em mong muốn góp phần nào đó công sức
vào việc bảo tồn, lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống cũng như đưa ra
một số giải pháp nhằm phát triển và biến lễ hội Lồng Tồng từ phạm vi lễ hội
bản địa trở thành một điểm du lịch văn hóa hấp dẫn khách du lịch.
3. Mục đích và nhiệm yụ nghiên cún
3.1.Mục đích nghiên cứu
Khắng định giá trị văn hóa của lễ hội Lồng Tồng ở Lào Cai.
Góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những nét văn hóa truyền thống
của đồng bào dân tộc Tày ở Lào Cai.
Đánh giá thực trạng của lễ hội Lồng Tồng.
4
Sử dụng kết quả đánh giá để từ đó đề xuất một số giải pháp giữ gìn nét
văn hóa trong lễ hội Lồng Tồng.
Quảng bá hình ảnh của lễ hội chùa Lồng Tồng ra phạm vi cả nước.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo. Khóa luận tốt nghiệp được
chia làm 3 chương. Cụ thể đó là:
Chương 1: Một số vấn đề chung
Chương 2: Lễ hội Lồng Tồng - Nét đẹp văn hóa của đồng bào dân tộc Tày ở
tỉnh Lào Cai
Chương 3: Giá tộ, thực trạng và một số giải pháp gìn giữ nét văn hóa ở lễ hội
T
À
ГТЧ A
Long Tong
5
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐÈ CHƯNG
1.1 KHÁI QUÁT VẺ DÂN TỘC TÀY
các thành tựu khoa học kĩ thuật vào chăn nuôi. Các loại gia súc, gia cầm đã có
chuồng trại on định, nuôi các giống vật nuôi cho năng suất cao như: lợn siêu
nạc, gà siêu nạc... Nhờ vậy, chăn nuôi không chỉ phục vụ nhu cầu của đồng
bào mà còn tạo ra sản phấm để trao đổi, buôn bán tạo thêm thu nhập cho gia
đình. Có thể nói đồng bào dân tộc Tày đã đưa kinh tế hàng hóa vào trong chăn
nuôi. Ngoài ra đồng bào còn chú trọng nuôi cá. Hầu như gia đình nào cũng có
ao nuôi cá, vừa để cải thiện đời sống vừa để tạo cảnh quan môi trường đẹp
hơn. Neu là ao chuyên canh thì đồng bào thả nhiều loại cá khác nhau như: cá
chép, cá trôi, cá mè, cá rô phi...
Bên cạnh trồng lúa và chăn nuôi người Tày còn săn bắn, hái lượm. Sau
buối làm nương rẫy người Tày hái thêm rau rừng, nấm, măng, bắt cá suối, đây
là hoạt động kiếm sống tự nhiên khá phát triển của đồng bào dân tộc Tày.
Kinh tế thủ công nghiệp
Ngoài ra, người Tày còn phát triển nghề dệt. Nghề dệt đã gắn chặt với
phong tục cưới xin truyền thống của người Tày từ bao đời. Đe chuẩn bị về
nhà chồng, các thiếu nữ người Tày phải tự tay dệt nhiều vỏ gối, vỏ chăn, vỏ
đệm để biếu những người thân trong gia đình chồng. Ngoài ra, nghề đan lát
của người Tày tạo ra các sản phấm phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt như: dần,
sàng, gùi, phên...
1.1.3 Quan hệ xã hội của đồng bào dân tộc Tày
Quan hệ cộng đong làng bản
Người Tày có tập quán cư trú thành làng bản. Bản là đon vị tụ cư của
nhiều dòng họ lấy quan hệ láng giềng làm cơ sở, có thiết chế tự quản và quy
7
định riêng. Quy mô của các bản vừa và nhỏ, mỗi bản có từ 30 đến 60 nóc nhà.
Làng bản của người Tày thường được tạo dựng ở các thung lũng ven suối hay
có đồi núi bao quanh. Mỗi bản có phạm vi cư trú, đất đai trồng trọt riêng,
với các thành viên trong gia đình, song quyền quyết định vẫn là do người chủ
gia đình.
Tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày không chỉ thể hiện qua
vai trò của người cha, người chồng mà còn thể hiện qua việc thừa kế tài sản chỉ có con trai mới được thừa hưởng tài sản. Tài sản để phân chia bao gồm:
ruộng đồng, trâu, bò, lợn, lúa gạo, rừng, tài sản trong gia đình, công cụ sản
xuất... Người Tày có tục nhận con nuôi, nhận bạn Tồng kể cả trong trường
họp khác dân tộc.
