ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
---------------------------------
PHẠM VINH QUANG
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
---------------------------------
PHẠM VINH QUANG
THƠ CA DÂN GIAN
THƠ CA DÂN GIAN
CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN Ở LÀO CAI
CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN Ở LÀO CAI
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HẰNG PHƯƠNG
Thái Nguyên - 2008
Thái Nguyên - 2008
6. Những đóng góp của luận văn ............................................................................. 7
*Tiểu kết.................................................................................................................. 97
7. Bố cục của luận văn.............................................................................................. 7
KẾT LUẬN ............................................................................................... 99
NỘI DUNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... 102
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI VĂN HOÁ CỦA
PHỤ LỤC ................................................................................................ 108
NGƯỜI DAO TUYỂN Ở LÀO CAI ......................................................... 8
1.1. Đặc điểm lịch sử, xã hội, văn hoá của người Dao Tuyển ............................... 8
1.2. Khái quát về thơ ca dân gian của người Dao Tuyển ..................................... 19
* Tiểu kết................................................................................................................. 26
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG THƠ CA DÂN GIAN NGƯỜI DAO TUYỂN Ở
LÀO CAI ................................................................................................... 27
2.1. Vài nét khái quát về cuộc sống của người Dao Tuyển qua thơ ca dân gian 28
2.2. Thơ ca dân gian người Dao Tuyển là tiếng ca ai oán của những người
mồ côi bất hạnh .......................................................................................... 30
2.3. Thơ ca dân gian người Dao Tuyển thể hiện một quan niệm đẹp về tình
yêu và hôn nhân của con người .................................................................. 37
2.4. Thơ ca dân gian của người Dao Tuyển là tấm gương phản chiếu đời sống tập
quán tín ngưỡng của con người ............................................................................. 50
người Dao Tuyển sinh sống. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu thơ ca dân gian
Nam mang đậm bản sắc văn hoá của cư dân nông nghiệp, được tạo bởi dân
của người Dao Tuyển ở Lào Cai sẽ giúp tôi hiểu rõ hơn về văn hoá tinh thần
tộc Việt Nam trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các dân tộc thiểu số
của người Dao Tuyển. Từ đó có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao chất
sống trên đất nước Việt Nam. Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định: “Coi
lượng giảng dạy văn học dân gian của các tộc người thiểu số.
trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng phát triển
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
giá trị mới về văn hoá văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số là một nhiệm
Mỗi dân tộc đều có những nét văn hoá đặc thù riêng. Những giá trị văn
hoá đậm bản sắc đó đã tạo nên nền văn hoá thống nhất mà đa dạng Việt
vụ vô cùng cấp bách”[77, tr.63].
Văn học dân gian là một thành tố quan trọng của văn hoá dân gian, là
Nam. Nghiên cứu nền văn học dân gian của các dân tộc là nhằm gìn giữ và
di sản văn hoá quí báu của dân tộc. Mỗi làn điệu dân ca, mỗi lời ca dao... đều
nguồn gốc, mà còn miêu tả khái quát về cách ăn mặc, cuộc sống di cư của
hình phân bố dân cư, đời sống tôn giáo, tín ngưỡng cho đến việc phân tích sự
một nhóm người Man (Dao) ở nước ta. Cũng vào năm đó, tác phẩm Hƣng
phát triển kinh tế xã hội và biến đổi văn hoá dân tộc Dao ở các địa phương.
Hoá xứ – Phong Thổ lục của tiến sĩ Hoàng Bình Chính đã giới thiệu sơ lược
Các công trình ấy cung cấp khá đầy đủ về một số khía cạnh dân tộc học, văn
về người Dao ở Châu Thuỷ Vỹ (Lào Cai). Năm 1856, nhà sử học Phạm Thận
hoá học. Nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào tìm hiểu thơ ca dân gian
Duật đã viết tác phẩm Hƣng Hoá kí lƣợc, giới thiệu khái quát về phong tục
người Dao Tuyển ở Lào Cai. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài này nhằm tìm
tập quán của các dân tộc ở Hưng Hoá, trong đó có nói tới phong tục tập quán
hiểu đời sống tinh thần của người Dao Tuyển qua thơ ca, đặc biệt là các giá trị
người Mán (Dao). Tuy nhiên, các tác phẩm trên đều chưa nói đến thơ ca dân
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở Lào Cai. Trong đó đề cập đến Lễ tết nhảy
cập đến nhiều khía cạnh văn hoá của các nhóm Dao ở Việt Nam như ngôn
của dân tộc Dao Đỏ Sa Pa, Lễ lập tịch của người Dao Họ. Trong sách, tác giả
ngữ, sản xuất, phong tục tập quán...nhưng cũng chỉ mô tả khái quát và còn tản
có đề cập đến dân ca Dao nhưng chỉ dừng ở mức độ khái quát.
mạn. Năm 1904, A.Bonifacy tiếp tục công bố các bài đã sưu tầm được về
Cuốn Tập tục chu kì đời ngƣời của các tộc ngƣời ngôn ngữ H’Mông -
truyền thuyết dân gian người Dao như Truyền thuyết Bàn Hồ, Quá Sơn
Dao ở Việt Nam của Nguyễn Đức Lợi, do Nxb Văn hoá dân tộc xuất bản năm
Bảng...rồi hàng loạt các chuyên khảo về người Dao như: Mán Quần cộc (1904
2002, đã đề cập đến tập tục, chu kì đời người của các dân tộc trong ngữ hệ
– 1905), Mán Quần Trắng (1905), Mán Đại Bản (1908)...Trong đó có trích
H’Mông - Dao ở Việt Nam.Trong đó đã đi sâu vào tìm hiểu một số tập tục
dẫn một số đoạn thơ ca từ sách cúng, từ đám cưới, đám tang của người Dao.
trong cuộc đời của người Dao như tập tục đánh dấu sự trưởng thành, lễ cấp
Ngƣời Dao ở Việt Nam của các tác giả Bế Viết Đẳng - Nguyễn Khắc
Trần Hữu Sơn (2005), Thơ ca dân gian ngƣời Dao Tuyển, Nxb Văn hoá
Tụng - Nông Trung - Nam Tiến, do nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản
dân tộc, Hà Nội. Cuốn sách là một nguồn tư liêụ quý nghiên cứu về kinh tế,
năm 1971, là tác phẩm đề cập khá toàn diện về đời sống của người Dao trên
văn hoá, xã hội của người Dao. Công trình đã giới thiệu hàng trăm bài dân ca
lãnh thổ Việt Nam như dân số, địa vực, tên gọi các nhóm Dao, các hình thái
lao động, dân ca nghi lễ phong tục, dân ca sinh hoạt của người Dao Tuyển
kinh tế, sinh hoạt vật chất, sinh hoạt xã hội, sinh hoạt văn hoá tinh thần và
(chủ yếu là ở Lào Cai). Tuy nhiên, Thơ ca dân gian ngƣời Dao Tuyển mới chỉ
những đổi mới trong cuộc sống sinh hoạt của người Dao từ sau Cách mạng
dừng lại ở việc giới thiệu về các loại hình thơ ca dân gian, trình bày sơ đôi nét
tháng Tám 1945 đến 1971. Tuy nhiên, các tác giả mới đề cập tới những nét
về nghệ thuật.
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tục bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của người Dao
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Tuyển ở Lào Cai nói riêng, văn hoá của của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu chính Thơ ca dân gian của ngƣời Dao Tuyển ở
nói chung.
Lào Cai.
Xem xét thêm một số yếu tố khác có liên quan đến nội dung đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa những tài liệu khoa học đã công bố về người Dao
Tuyển ở Việt Nam nói chung, về người Dao Tuyển ở Lào Cai nói riêng, bằng
những nguồn tư liệu địa phương qua nghiên cứu, sưu tầm tại chỗ, tác giả muốn
đi sâu nghiên cứu về thơ ca dân gian của người Dao Tuyển ở Lào Cai. Qua đó,
nhận diện thực trạng đời sống văn hoá tinh thần phong phú của cộng đồng
người Dao Tuyển, đặc biệt là những giá trị của thơ ca dân gian.
Nghiên cứu thơ ca dân gian người Dao Tuyển ở Lào Cai là một việc làm
4.2.1. Phạm vi tƣ liệu nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành khảo sát thơ ca dân gian của người Dao Tuyển ở
Lào Cai trong một số công trình đã được công bố:
ca của người Dao Tuyển ở Lào Cai ( những yếu tố khác dùng để phân tích
tham khảo khi cần thiết).
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu những vấn đề lí thuyết làm cơ sở để triển khai đề tài.
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu liên ngành.
NỘI DUNG
Phương pháp khảo sát thống kê.
Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh.
Phương pháp điền dã.
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI VĂN HOÁ
6. Những đóng góp của luận văn
Hoa ( Xạ Phang), Hà Nhì , Phù Lá (cả nhóm Xá Phó ); Ngữ hệ Thái có các
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành ba chương viết:
- Chƣơng1: Khái quát về lịch sử, xã hội,văn hoá của ngƣời Dao
Tuyển ở Lào Cai.
tộc ngƣời Tày (cả nhóm Pá Dí ), Thái , Giáy, Lào Lự , Bố Y”[48, tr.13].
Trong số các dân tộc thiểu số ở Lào Cai, người Dao là một trong những
tộc người có dân số khá đông (85.428 người, chiếm tỉ lệ 15,24% dân số toàn
- Chƣơng 2: Nội dung thơ ca dân gian của ngƣời Dao Tuyển ở
Lào Cai.
tỉnh - số liệu thống kê năm 2006), gồm 3 nhóm Dao khác nhau: Dao Đỏ, Dao
Họ và Dao Tuyển. Nhóm Dao Tuyển ở Lào Cai có số dân 31.325 người. Theo
- Chƣơng3: Đặc điểm thi pháp thơ ca dân gian của ngƣời Dao
Tuyển ở Lào Cai.
nhà nghiên cứu Trần Hữu Sơn: “Dân tộc Dao Tuyển ở Việt Nam có khoảng
45.000 người”[50, tr.7]. Như vậy, xét theo mức độ tập trung dân cư, người
Tài liệu tham khảo
Dao Tuyển ở Việt Nam sinh sống chủ yếu ở Lào Cai.
Phần phụ lục của luận văn có một số tranh ảnh, bản đồ minh hoạ
Người Dao Tuyển cư trú trên một địa bàn rộng. Trên thế giới người Dao
tr.19]. Như vậy, Bàn Hồ là một nhân vật thần thoại, được người Dao thừa
khách quan đem lại như điều kiện địa lí, môi trường sinh thái, giao lưu kinh
nhận là “ông tổ” của mình và được thờ cúng rất tôn nghiêm.
tế, văn hóa với các tộc người anh em mà họ sinh sống trên cùng một địa bàn
trong một thời gian dài.
Ngoài ra, sử sách lưu truyền cũng có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn
gốc của người Dao, nhưng tất cả đều thống nhất một quan điểm: người Dao
Ở Việt Nam, dân tộc Dao Tuyển có nhiều tên gọi khác nhau như ở Lào
có nguồn gốc từ Trung Quốc, di cư sang Việt Nam qua nhiều con đường khác
Cai được gọi là Dao Tuyển; ở Phong Thổ Lai Châu người Dao Tuyển đuợc
nhau, trong một quá trình lâu dài. Quá trình thiên di của người Dao Tuyển tới
gọi là Dao Đầu Bằng; ở Hà Giang, Tuyên Quang người Dao Tuyển được gọi
Lào Cai đã được nhà nghiên cứu Trần Hữu Sơn trình bày một cách khá cụ thể
là Dao Aó Dài. Cho dù tên gọi ở các địa phương có khác nhau nhưng đó đều
: Người Dao Tuyển di cư vào Việt Nam bằng hai con đường chính. Tuyến thứ
là tên gọi chỉ một bộ phận của nhóm Dao Làn Tiẻn (Dao Lan Điền).
con long khuyển Bàn Hồ từ trong kim điện nhảy ra sân rồng quỳ lạy xin đi
Xát [51, tr.10].
giết Cao Vƣơng. Trƣớc khi Bàn Hồ ra đi nhà vua có hứa, nếu thành công sẽ
Người Dao Tuyển bên cạnh những đặc điểm mang tính cội nguồn, còn
gả công chúa cho. Bàn Hồ bơi qua biển bảy ngày, bảy đêm mới tới nơi Cao
có những đặc trưng riêng mang đậm dấu ấn môi trường tự nhiên, văn hoá xã
Vƣơng ở. Cao Vƣơng thấy con chó đẹp tới phủ phục trƣớc sân rồng thì cho đó
hội của vùng miền. Đến cư trú ở Lào Cai, người Dao Tuyển mong muốn có
là điềm lành, nên đem vào cung nuôi. Nhân một hôm Cao Vƣơng say rƣợu
một cuộc sống ổn định, ấm no hạnh phúc. Thời kì mà người Dao đến Lào Cai
Bàn Hồ cắn chết Cao Vƣơng và ngoặm lấy đầu đem về báo công với Bình
là thời kì mà sự thống trị của triều đình phong kiến đối với những vùng xa xôi
Hoàng. Bàn Hồ lấy đƣợc cung nữ đem vào núi Cối Kê ( Chiết Giang ) ở. Vợ
hẻo lánh không chặt chẽ. Trong điều kiện đó, người Dao làm ăn tương đối tự
chồng Bàn Hồ không bao lâu sinh đƣợc 6 con trai và 6 con gái. Bình Hoàng
Làng của người Dao Tuyển được gọi là “giăng”. Làng thường được lập
chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam,
trên các sườn núi. Người Dao Tuyển không cư trú xen kẽ với các dân tộc khác
đời sống của người Dao Tuyển đã có những biến đổi sâu sắc: từ thân phận nô
trong làng. Đứng đầu mỗi làng là trưởng làng “giăng châu”. Trưởng làng
lệ trở thành người làm chủ đất nước, có cuộc sống bình đẳng với các dân tộc
thông thường là người trưởng họ trong dòng họ lớn nhất trong làng, những
anh em, mọi mặt đời sống được cải thiện rõ nét, bản sắc văn hoá được bảo tồn
cũng có nơi là người có uy tín, giỏi làm ăn. Họ là người nắm vững các luật
và phát triển.