1.1.4 Tín ngưỡng dân gian
Người Tày không có một tôn giáo chính thống nào nhưng là xã hội ảnh
hưởng của đa giáo, trong đó có Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo kết hợp với các
tín ngưỡng dân gian.
Thờ cúng tố tiên và các vị thần che chở trong gia đình
Một hình thức thờ cúng quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của
người Tày đó là thờ cúng tổ tiên. Vì vậy, gia đình nào cũng có một bàn thờ
cúng tổ tiên được đặt ở gian giữa nhà, đây là nơi tôn nghiêm nhất. Người Tày
thường thắp hương thờ cúng tổ tiên vào ngày mùng 1 và ngày rằm hàng tháng
với những đồ lễ đơn giản như: hoa quả, rượi hay nước sạch. Vào các ngày lễ
tết, lớn nhất là Tet nguyên đán và Rằm tháng Giêng thì cỗ cúng thường được
sắm sửa, bày biện đầy đủ, thịnh soạn, đủ các loại bánh trái, thịt gà, thịt lợn...
Bên cạnh đó, người Tày còn thờ cúng thần bếp: người Tày cho rằng
thần bếp là vị thần cai quản theo dõi công việc làm ăn trong nhà trong suốt cả
năm để cuối năm lên trình với Ngọc Hoàng. Người Tày thờ thần bếp ngay
9
trong bếp nhà mình, ngày mùng 1 và rằm chỉ thắp hương, khấn vái và cho đến
23 tháng Chạp mới phải có lễ vật.
Thờ thổ công: đây là vị thần che chở, bảo vệ cho cả bản làng. Theo
quan niệm của người Tày thì vị thần này có thật, có công lao xây dựng bản
biến món ăn của người Tày cũng đa dạng bao gồm chế biến dùng lửa (món
rán, nướng, xào, quay...) và không dùng lửa (thịt lạp, thịt chua,...).
Các món ăn từ rau rừng ngoài giá trị ẩm thực còn chữa bệnh rất tốt. Có
thể kể đến hàng chục loại rau rừng thường xuyên được dùng trong các bữa ăn
của người Tày như: rau bò khai, rêu đá, rau chuối rừng, hoa ban... Trong số
đó, có rất nhiều loại mà du khách không thể bỏ qua khi được thưởng thức
hoặc mua về cho người thân. Cách chế biến của người Tày cũng rất đa dạng,
vừa đem lại cảm giác mới lạ, vừa tạo mỹ quan lại kết hợp hài hòa giữa các vị
đắng - cay - mặn - ngọt. Nhiều loại rau rừng dùng để ăn ghém như cỏ mần
trầu, rau bò khai, rau ngót rừng... Người Tày thường ăn các món như:
Cơm tẻ: cơm là món ăn chính hàng ngày của người Tày. Gạo tẻ vào nồi
nấu cùng nước. Khi nước cạn đem đặt nồi cạnh bếp đến khi chín.
Xôi: là món ăn đặc trưng của người Tày. Gạo nếp đồ trong chõ xôi.
Người Tày thường ăn xôi trắng, ngoài ra còn một số loại xôi khác như: xôi
màu, xôi rau ngót rừng, xôi trứng kiến... Xôi màu là xôi mà gạo nếp được
nhuộm thành các màu xanh, tím, vàng. Gạo được trộn bằng nhiều loại lá cây
khác nhau thành nhiều màu khác nhau.
Cơm lam: là món ăn đặc trưng của người Tày. Trước tiên, người ta
ngâm gạo nếp rồi cho vào ống tre non cùng một ít nước. Đậy nút lá chuối kín
rồi nướng trên bếp lửa hoặc đồ lên cho chín. Đe ống tre nguội, bóc vỏ ống tre
để lại lóp lót mỏng của tre bao quanh cơm. Khi ăn dùng dao sắt thành từng
khúc nhỏ.
11
Cá nướng và cá sấy: là cách chế biến thường thấy nhất của người Tày.
Cá làm sạch rồi xiên vào que nướng, khi chín gỡ cá ra và chấm với nước
chấm. Khi có nhiều cá thì người ta đem sấy khô.