tục, quy ước chung của làng, có khả năng tập hợp, chỉ đạo dân làng. Đồng
1.1.2. Một vài đặc điểm về văn hoá xã hội truyền thống của ngƣời Dao
thời, họ am hiểu pháp luật, chủ trương chính sách của nhà nước, có khả năng
Tuyển
truyền đạt chủ trương chính sách đó đến với người dân. Bên cạnh trưởng làng,
chủ thảo luận. Luật tục đã trở thành một công cụ quản lí làng. Nếu ai vi phạm
điểm văn hoá truyền thống của họ, có thể chia thành những khía cạnh sau:
luật tục, sẽ bị dân làng phạt. Người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng quy định
1.1.2.1. Quan hệ xã hội, bản làng và gia đình
mức phạt như sau: Ai chặt phát một cây con ở rừng chung của làng bị phạt 5
Người Dao Tuyển sống chủ yếu dựa vào nền kinh tế tiểu nông, tự cấp, tự
túc. Quan niệm “trọng nông khinh thƣơng” đã ăn sâu vào tâm lí của họ. Hình
đồng bạc trắng, chặt một cây to phạt 10 đồng bạc trắng, đốt rừng chung làm
nương rẫy bị phạt 20 đồng bạc trắng [50, tr.31].
thái tâm lí văn hoá của người Dao Tuyển là luôn coi trọng luân lí đạo đức, coi
Người Dao Tuyển có 12 họ chính. Mỗi họ lại có nhiều dòng họ khác
trọng lợi ích cộng đồng dân tộc, tôn trọng ý thức cộng đồng, tôn trọng quan
nhau. Dòng họ là những người có chung một ông tổ 6 đời. Mỗi dòng họ có
niệm giá trị an cư lạc nghiệp, không muốn tiến thủ ra bên ngoài.
một hệ thống 6 tên đệm riêng (mỗi tên đệm tương ứng với một thế hệ), có một
ông trưởng họ - con trai trưởng của ngành trưởng. Trưởng họ phải là người
am hiểu tôn giáo, tín ngưỡng, nếp sống của người Dao, có trách nhiệm chỉ
Sau Đạo giáo, Phật giáo, đời sống cuả người Dao Tuyển còn chịu ảnh
trưởng thay thế. Trong gia đình, người chồng giữ vị trí quan trọng, có trách
hưởng của Nho giáo. Biểu hiện rõ nhất là ở việc thờ cúng tổ tiên, sùng bái
nhiệm chỉ đạo sản xuất, đảm nhiệm toàn bộ những công việc nặng nhọc, thực
thầy cấp sắc.
hiện các nghi lễ gia đình, đồng thời có trách nhiệm giáo dục các con trai và
Tuy ảnh hưởng của Tam giáo nhưng tàn dư tôn giáo sơ khai vẫn tồn tại.
quan hệ với người ngoài. Người vợ phụ trách các công việc nội trợ và giáo
Đó là tàn dư ma thuật tình yêu với các loại bùa ngải, ma thuật làm hại với
dục các con gái. Riêng công việc đồng áng và làm vườn thì dường như không
quan niệm về ma Ngọ Hải. Đặc biệt là tín ngưỡng liên quan đến việc chữa
có sự phân chia rõ ràng. Trong công việc hàng ngày thì tính chất phụ hệ và
bệnh phát triển khá mạnh. Từ quan niệm hồn đến nguyên nhân ốm đau, bệnh
thứ bậc chi phối đậm nét trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia
tật là do bị hồn ma bắt, đến việc cúng bái chữa bệnh.
điều kiện xã hội của mình. Thực tế cho thấy: Hầu hết các vị thần linh của Đạo
trong đời sống văn hoá của con người.
giáo đều trở thành hệ thống các vị thần linh của người Dao Tuyển như hệ
Tôn giáo tín ngưỡng của người Dao Tuyển ở Lào Cai gồm nhiều hình
thống miếu vạn thần là hệ thống miếu thờ thần của Đạo giáo. Ngoài ra, các
thức, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số hiện tượng tiêu biểu:
hệ thống bùa chú, vũ khí trừ tà như đạo tiên (soi đạo), đồng linh (chuông
*Thờ cúng tổ tiên
đồng), thần trượng (gậy thần), đại lực xoa (đinh ba đại lực) đều là các khí cụ
của Đạo giáo.
Theo quan niệm của người Dao Tuyển: Tổ tiên là những người đã khuất
trong dòng họ tính từ 6 đời trở xuống. Khi ông bà cha mẹ mất, linh hồn của
Bên cạnh Đạo giáo, Phật giáo cũng có ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời
họ trở về thế giới bên kia nhưng những linh hồn ấy vẫn thường xuyên đi lại
sống của người Dao Tuyển. Những phép thuật của Phật như uống nước
chăm nom cho con cháu nơi dương thế. Tổ tiên thuộc loại ma lành, phù hộ
Bên cạnh việc thờ tổ tiên, người Dao Tuyển ở Lào Cai cũng như các
mọi quan hệ hôn nhân. Trong phạm vi sáu đời con cháu không được kết hôn,
ngành Dao khác còn thờ ông tổ cộng đồng dân tộc Dao là Bàn Vương. Bàn
dựa vào thứ tự hệ thống tên đệm của từng dòng họ, các thành viên của mỗi
Vương được thờ cúng chung với tổ tiên gia đình vào các dịp lễ cấp sắc, đám
dòng họ biết được quan hệ nội tộc và tránh kết hôn cùng dòng họ, không vi
chay, tết lễ, ngày rằm, mùng một hàng tháng. Ngoài việc thờ cúng hàng ngày
phạm quan niệm loạn luân. Nghi lễ đám cưới ở mỗi nhóm Dao, ở mỗi vùng
còn có những lễ cúng Bàn Vương riêng. Hình thức cúng Bàn Vương thường
có những nét riêng. Lễ cưới người Dao Tuyển ở Lào Cai được chia thành các
có các nghi lễ như lễ khất, lễ cúng Bàn Vương, lễ tiễn đưa.
nghi thức: lễ so tuổi, lễ dạm hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt.
*Lễ cấp sắc
*Nghi lễ tang ma
Người Dao Tuyển có nghi lễ quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của
sư, lễ kêu thầy, lễ công tào, lễ khởi sự, lễ cấp sắc, lễ điệu binh, lễ hợp vũ, lễ
Trên đây chỉ là một số hiện tượng tiêu biểu trong truyền thống tôn giáo
hương hoa, lễ giải tuế, lễ mời thánh, lễ an đòn, lễ tú đăng, lễ hi diên, lễ du
tín ngưỡng phong phú, phức tạp và đa dạng của tộc người Dao Tuyển ở Lào
thần, lễ búa nhị, lễ túc bị, lễ tảo chiền, lễ phá ngục, lễ hưởng thực, lễ thiết
Cai. Qua những hiện tượng này, chúng tôi thấy rằng: Trong cộng đồng người
điện, lễ đăng chương, lễ tháo lâu, lễ thăng đô, lễ tống thánh. Người Dao
Dao Tuyển vẫn còn tồn tại những tàn tích của chủ nghĩa đa thần nguyên thuỷ.
Tuyển tin rằng, người được cấp sắc thì làm ăn mới được may mắn, sinh hoạt
Đặc biệt là tam giáo (nổi trội nhất là Đạo giáo), đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời
mọi mặt mới được thuận lợi, dòng tộc mới được phát triển. Vì vậy, cho dù tốn
sống tinh thần, đã ăn sâu vào tư tưởng của họ. Những yếu tố tích cực cần phải
kém, họ vẫn tổ chức bằng được nghi lễ này.
được bảo tồn và phát huy để góp phần làm phong phú bản sắc văn hoá dân tộc
của tộc người này.
thể loại như: thần thoại, truyện cổ tích, tục ngữ, câu đố, dân ca …,với những
phong tục.
nội dung phong phú phản ánh muôn mặt của cuộc sống, thể hiện khả năng
* Câu đố
nhận thức của con người.
Câu đố của người Dao Tuyển được sử dụng rất nhiều trong các sinh hoạt
văn hoá. Căn cứ vào đối tượng, có thể phân chúng ra thành ba loại: Loại câu
*Thần thoại
Khác với các dân tộc anh em cho rằng, nhiều người sáng tạo ra thế giới,
người Dao Tuyển quan niệm chỉ một mình Bàn cổ sinh thế giới vũ trụ:
Bàn Cổ hình ngƣời, lông quỉ, mồm nhƣ cái kim
đố về tự nhiên (các hiện tượng thiên nhiên, cây cỏ, loài vât), loại câu đố về đồ
dùng (đồ dùng sinh hoạt, sách, vũ khí) và loại câu đố về con người.
* Tục ngữ
Đầu ngài là trời
Tục ngữ cuả người Dao Tuyển khá phong phú, với nội dung đúc kết kinh
Chân ngài là đất
nghiệm sản xuất, kinh nghiệm về cuộc sống, răn dạy cách ứng xử trong xã
Tuyển có hệ thống truyện kể về các sự tích trong lễ cưới như sự tích gói muối
cấp sắc…
trong lễ vật cưới, sự tích vôi ăn trầu trong lễ vật cưới … Mỗi sự tích là một
Người Dao Tuyển ở Lào Cai tuy có dân số không đông, lại cư trú rải rác ở
truyện cổ tích, vừa lí giải các nghi lễ đám cưới, vừa có giá trị giáo dục mọi
hầu khắp các huyện nhưng vẫn có một nền văn nghệ dân gian khá độc đáo, góp
người khuyến thiện trừ ác.
phần không nhỏ làm phong phú thêm nền văn hoá truyền thống giàu bản sắc
của dân tộc Dao nói riêng và cả nền văn nghệ dân gian Vịêt Nam nói chung.
17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.2. Khái quát về thơ ca dân gian của ngƣời Dao Tuyển
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính, các nhà nghiên cứu quan niệm
trong các sách dạy hát bằng chữ Nôm Dao. Ví dụ như: “Bốn Vôồng có” (Hát
về Ca dao và Dân ca như sau: Dân ca bao gồm phần lời (câu hoặc bài), phần
kể về sự tích Bàn Vương), “Trang thấy có”(Tương tư ca),… Muốn học các
giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và cả môi trường
bài hát này phải biết tiếng Nôm Dao hoặc nhờ người dạy hát.
khung cảnh ca hát. Còn “Ca dao đƣợc hình thành từ dân ca. Khi nói đến ca
Kho tàng thơ ca dân gian Dao khá đồ sộ, nhưng cho đến nay, mặc dù đã
dao ngƣời ta thƣờng nghĩ đến lời ca. Khi nói đến dân ca, ngƣời ta nghĩ đến
được các học giả trong và ngoài nước dày công sưu tầm, được Đảng và Nhà
cả làn điệu và những thể thức hát nhất định”[22, tr.79].
nước quan tâm đúng mức nhưng thơ ca dân gian người Dao Tuyển vẫn là một
Như vậy, có thể nhận định:“dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành
di sản văn hoá quý báu mang đậm bản sắc tộc người mà chúng ta vẫn chưa
phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng
nghiên cứu Thơ ca dân gian của người Dao Tuyển ở Lào Cai.
1.2.2.1. Thơ ca lao động
Thơ ca phản ánh quá trình lao động sản xuất của người Dao Tuyển tuy
không nhiều so với các loại hình khác nhưng cũng có một số bài rất đáng chú
19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ý như: Các bài ca nông lịch 12 tháng. Tuy chưa có những bài ca phản ánh sự
bài kinh dưới dạng thơ ca. Các quyển kinh được đọc và ngâm theo điệu nhạc
gắn bó giữa nhịp điệu lao động với cảm xúc của con người trong lao động
có đệm trống, chiêng hay thanh la. “Châu báu tác thành độ nhấn huyền;
nhưng thơ ca lao động của người Dao Tuyển cũng đã gắn công việc lao động
Thuyền lướt qua trong luân hồi đó; Khi tụng như cơn mưa xuân nhỏ; Muôn
với nội dung phản ánh kinh nghiệm sản xuất, kinh lao động của con người.
trước khi chết), Giới Ma (thời kì từ khi chết đến khi giỗ đầu), Giới Tiên (thời
(Hôn ân ca).
kì sau khi giỗ đầu).