Thịt lợn tái: thịt lợn lạc thái mỏng rồi trộn với ít muối, vắt chanh vừa
hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quán khăn thành
chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ
mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).
Nhà ở
Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Đông Bắc từ Quảng Ninh,
Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, đến
Lào Cai... Họ thích sống thành bản làng đông đúc, có bản có hàng trăm nóc
nhà. Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn, nhà đất lợp mái gianh
và một số vùng giáp biên giới có nhà phòng thủ. Xưa kia nhà sàn được sử
dụng một cách tống hợp, bên trong gồm hai phần: phần trong và phần ngoài,
gắn với nó là tập quán của gia đình. Ở những gia đình khá giả, nhà sàn được
xây dựng bằng gỗ có ván bưng xung quanh và lót sàn, mái lợp ngói, trông rất
khang trang. Tuy nhiên, ngày nay nhà gạch được xây dựng ngày càng nhiều.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo
kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, gianh hay
lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc ken bằng liếp nứa.
Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong
ngày vào nhà mới, chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm
đến sáng hôm sau.
Trong nhà phân biệt phòng nam ở ngoài, nữ ở trong buồng. Phố biến là
loại nhà đất 3 gian 2 mái (khong có chái), tường trình bằng đất hoặc đan liếp
nứa, bưng gỗ xung quanh, mái lợp lá cọ, gianh hoặc ngói hoặc tấm
Prôximăng. Bố trí mặt bằng sinh hoạt một cách thống nhất qua từng vị trí
13
trong ngôi nhà. Người Tày sống định cư, quây quần thành từng bản chừng 15
đến 20 hộ, có quan hệ gần gũi.
Вер của người Tày rất quan trọng. Tùy theo nhà rộng hay hẹp mà họ
Sinh đẻ
Khi có mang cũng như thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải
kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé
chóng lớn khỏa mạnh và tránh được những vía độc hại. Sau khi sinh được ba
ngày thì làm lễ cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng làm lễ ăn
mừng và đặt tên cho bé.
Ma chay
Đám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục
đích báo hiếu và đưa linh hồn người chết về thế giới bên kia. Sau khi chôn cất
được 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng
năm, họ tố chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.
h ễ tết
Hằng năm, người Tày có nhiều lễ tết với những ý nghĩa khác nhau. Tet
Nguyên Đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng Bảy cúng các vong hồn là các
ngày tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Lễ hội Lồng Tồng mở đầu cho
mùa vụ mới tổ chức vào tháng Giêng, Tet gọi hồn trâu, bò được tổ chức vào
ngày mồng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cày cấy và tết cơm mới được tổ chức
trước khi thu hoạch là cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp lúa nước.
Văn học, văn nghệ
Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, là lối hát giao
duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội
Lồng Tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài
múa trong nghi lễ ở một số nơi còn có múa rối bằng gỗ khá độc đáo và hấp
dẫn.
về trò chơi, trong ngày hội Lồng Tồng nhiều trò chơi được tổ chức như
15
7
•
7
«
Lào cai là một tỉnh miền núi nằm ở phái Bác Việt Nam, cách Hà Nội
296 km theo đường sất và 375 theo đường bộ. Tỉnh có 203,5 km đường biên
giới với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, trong đó 144,3 km là sông suối và 59,2
km là đất liền. Phía Bắc tỉnh Lào Cai giáp với tỉnh Vân Nam của Trung Quốc;
phía Nam giáp tỉnh Yên Bái; phía Đông giáp tỉnh Hà Giang; phía Tây giáp
tỉnh Sơn La và Lai Châu. Hiện nay tỉnh có 10 đơn vị hành chính (1 thành phố,
1 thị xã và 8 huyện).
Địa hình tỉnh Lào Cai đặc trưng là núi cao xen kẽ với đồi núi thấp, bị
chia cắt lớn, với phần thung lũng dọc sông Hồng và các tuyến đường bộ,
đường sắt chạy qua vùng trung tâm của tỉnh. Các huyện miền núi nằm bao
quanh hành lang trung tâm này từ Đông - Bắc sang Tây - Nam, gồm nhiều
dãy núi và thung lũng nhỏ biệt lập nơi có các cộng đồng dân cư sinh sống.
Những vùng có độ dốc trên 25 độ chiếm tới 80% diện tích đất đai của tỉnh.