* Thơ ca trong lễ mừng nhà mới
Ứng với mỗi giới lại có nhiều nghi lễ phong tục khác nhau. Trong các
Sau khi tổ chức xong các nghi lễ khánh thành nhà mới, người Dao
nghi lễ này đều có dấu ấn của thơ ca. Thơ ca dân gian của người Dao Tuyển ở
Tuyển còn tổ chức lễ hát mừng nhà mới. Mở đầu là những bài hát của nam nữ
Lào Cai được sử dụng dưới các hình thức như hát cầu cúng, hát kể lại sự tích
trung niên có nhà cửa khang trang, có đủ con trai con gái đứng lên hát đối đáp
các thần nhằm cảm ơn, ca ngợi các thần thánh cai quản hoặc nhằm mục đích
chúc mừng gia chủ. Sau đó, chủ nhà trực tiếp hát để cầu mong thần thánh phù
cầu khẩn cho các lực lượng siêu nhiên phù hộ cho con người.
hộ cho gia đình gặp nhiều may mắn, cảm ơn sự giúp đỡ của họ hàng và dân
* Thơ ca trong lễ cúng trẻ sơ sinh
Đạo giáo. Trong một số nghi lễ thầy cúng truyền dạy cho đứa trẻ cấp sắc các
21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Bà yêu cháu vàng nối tổ tông
* Thơ ca trong các nghi lễ khác
Ngoài các nghi lễ đã nêu trên, người Dao Tuyển còn tổ chức các nghi lễ
Bánh trƣng bàn thờ cháu thờ cúng
tôn giáo khác như lễ cúng thần nông, lễ giải hạn, lễ làm chay…Các nghi lễ ấy
đều được tổ chức trang trọng và các thầy cúng đều diễn xướng các bài ca tôn
giáo. Tuy đây là những bài ca mang tính chất tôn giáo nhưng vẫn lấp lánh ánh
Đừng quên ông bà và tổ tiên [ 51, tr.44].
* Hát đồng dao
Người Dao Tuyển gọi hát vui chơi của trẻ em là “Ăy đao jủng” có
sáng soi rọi vào lịch sử hoặc phản ánh cuộc sống của con người.
trong các bài ca giao duyên. Vì vậy, thơ ca sinh hoạt của người Dao Tuyển
đơn lẻ và hát có lề lối tổ chức. Hát tự phát đơn lẻ là hình thức hát của một nam,
chủ yếu là do người hát tự đặt lời truyền khẩu nên ít bị gò bó như hát theo
một nữ hoặc một tốp nam nữ tình cờ gặp nhau giữa chợ, trên nương, trên
nghi lễ.
đường đi chơi, tự cất tiếng hát với nhau. Nội dung những bài hát này do hoàn
* Hát ru
cảnh ứng tác và người hát tự quyết định. Hát có lề lối tổ chức là hình thức hát
Hát ru của người Dao Tuyển ở Lào Cai khá phong phú với những bài
được hai bên chuẩn bị trước, được thống nhất tổ chức theo những nghi thức
hát ru của bà ru cháu, mẹ ru con, chị ru em và tuỳ theo thời gian mà có những
khá chặt chẽ, điển hình như hát hội đầu xuân, hát qua làng, hát xin cốm.
bài hát ru buổi sáng, hát ru buổi trưa, hát ru buổi tối. Chức năng chủ yếu của
* Tín ca (Thƣ ca)
lời hát ru là tạo nên nhịp điệu êm ái để đưa đứa trẻ vào giấc ngủ, nội dung chủ
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tính chất kể lể, kêu gọi, thiên về tự sự và hướng ngoại, hướng tới cộng đồng.
vô cùng độc đáo đòi hỏi phải tiếp tục bảo tồn và phát huy những yếu tố tích
Thư ca được sáng tác bằng thể thơ 7 chữ, có thể chỉ do một người viết nhưng
cực phục vụ cho cuộc sống hiện tại và tương lai.
lại được lưu giữ, diễn xướng phổ biến trong cộng đồng người Dao Tuyển và
Thơ ca dân gian đối với người Dao Tuyển không chỉ thực hiện chức
trở thành bài hát, là tài sản chung của cộng đồng.
năng biểu hiện trao gửi tình yêu lứa đôi mà còn soi chiếu phong tục tập quán,
1.2.3. Vai trò của thơ ca dân gian trong đời sống tinh thần của ngƣời
các dân tộc Việt Nam.
dân gian nói chung và văn học dân gian của cộng đồng người Dao Tuyển nói
Qua thơ ca dân gian người Dao Tuyển chúng ta có thể thấy được phần
riêng, thơ ca dân gian giữ một vai trò hết sức quan trọng, phản ánh mọi mặt đời
nào bản sắc văn hoá, tôn giáo tín ngưỡng và vẻ đẹp tâm hồn phong phú, đa
sống tinh thần, phong tục tập quán, tín ngưỡng của con người. Có thể nói rằng,
dạng của con người. Thơ ca dân gian được diễn xướng trong các lễ hội dân
thơ ca dân gian người Dao tuyển như một nguồn suối ngọt ngào hoà vào dòng
gian, trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, trong lao động sản xuất và trong
chung văn hoá văn nghệ dân gian của đồng bào Dao, góp phần làm cho con
vui chơi, giải trí, trên đường đi nương, khi khánh thành những ngôi nhà mới,
người đẹp lên cả về nhân cách và tài năng, khơi dậy niềm vui trong cuộc sống
khi lại thu hút cả bản làng vào những cuộc hát giao duyên như hát hội đầu
sinh hoạt, trong lao động sản xuất làm cho bản làng ngày càng tươi đẹp hơn.
xuân, hát qua làng, hát xin cốm…Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng: sinh
CHƢƠNG 2. NỘI DUNG THƠ CA DÂN GIAN NGƢỜI DAO
2.1. Vài nét khái quát về cuộc sống của ngƣời Dao Tuyển qua thơ
ca dân gian
TUYỂN Ở LÀO CAI
Như chúng tôi đã trình bày ở chương 1, người Dao Tuyển có nguồn gốc
Thơ ca dân gian không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con
người. Lấy nguồn cảm hứng từ cuộc sống, thơ ca dân gian được sáng tạo nên.
Nó là cái hay cái thơm của dân tộc. Nhất là đối với người Dao Tuyển ở Lào
Cai, cư trú ở những nơi non xanh, núi biếc, suối sâu, rừng thẳm. Ở những
vùng như thế chỉ có ca hát mới làm cho vui bản, vui làng. Hát để cho cuộc
sống bớt vắng lặng, hát để giãi bày tâm sự, để trao duyên tình tứ, để thể hiện
ước mơ, để hăng say lao động làm cho bản làng ngày càng giàu đẹp hơn. Vì
thế nó phù hợp với mọi lứa tuổi, mọi đối tượng. Các già làng dùng lời ca nghi
lễ để bày tỏ niềm tôn kính đối với các vị thần linh, các em nhỏ mượn lời hát
đồng dao để vui chơi, giải trí, các chàng trai cô gái dùng lời hát giao duyên để
bày tỏ nỗi niềm với nhau. Đó là nhu cầu thiết yếu của con người. Đúng như
Gorki đã từng nhận định: “Con ngƣời không thể sống mà không vui sƣớng
đƣợc, họ phải biết cƣời đùa, họ sáng tạo nên những bài hát vui tƣơi, họ thích
nhảy múa” [69, tr.8]. Trong kho tàng thơ ca các dân tộc Việt Nam, đã có
không ít các lời thơ thể hiện nhu cầu thiết yếu đó. Đây là khúc hát giao duyên
của người Dao:
lạc, do bị bóc lột ức hiếp hoặc do cuộc sống làm ăn khó khăn mà họ đã di cư
đến Việt Nam. Thư ca thiên di người Dao Tuyển ở Lào Cai đã phản ánh rõ nét
quá trình thiên di của tộc người này đến Lào Cai sinh sống với thời gian, niên
đại, các địa danh đi qua, lưu trú… rất cụ thể. Người Dao từ Quảng Tây (
từ Trung Quốc. Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau như chiến tranh, loạn
nên họ phải cư trú ở những vùng núi cao. Thiên nhiên hùng vĩ nhưng cũng
không kém phần dữ dằn và khắc nhiệt bởi gió mưa, thác lũ, nắng hạn… thêm
vào đó là thú rừng tàn phá nương rẫy, làm cho cuộc sống của họ hết sức vất
vả và khó khăn. Trai gái người Dao Tuyển vẫn thường nhắc lại hình ảnh
những năm trời hạn kéo dài trong khúc hát giao duyên của mình:
28
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Trời hạn ba năm hoa khô rụng
Chỉ bởi nhà nghèo đau thƣơng lòng
Nông dân cày cấy chẳng đƣợc mùa
Vì em không lấy đời anh khổ
Chợt nghe sấm rền mƣa gió đến
Trăm nhớ ngàn thƣơng nƣớc mặt rơi [51, tr.267].
Chín năm ao tù thấy nƣớc trôi [51, tr.177].
Năm năm cày cấy, mùa bội thu
cơ cực của kiếp người mồ côi, không nơi nương tựa, với những ước mơ cháy
Vạn vật sinh sôi, ngƣời vui vẻ
bỏng có cuộc sống bình thường như bao người bình thường khác; Người Dao
Nam nữ gọi tình chẳng nghỉ ngơi [51, tr.177].
Tuyển có thơ ca than thân (Thằn thỉm chắn), chủ yếu là những tiếng hát than
Trong cuộc sống, mỗi khi gặp khó khăn khắc trở, gặp cảnh ngộ éo le,
dành cho những kẻ mồ côi, không nơi nương tựa; Tiếng hát than thân dân tộc
con người lại dùng lời ca tiếng hát của mình để bộc bạch tâm sự, để chia sẻ
Giáy thể hiện nỗi khổ cực của người con gái bị ép duyên, những người mồ côi
bớt nỗi niềm, để mọi người thấu hiểu và cảm thông với hoàn cảnh éo le. Khi
hoặc những người phải chịu cảnh khổ cực khác trong cuộc sống.
xã hội cộng đồng bị phá vỡ thì sự phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo
Trong phần này, chúng tôi xin được đề cập đến thơ ca than thân của tộc
diễn ra. Những kẻ giàu có coi khinh người nghèo không bằng con vật nuôi
Bàn tay không tiền là vì số
lòng chung vậy, cho nên nó có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
29
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
30
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Về nội dung tiếng hát mồ côi của tộc người Dao Tuyển ở Lào Cai khá
Từ đó, người mồ côi nhận thấy những nghịch cảnh của cuộc sống: mình
phong phú, tuy nhiên có thể khái quát thành những vẫn đề chủ yếu sau:
thì không cha, không mẹ, người đời thì có mẹ có cha; cùng trang lứa nhưng
2.2.1. Nghịch cảnh của những thân phận mồ côi
thân phận mồ côi hoàn toàn khác với con người bình thường khác:
Tiếng hát mồ côi thường nêu lên nghịch cảnh của người mồ côi qua đó tố
Ngƣời cùng tuổi sƣớng sao tôi khổ [51, tr. 262].
Trƣớc kia còn bé bố đã chết
mồ côi nêu lên nghịch cảnh của người mồ côi không chỉ có trong thơ ca dân
Mẹ lấy chồng khác con bơ vơ
gian người Dao Tuyển ở Lào Cai mà dường như nó là tiếng lòng chung của
Mẹ vui vẻ đâu biết con đau [51, tr.258].
những người mồ côi trong thơ ca than thân của các tộc người thiểu số. Trong
Sống không nơi nương tựa, thiếu thốn tình thương yêu của mẹ cha,
dân ca Giáy cũng thường xuyên xuất hiện những lời thơ nói lên nghịch cảnh
người mồ côi bị mọi người đối xử tồi tệ, bị anh em xa lánh, thậm chí bị coi
này. Cũng là con trẻ nhưng thân phận mồ côi hoàn toàn khác với những đứa
thường, khinh rẻ không bằng những con vật nuôi trong nhà:
trẻ kia:
Con chó đến làng đƣợc ăn cơm
Trẻ ngƣời dùng bát hoa
Ngƣời nghèo đến nhà ngồi ngoài cửa
Đời ta sinh ra
Vì em không lấy đời anh khổ
Số không may sao khổ vậy [18, tr.729].
Trăm nhớ ngàn thƣơng nƣớc mắt rơi [51, tr.267].
Những lời ca thực sự là những tiếng khóc than của những cuộc đời đầy
2.2.2. Tâm trạng đau thƣơng của kẻ mồ côi
Hầu hết tiếng hát mồ côi đều bộc lộ tâm sự đau thương, đôi khi là những
khổ đau, đoạ đầy:
lời than vãn đến nao lòng của người mồ côi. Đây chính là cảm hứng chủ đạo
Một năm ba trăm sau mƣơi ngày
trong tiếng hát mồ côi của tộc người Dao Tuyển ở Lào Cai. Tự thân những bài
Mọi ngày trầm luôn chẳng thấy sáng [51, tr.274].
hát đó đã có sức lay động lòng người, gợi lên trong lòng người đọc những
tình cảm nhân văn, xót thương cho những thân phận bất hạnh.
Cái khổ của người mồ côi được thơ ca dân gian miêu tả là nỗi khổ đương
nhiên, vốn có của những con người vô thừa nhận, những con người không nơi
bấu víu, lang thang nay đây mai đó, ở đợ hết nhà này đến nhà khác để kiếm
miếng ăn, làm những công việc nặng nhọc vất vả, đầu tắt mặt tối nhưng cuộc
Già rồi trong ngƣời trăm thứ bệnh
nhận xót xa về cảnh cô đơn. Đó chính là sự mất mát, thiệt thòi của thân phận
Tối ngủ đến trƣa không dậy đƣợc
con người trước cuộc đời, không chỉ là mồ côi bố mẹ mà là cảm nhận về sự
Lúc khát nƣớc không có con lấy
mồ côi trước cuộc đời:
Chống gậy bò lo hết cả đời
Cuộc đời cô quạnh số mệnh tôi
Giờ lang thang nhƣ con ma đói
Tôi không có nụ cƣời ánh mắt
Chỗ nào cũng bò đi tìm ăn [51, tr.260].