Địa hình tựu nhiên của tỉnh có độ cao thay đổi từ 80 m trên mực nước biển
lên tới 3.143 m trên mực nước biển tại đỉnh Phan Si Păng, đỉnh núi cao nhất
Việt Nam. Địa hình núi với các kiểu khí hậu đã tạo nên một môi trường đa
dạng.
Khí hậu có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa rất rõ rệt do bị chi phối
bởi nhiều yếu tố địa hình phức tạp, phân tầng độ cao lớn nên có đan xen một
số tiểu vùng á nhiệt đới và ôn đới thuận tiện cho phát triển nông - lâm nghiệp,
c, cao nhất là 36 độ с và thấp
Tày chiếm 82.516 người (chiếm 15,84% dân số toàn tỉnh).
Dân tộc Tày ở Lào Cai chủ yếu phân bố tại các huyện Bảo Thắng, Bảo
Yên, Văn Bàn.
18
T R U N G
g u ố c
Dân tộc Tày ở Lào Cai cũng giống như dân tộc Tày ở các nơi khác có
nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu. Họ thường định cư ở các thung lũng ven
sông, suối. Họ canh tác lúa nước là chính. Bên cạnh đó, họ còn phát triển
trồng trợt các cây như ngô, khoai, sắn và các loại hoa màu, chăn nuôi. Mà
nông nghiệp lại phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều. Vì vậy, việc cầu cho mùa
màng tốt tươi là nguyện vọng tha thiết của họ, chính vì vậy từ xa xưa họ đã
tin vào các vị thần linh, mong được thần linh phù hộ. Trời có cho mưa thuận
gió hòa thì mùa màng mới tươi tốt, nhân dân mới no ấm, do vậy ngoài việc
thờ thần linh, tin tưởng vào sức mạnh của thần linh, người Tày còn tiến hành
các nghi lễ cầu mưa, cầu phúc, cầu lành.
Dân tộc Tày ở Lào Cai hằng năm tổ chức lễ hội Lồng Tồng vào sau tết
Nguyên Đán, đây chính là nghi lễ nông nghiệp cổ xưa của họ.
19
CHƯƠNG 2
LỄ HỘI LÒNG TÒNG - NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA ĐÒNG BÀO
DÂN TỘC TÀY Ờ LÀO CAI
làng xã Việt Nam, góp phần tạo nên văn hóa truyền thống. Văn hóa làng
truyền thống là sự lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Trải qua bao thăng trầm
của lịch sử dân tộc, kẻ thù của dân tộc có thể cướp được nước, thậm chí có
hàng nghìn năm biến nước ta thành châu, quận như phương Bắc, hàng trăm
năm biến dân ta thành nô lệ, áp dụng chính sách nô dịch văn hóa với sức
mạnh của một nền văn minh công nghiệp như thực dân Pháp nhưng không thể
đồng hóa được văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt Nam là nhờ sức sống của
văn hóa làng truyền thống. Việc điều tra khảo sát, nghiên cứu về văn hóa lễ
hội đã góp phần trả về cho lễ hội những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc,
khẳng định vai trò của lễ hội truyền thống của các làng cổ trong điều kiện
hiện nay.
2.1.1 Khái niệm “Lễ”
Theo Từ điển Việt Nam thì “Lễ” là hình thức được tiến hành nhằm
đánh dấu hay kỉ niệm một sự việc, sự việc có ý nghĩa lịch sử. Trong thực tế
“Lễ” có nhiều ý nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tạp.
Theo “Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam” thì “ Lễ” là khái niệm đạo
đức Khổng học có ý nghĩa là hình thức cúng tế, cầu thần ban phát, nghĩa rộng
là những qui tắc của cuộc sống chung trong cộng đồng xã hội. Lễ ở Việt Nam
chú ý tập trung trong các liên quan đến cầu mùa, người an vật thịnh. Có thể
nói, “Lễ” là phần đạo, phần tâm linh của cộng đồng nhằm đáp ứng cho nhu
cầu tín ngưỡng và đảm bảo nền nếp xã hội được hoàn thiện hơn.
Chữ “Lễ” được hình thành từ thời nhà Chu (thế kỉ XII). Lúc đầu “Lễ”
được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc nhà Chu cúng tế thần, tổ tong gọi
là lễ. Dần dần chữ “Lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân
biệt trên, dưới, sanh, hèn hay thứ bậc lớn nhỏ, thân sơ trong xã hộ phân hóa
21