Còn đây là lời khóc than của một chàng trai mồ côi, vì nghèo mà lỡ dở
trong tình yêu:
Bởi nƣớc mắt nó đã cạn dòng [51, tr.263].
Không chỉ có người Dao Tuyển mà tiếng hát mồ côi của dân tộc khác
cũng bộc lộ sự cảm nhận về sự mồ côi trước cuộc đời như bài hát chàng Dăm
Chỉ bởi nhà nghèo đau thƣơng lòng
Ta còn biết bám vào đâu
Ngƣời già sống đời khổ thế nào?
Ta còn biết bấu níu vào ai.
Chắc là đời sau tôi mới sƣớng [51, tr.262].
Hay tiếng khóc than trong dân ca H.Mông:
Tuy vậy, đâu đó vẫn lóe lên những ý nghĩ đúng đắn, vốn có trong ý thức
Mẹ cha chết mồ côi không gia đình
của con người lao động, khẳng định tinh thần tự tin, tự cường của con người,
Nhƣ ve sầu rên rỉ trời xanh [18, tr.728].
có thể vượt qua được số mệnh khắc nghiệt như lời của người Dao:
Nếu như nhận vật mồ côi trong các truyện cổ tích thường được những
lực lượng thần kì trợ giúp chiến đấu và giành được chiến thắng trở thành
những anh hùng trong ước mơ của nhân dân thì trong tiếng hát mồ côi, tộc
người Dao Tuyển đã bổ sung thêm một phần quan trọng mà cổ tích không đề
Cây cải chịu sƣơng còn nảy lộc
Con ngƣời hẳn vƣợt vận khổ đau [18, tr.729].
Họ tin vào sức lực của mình có thể vượt qua được gian khổ để xây dựng
cuộc sống ấm no hạnh phúc như những người bình thường khác:
tương lai tươi sáng, được sung sướng hạnh phúc:
Ngƣời đã ăn mày khổ suốt đời
Ƣớc chi ngày sau đây, gái mồ côi yêu trai mồ côi
Sớm sớm đêm đêm khổ thân tôi [51, tr.268].
Trai mồ côi yêu gái mồ côi
Người mồ côi cố tìm nguyên nhân của cuộc sống khổ cực, đôi khi quy
cho số phận cay đắng:
Gái mồ côi lấy đƣợc trai mồ côi
Trai mồ côi lấy đƣợc gái mồ côi
Số sinh ngày khổ em không biết
Trai mồ côi sẽ cày xong ba đƣờng
Biết nhờ cùng ai đƣợc cùng em [51, tr.55].
Gái mồ côi sẽ cai quản gia đình đông vui tấp nập [59.].
Có khi nảy sinh tâm trạng tuyệt vọng ở cõi trần:
35
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
36
2.3. Thơ ca dân gian ngƣời Dao Tuyển thể hiện một quan niệm đẹp về
nói kiệm lời, vậy mà lúc gặp gỡ nhau họ lại say sưa hết mình với một tâm hồn
tình yêu và hôn nhân của con ngƣời
rộng mở, chân thành:
Cuộc sống của người Dao Tuyển xưa rất bấp bênh, thiếu đói triền miên,
Nếu có sấm kêu thì vui vẻ
xã hội đầy rẫy những bất công, ngang trái khiến cho muôn vàn thân phận phải
chịu cảnh cơ cực, éo le, trắc trở. Thế nhưng, trong cuộc sống cùng cực, tăm
tối đó, con người vẫn luôn toả sáng những nét đẹp về tư tưởng, tình cảm, tâm
Nhộn nhịp phóng liêng hát đêm nay [51, tr.164].
Khi đã bước vào cuộc vui, họ hăng say hát hết mình mà không nghĩ đến
chuyện thắng thua, hát hay hay hát dở:
hồn đáng được trân trọng, ngợi ca. Vẻ đẹp ấy, trước hết được thể hiện trong
Một hai ba bài chƣa nhƣ ý
quan niệm về tình yêu và hôn nhân của con người.
Lại hát thêm nhiều đừng thắc mắc [51, tr.166].
2.3.1. Những cung bậc tình cảm trong tình yêu của ngƣời Dao Tuyển
hát là nơi để trai gái bày tỏ tình yêu lứa đôi. Câu hát dưới đây bộc lộ rõ khát
Bên nữ hồ hởi hát đáp:
vọng ấy:
Vƣờn xuân! Ông chủ đƣa hoa hƣơng thơm nức
Nếu gọi đƣợc tình thoả ý nguyện
Cửa làng rộng mở. Hƣơng bay cao
Chẳng quên nghĩa sâu nơi Đông Viên [51, tr.175].
37
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Ngƣời muốn gặp ngƣời bởi tình riêng
Nhìn chung những câu hát giao duyên buổi đầu gặp thường mang âm
Trai gái gặp nhau để thoả lòng mong nhớ, họ gặp nhau với niềm vui phơi
2.3.1.2. Nỗi nhớ khi xa cách
phới như mặt trời phơi cỏ mới và họ quyết không rời xa nhau. Những hình
Trong thơ ca giao duyên của tộc người Dao Tuyển các sắc thái tình cảm
ảnh đêm thâu nghĩ quẩn quanh, mặt trời phơi cỏ mới đã diễn tả thật sâu sắc,
diễn ra khá tinh tế đa dạng, song có lẽ, sắc thái tình cảm đọng lại sâu lắng
thấm thía tâm trạng của con người.
nhất trong tâm khảm những người đương cuộc là những lời hát thắm thiết
Niềm vui trong buổi đầu gặp gỡ, khi tình yêu mới chớm nở không chỉ
có trong thơ ca dân gian người Dao Tuyển mà nó còn khá quen thuộc trong
thơ ca dân gian của các tộc người anh em khác. Đây là tâm trạng xao xuyến
và thiết tha trìu mến của chàng trai người Vân Kiều trên đường đến gặp
người yêu:
trong chặng dặn dò chia tay. Đây là tâm trạng đau như dứt lòng của chàng trai
khi sắp phải chia tay cô gái trong đêm hát qua làng:
Lời qua ý lại câu câu đẹp
Câu đến câu đi nhƣ dứt lòng [51, tr.196].
Và đây là tâm trạng của chàng trai trong hát hội đầu xuân:
Bóng em lấp loáng nhƣ sao mới mọc
Bạn tình ai, xin mƣợn trò chuyện [18, tr.720].
Chẳng biết khi nào lại gặp gỡ
39
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
40
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Gặp gỡ một lần nhớ vạn lần [51, tr.198].
Khi xa cách, họ luôn hướng về nhau, luôn lo lắng cho nhau, có những lời
tâm trạng oán trách, tủi cực. Đây là nỗi lòng cay đắng của chàng trai khi tình
yêu lỡ dở:
thơ nói lên nỗi thương nhớ của những con người vốn ít nói, kiệm lời nhưng
Em ơi em!
tình cảm thì không ai dám nói là không sâu sắc mãnh liệt:
Con tim ta có ai nhìn thấy
Chẳng thấy đƣợc em não não lòng
Nằm mơ đƣợc thấy ở bên anh [51, tr.221].
Sự xa cách với nỗi niềm nhớ nhung còn được thể hiện qua nhiều câu
hát nữa. Đây là sự bộc bạch nỗi lòng của chàng trai:
sinh trong những con người bất hạnh ấy. Họ thường suy nghĩ quẩn quanh theo
cách suy nghĩ thông thường, đổ cho số mệnh của mình:
Uyên ƣơng kết nghĩa thành tình riêng
Mặt trời chẳng mọc đời lạnh tanh
Mệnh chẳng xe duyên cho hợp lại
Chƣa từng gặp gỡ chƣa biết nhớ
Chỉ lợi nhân duyên kẻ khác đƣợc [51, tr.208].
Gặp rồi nhớ mặt lòng chẳng quên [51, tr.180].
Mặt trời chẳng mọc ấy chính là những ngày đôi lứa phải xa cách nhưng
lòng thì bồi hồi nhớ mong bởi Gặp rồi nhớ mặt lòng chẳng quên.
Còn đây là lời oán trách của cô gái khi bị phụ tình:
Nếu không có lòng đừng có hẹn
Bỏ thân núi Bắc chết hận sầu [51, tr.200].
2.3.1.3. Nỗi buồn đau, cay đắng khi tình yêu tan vỡ
Tình yêu nơi trần thế có lắm nỗi éo le, cay đắng. Đâu phải cứ yêu nhau là
Trách kẻ khác nghe giết hại sầu
lấy được nhau và được sống bên nhau đến trọn đời. Đó là vấn đề muôn thủa
thể tâm đầu ý hợp vì một lí do nào đó, cho nên những lời hát này của họ
và bị đuổi đi nơi khác. Trong câu hát giao duyên của người Dao, truyền thống
thường bộc lộ nỗi buồn:
ấy thể hiện rất rõ:
Mẫu đơn hoa nở không kết trái
Cầu hôn đừng cầu cùng dòng họ
Vân đầu ra quả chẳng nở hoa
Cùng họ lấy nhau ngƣời trách cƣời
Hoà hoả thêm tâm qua một đời
Cùng họ lấy nhau nên chuyện xấu
Gạch ngang lƣng nguyệt chẳng thành đôi [51, tr.211].
Con cháu đời sau nát cửa nhà [6, tr.205].
Như vậy, thơ ca giao duyên của đồng bào Dao Tuyển ở Lào Cai biểu
Rõ ràng quan niệm hôn nhân ấy đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của
hiện khá đầy đủ những cung bậc tình cảm của con người khi yêu: có niềm
thái tâm hồn nhân vật.
chung gắn bó được đặt lên trên hết. Trong các cuộc hát giao duyên các cô gái
2.3.2. Tình yêu gắn liền với hôn nhân và sự thuỷ chung
vẫn thường hát:
Sinh sống ở những vùng rừng núi xa xôi cách trở, người Dao Tuyển có
Cùng anh nhƣ đôi chim cùng cây
truyền thống khép kín tộc người một cách khá vững chắc. Tính chất cố kết
Vạn niên đời đời ta chung sống [51, tr.223].
cộng đồng của tộc người Dao Tuyển rất chặt chẽ. Điều này được thể hiện qua
việc người Dao Tuyển xưa ít xây dựng gia đình với người thuộc các dân tộc
Hay:
khác. Họ có những quy định chặt chẽ trong hôn nhân. Trong dòng họ, các
thành viên tuyệt đối không được kết hôn với nhau. Khi nam giới đến tuổi
trưởng thành muốn kết hôn với một cô gái, ông trưởng họ phải tra gia phả
Vợ chồng hứa hẹn lòng thuỷ chung [51, tr.207].
Khát vọng thuỷ chung đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi con người
đương cuộc, có khi trở thành lời thề nguyền thuỷ chung:
dòng họ. Cô gái đó không thuộc con cháu trong dòng họ, chàng trai mới được
Vì khi đã nên vợ nên chồng thì phải thương yêu, phải đồng cam cộng
Đời này sinh không đƣợc ở đất này
Đời sau ắt phải ở phủ đƣờng này [51, tr.182].
Khát vọng tình yêu thuỷ chung, gắn bó được thể hiện vừa tế nhị vừa sâu
sắc mà không kém phần bay bổng trong những câu hát giao duyên. Đây là
cách nói của chàng trai trong hát hội đầu xuân ở trong làng:
khổ trước mọi hoàn cảnh của cuộc sống:
Đắng cay cả hai cùng cam chịu
Phúc thì cùng hƣởng, hoạ cùng cam [51, tr.194].
Quan niệm tình yêu gắn liền với hôn nhân và sự thuỷ chung đã trở
thành ước nguyện không chỉ của thanh niên nam nữ mà của cả cộng đồng
Ƣớc gì hoá thân thành lá dong
người Dao Tuyển. Điều này có ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Đạo giáo.
Cho nàng gói muối ngọt bốn mùa [51, tr.182].
Mặt khác, tính chất phụ hệ là một đặc điểm nổi trội trong truyền thống gia
Còn đây là cách nói của một chàng trai khác:
đình người Dao Tuyển xưa: Người vợ bao giờ cũng thuộc hẳn về người
Ƣớc gì đƣợc hoá dây thắt lƣng
chồng, việc vợ li hôn chồng dường như không bao giờ đặt ra trong xã hội.
phúc ấm no, bản làng giàu đẹp
sống. Ước thành lá dong, dây lƣng, hộp đựng thuốc. Hay đó chính là ước
Tình yêu gắn liền với lao động, xây dựng gia đình thực chất là quan niệm
nguyện có được một tình yêu gắn bó, thuỷ chung. Khát vọng tình yêu gắn bó
thẩm mĩ của đồng bào Dao Tuyển về bản chất cái Đẹp gắn với con người và
nên duyên vợ chồng được thể hiện chân thành, thẳng thắn, hồn nhiên qua
bản chất các quan hệ của con người trong cộng đồng người Dao Tuyển. Nói
nhiều câu hát nữa:
cách khác, con người đẹp ngoài những phẩm chất như có tình yêu thương
Tra hạt hai ta thành một đôi
chung thuỷ còn phải biết lao động để xây dựng cuộc sống cho bản thân và gia
Xuống nƣớc lên non tay dắt tay
đình, nói rộng ra là để bảo tồn cộng đồng.
Khổ đau cùng nhau chẳng oán trời
45
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên