Trang phục của người dao tuyển ở huyện bảo thắng, tỉnh lào cai - Pdf 30



TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ TRƢƠNG THỊ THU TRANG TRANG PHỤC CỦA NGƢỜI DAO TUYỂN
Ở HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành : Lịch sử văn hóa
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: Th.s Nguyễn Thị Tuyết Nhung LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin được cảm ơn các thầy cô khoa Lịch sử trường Đại
Học Sư Phạm Hà Nội 2 những người đã trao truyền cho tôi kiến thức và
niềm say mê từ trong giảng đường Đại Học để tôi nghiên cứu trong lĩnh
vực này.
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô
khoa Lịch sử trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ tôi tận tình
trong suốt khóa học. Đặc biệt tôi cảm ơn sâu sắc sự chỉ bảo của Thạc Sĩ
Nguyễn Thị Tuyết Nhung – cô hướng dẫn trực tiếp tôi thực hiện khóa luận

1.2.1. Tên gọi, dân số và sự phân bố……………………………………… 11
1.2.2. Lịch sử cư trú…………………………………………………………13
1.2.3. Hoạt động kinh tế…………………………………………………… 15
1.2.4. Tổ chức xã hội……………………………………………………… 17
1.2.5.Các trưng văn hóa…………………………………………………… 20
Tiểu kết chƣơng 1……………………………………………………… 32
CHƢƠNG 2: TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƢỜI DAO
TUYỂN VÀ BIẾN ĐỔI CỦA TRANG PHỤC………………………………33
2.1. Quy trình làm ra trang phục…………………………………………… 33
2.1.1. Nguyên liệu tạo ra vải………………………………………………… 33
2.1.2. Quy trình tạo ra vải…………………………………………………… 35 2.1.3. Chế biến cao chàm và nhuộm vải……………………………………………37
2.1.4. Kỹ thuật thêu, dệt……………………………………………………… 38
2.2. Các kiểu trang phục truyền thống của ngƣời Dao Tuyển…………… 40
2.2.1.Các kiểu trang phục thƣờng ngày…………………………………… 40
2.2.1.1. Y phục và trang sức nữ…………………………………………………40
2.2.1.2. Y phục và trang sức nam……………………………………………….44
2.2.1.3. Y phục trẻ em………………………………………………………… 44
2.3. Lễ phục…………………………………………………………………….45
2.3.1. Trang phục cô dâu………………………………………………………45
2.3.2. Trang phụ thầy cúng……………………………………………………49
2.4. Trang phục tang lễ……………………………………………………… 55
2.5. Giá trị trang phục của ngƣời Dao Tuyển……………………………… 52
2.6. Sự biến đổi trang phục của ngƣời Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng… 55
2.6.1. Biểu hiện của sự biến đổi………………………………………55
2.6.2. Những nhân tố dẫn đến sự biến đổi……………………………56
2.7. Vấn đề bảo tồn và thách thức đặt ra cho trang phục truyền thống của
ngƣời Dao Tuyển………………………………………………………………58

khác nhau lại cư trú trên địa bàn nhiều tỉnh đã tạo nên những sắc thái văn hóa
phong phú và đa dạng. Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở phía Nam Trung Quốc
di cư sang nước ta theo nhiều đợt bằng đường bộ, đường sông và đường biển.
Trong số bẩy nhóm người Dao địa phương thì ở Lào Cai có 3 nhóm là: Dao Tuyển,
Dao Đỏ và Dao Nga Hoàng. Bảo Thắng là một trong hai huyện có người Dao
Tuyển sống tập trung đông nhất của tỉnh Lào Cai.
Bảo Thắng là vùng bảo tồn được nhiều loại hình văn hóa dân gian và nếp
sống của cộng đồng có tính chất tộc người. Một trong những giá trị văn hoá mang
đặc trưng tộc người của cộng đồng Dao được nghiên cứu quan tâm đó là trang
2

phục. Tìm hiểu về trang phục nhóm Dao Tuyển Bảo Thắng giúp ta hiểu hơn về
cuộc sống, quan niệm, suy nghĩ của người Dao Tuyển nơi đây. Đó là cuộc sống
gần cuộc sống gần gũi của đồng bào Dao với thiên nhiên (điều này được thể hiện
trên các hoa văn của trang phục người Dao Tuyển, nó thể hiện sự quan sát tinh tế
của người Dao trong cuộc sống), là một trong những con đường giúp chúng ta
dựng lại cuộc sống cổ truyền của người Dao. Vì vậy, qua nghiên cứu trang phục
của người Dao Tuyển Bảo Thắng, chúng ta sẽ có cơ sở để hiểu biết sâu sắc và đầy
đủ hơn sắc thái văn hoá mang tính địa phương của cộng đồng người Dao Việt
Nam nơi đây.
Việc nghiên cứu trang phục của Dao Tuyển còn giúp cho chúng ta có thể
phục dựng bức tranh về trang phục của người Dao thường sử dụng trong đời sống
xã hội, tạo cơ sở cho các bảo tàng có thêm nguồn tư liệu tham khảo khi lập bảo
tàng trưng bày về trang phục.
Với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, những sản phẩm
của nền kinh tế thị trường như quần áo may sẵn, vải vóc các loại…đang hàng ngày
hàng giờ len lỏi vào từng hang cùng ngõ hẻm của núi rừng và đang có nguy cơ
cuốn đi những giá trị văn hoá truyền thống của nhiều tộc người, trong đó có người
Dao Tuyển. Chính vì thế, việc nghiên cứu về trang phục cổ truyền của người Dao
Tuyển ở huyện Bảo Thắng còn nhằm góp phần sưu tầm, gìn giữ và giới thiệu trang

Nguyễn Đăng Duy (2004), đã đưa ra nhưng dấu hiệu nhận biết người Dao qua
trang phục. Nhưng chưa đề cập đến trang phục của Dao Áo Dài.
4

Trong tác phẩm, “Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam” Nguyễn
Khắc Tụng, Nguyễn Anh Cường (2011) đã trình bày một cách hệ thống, đầy đủ
thành tố tạo nên trang phục của tất cả các nhóm người Dao, các tác giả đã đề cập
đến trang phục của nhóm Dao Áo Dài ( Dao Tuyển ).
Tác phẩm “Lễ cưới người Dao Tuyển” của TS. Trần Hữu Sơn ngoài trình
bày chi tiết về quan niệm, nguyên tắc hôn nhân, tiến trình của lễ cưới người Dao
Tuyển. Còn trình bày về trang phục cô dâu và chú rể. Giúp ta tìm hiểu sâu hơn về
trang phục truyền thống của người Dao Tuyển.
Trong bài nghiên cứu “Trang trí trang phục thầy cúng của người Dao
Tuyển” của Trần Hữu Sơn (2004) đăng trên Tạp chí văn hóa nghệ thuật, số 7, tác
giả đã trình bày một cách khái quát, chi tiết về trang phục của thầy cúng của người
Dao Tuyển. Bài nghiên cứu góp phần hoàn thiện bức tranh về trang phục của người
Dao Tuyển, bổ sung một mảng còn thiếu trong việc tìm hiểu trang phục của người
Dao Tuyển. Giúp người nghiên cứu tìm hiểu được toàn bộ các loại trang phục của
người Dao Tuyển.
Trong bài nghiên cứu “Trang phục của cổ truyền của nhóm Dao Áo Dài”
của Nguyễn Anh Cường (1999) đăng trên Tạp chí dân tộc học số 3, bài nghiên cứu
đã trình bày một cách khái quát, đầy đủ các thành tố của bộ trang phục. Là một
nguồn tài liệu quan trọng trong nghiên cứu, tìm hiểu về trang phục nhóm Dao Áo
Dài.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã ít nhiều đề cập đến trang phục
truyền thống của người Dao Tuyển. Song phần lớn các tác phẩm nghiên cứu ở
phạm vi rộng với những đặc trưng văn hóa của người Dao và Dao Tuyển nói
chung, chưa làm rõ được những sắc thái phong phú, đa dạng, đặc trưng của văn
hóa Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng để từ đó rút ra những giá trị tiêu biểu của tộc
5

Tuyển cung cấp. Ngoài ra, tôi còn trực tiếp quan sát quá trình dệt vải, may, thêu.
6. Đóng góp của đề tài
Khóa luận là công trình đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu một cách có hệ
thống và đầy đủ nhất về trang phục của Dao Tuyển ở Bảo Thắng ( Lào Cai ) và
những giá trị văn hoá thông qua đặc trưng nghệ thuật trong trang phục. Khóa luận
còn đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá trong trang phục
truyền thống của người Dao. Khóa luận có thể sử dụng cho việc học tập và nghiên
cứu về trang phục của người Dao Tuyển huyện Bảo Thắng, và những ai yêu thích
lịch sử văn hóa của dân tộc.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, tài liệu tham khảo và kết luận, khóa luận được
chia thành 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Chương 2: Trang phục truyền thống của người Dao Tuyển và sự biến đổi của trang
phục.

7

Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI DAO TUYỂN Ở HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI
1.1. Khái quát về huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở huyện Bảo Thắng
Bảo Thắng là huyện biên giới cửa ngõ của tỉnh Lào Cai, phía Bắc giáp
huyện Hà Khẩu (Vân Nam - Trung Quốc) với đường biên giới dài 6,5 km, phía
Đông và Đông Bắc giáp giới với huyện Bắc Hà và Mường Khương, phía Nam giáp
huyện Bảo Yên và Văn Bàn, phía Tây giáp huyện Sa Pa và Tây Bắc giáp thành phố

Hồng có 7 xã và 2 thị trấn bao gồm: thị trấn Phố Lu, xã Phố Lu, Trì Quang, Xuân
Quang, Phong Niên, thị trấn Nông trường Phong Hải, Bản Cầm, Bản Phiệt, Thái
Niên.
Huyện Bảo Thắng là một vùng thung lũng nằm ven hai bên sông Hồng với
độ cao phổ biến từ 80m đến 400m. Địa hình bao gồm dải thung lũng hẹp chạy dài
ven sông Hồng, phía Tây là dải núi thấp của dãy Phan Xi Păng - Pú Luông, phía
Đông là dải núi thấp của dãy thượng nguồn sông Chảy án ngữ. Đoạn sông Hồng
chảy qua huyện dài 38 km, chia huyện thành hai khu vực hữu ngạn và tả ngạn. Khu
vực hữu ngạn có nhiều suối lớn đều bắt nguồn từ dãy núi Phan Xi Păng tạo thuận
lợi cho giao thông đường thủy như ngòi Bo, ngòi Nhù, suối Chát… Tổng nhiệt độ
của Bảo Thắng trong một năm là 8.000
0
C, nhiệt độ trung bình/năm từ 22
0
C đến
24
0
C

Lượng mưa toàn huyện thuộc loại trung bình khoảng 1.600 mm - 1.800 mm.
Những điều kiện tự nhiên trên đã tác động đến sự hình thành trang phục của
9

các dân tộc trên mảnh đất Bảo Thắng, để phù hợp với khí hậu, công việc hằng
ngày. Trang phục người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng cũng không ngoại lệ. Bộ
trang phục của người Dao Tuyển đã đáp ứng được những điều kiện khắc nghiệt của
vùng núi phía bắc. Người Dao Tuyển đã chọn bông là nguyên liệu tạo ra vải, vì
bông là cây dễ trồng, phù hợp với khí hậu nơi đây. Không chỉ vậy quần áo làm từ
bông còn giữ ấm về mùa đông, mát mẻ về mùa hè đặc biệt khi đi làm giúp thấm
mồ hôi. Với nền kinh tế là làm rương rẫy thường xuyên tiếp xúc với đất, cỏ,… nên

gian độc đáo. Đặc biệt các nhạc cụ như trống, tăng sành, trống đất với những hình
thức độc tấu, hoà tấu, làm nhạc đệm cho các sinh hoạt văn hoá đã trở thành sản
phẩm văn hoá tinh thần nhiều giá trị của Lào Cai. Ở những vùng đồng bào Tày có
sinh hoạt hát then, hát giao duyên đêm xuân, hội xuống đồng. Văn học dân gian
phát triển khá mạnh với các loại hình truyện cổ, dân ca, tục ngữ. Nhiều sáng tác
dân gian được tuyển chọn trong các tập "Dân ca Giáy”, “Dân ca Mông”, “Truyện
cổ Dao”, “Truyện cổ Phù Lá” Các dân tộc ở Bảo Thắng chung sống xen kẽ ở dải
biên cương, nên đã tạo thành nếp sống cộng đồng, đoàn kết, các gia đình đều
quanh tụ trong làng bản.
Thời phong kiến, cư dân ở Bảo Thắng gồm nhiều dân tộc cư trú theo từng
bản, từng mường. Có các mường lớn như Mường Bo, Mường Cái… Đứng đầu mỗi
mường là chủ mường. Các chủ mường này đều thuần phục quan cai trị của các
triều đình phong kiến Việt Nam. Thời Minh Mạng cả Bảo Thắng mới có khoảng
2000 người, chủ yếu là đồng bào các dân tộc: Tày, Thái, Dao, Phù Lá (cả nhóm
11

Xá Phó), Giáy, Nùng… Ở ngay cửa quan có các binh lính người Kinh và một số
thương nhân Hoa Kiều, năm 1928 Bảo Thắng có 5000 khẩu. Đến năm 1945, Bảo
Thắng có khoảng 8000 dân có 1.200 người Kinh còn chủ yếu là người các dân tộc
thiểu số. Năm 1960 có trên 13.000 người. Năm 1989 Bảo Thắng có 86.633 người.
Năm 1999 có 99.819 người. Đến năm 2008 Bảo Thắng đã có 102.519 người…
Gồm 17 dân tộc anh em, trong đó người Kinh chiếm 72,99%, người Tày chiếm
16%, người Dao chiếm 9,6%, người H’mông chiếm 4,4%, người Giáy chiếm
3,2% [3; tr.20]. Các dân tộc cư trú ở Bảo Thắng dù ít hay nhiều người, đến Bảo
Thắng vào những thời gian khác nhau nhưng đều đoàn kết, bảo vệ và xây dựng
vùng biên cương của tổ quốc.
Với quá trình công nghiệp hóa đất nước, cơ cấu dân cư trong những thập kỷ
qua có nhiều biến đổi theo xu hướng đô thị hóa. Thời kỳ phong kiến, Bảo Thắng
tuy là một cửa quan, là đầu mối giao thông, nhưng do nền kinh tế tự cung tự cấp
quá nặng nề, nên chưa có một điểm dân cư nào mang tính chất đô thị. Trong thời

* Phương ngữ thứ nhất gồm hai ngành lớn là Đại Bản và Tiểu Bản.
+ Ngành Đại Bản có các nhóm Dao Đỏ (Hùng Thầu Đào, Dao Coóc Ngáng, Dao
Quý Lâm), Dao Quần Chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng), Dao
Thanh Phán (Dao Coóc Mùn, Dao Đội Ván, Dao Lô Giang).
+ Ngành Tiểu Bản có Dao Tiền (Dao Đeo Tiền)
* Phương ngữ thứ hai gồm có hai ngành: Dao Quần Trắng (Dao Họ, Mán
Đen) và Dao Làn Tiẻn. Trong đó Dao Làn Tiẻn có hai nhóm nhỏ là Dao Thanh Y
và Dao Tuyển (Dao Áo Dài, Dao Chàm, Dao Bằng Đầu, Dao Slán Chỉ) [23; tr.30 -
13

37]. Như vậy, Dao Tuyển là một nhóm nhỏ của ngành Dao Làn Tiẻn thuộc về
phương ngữ thứ hai. Dao Tuyển là tên gọi địa phương ở vùng Lào Cai.
Người Dao Tuyển ở Việt Nam cư trú tập trung tại Lào Cai, Hà Giang và rải
rác ở một số tỉnh khác. Bảo Thắng và Bảo Yên là hai huyện tập trung người Dao
Tuyển đông nhất của tỉnh Lào Cai. Tại huyện Bảo Thắng, người Dao Tuyển cư trú
tại các xã Xuân Quang, Trì Quang, Phong Niên, Phong Hải, Bản Cầm, Bản Phiệt
với dân số 6378 người chiếm 6,2% dân số toàn huyện (2009).
(Nguồn UBND huyện Bảo Thắng).
1.2.2. Lịch sử cư trú
Người Dao Tuyển di cư đến Lào Cai nói riêng và Việt Nam nói chung bằng
đường bộ là chính. Trong cuốn “Tín ca thiên di” của người Dao Tuyển ghi rất rõ
từng chặng đường thiên di “Người Dao từ Lưỡng Quảng đến Lào Cai. Năm Giáp
Thân triều Minh kết thúc (1644), Người Dao từ Quảng Tây di cư đi Vân Nam. Họ
định cư ở Giám Yên, Mông Tự đến năm Nhâm Thân, Quý Dậu (1812 - 1813) lại đi
tiếp vào rừng sâu phương Nam. Mãi đến năm Tân Dậu triều Thanh (1871), người
Dao Làn Tiẻn mới tới Hà Khẩu, Quỳnh Sơn và sau đó vào Lào Cai” [17; tr.58].
Như vậy người Dao Tuyển thiên di đến Lào Cai nói chung và huyện Bảo
Thắng nói riêng qua hai tuyến:
Tuyến thứ nhất: Vào cuối triều đại nhà Minh (thế kỷ XV II), người Dao Làn
Tiẻn từ Quảng Đông vào Móng Cái (Quảng Ninh) qua Lục Ngạn sông Đuống đến

“Nhân vì người đông đất lại hẹp
Cùng nhau phân tán khắp núi sông
Phần lên Quảng Tây, ở Hồ Quảng
Phần đến Quý Châu để an cư
Một phần về phía đạo Vân Nam
Lại một phần đến Giao Chỉ ”
[17; tr.56]
1.2.3. Hoạt động kinh tế
Người Dao Tuyển là cư dân nông nghiệp canh tác nương rẫy và làm ruộng
lúa nước. Trước đây nương rẫy là hình thức canh tác chủ yếu và phổ biến nhưng về
sau người Dao Tuyển đã biết khai phá làm ruộng lúa nước hoặc ruộng bậc thang.
Trong canh tác nương rẫy đồng bào Dao rất chú trọng khâu chọn đất. Để có nương
tốt phải chọn đất có nhiều mùn và ở phía mặt trời mọc vì sẽ đón được nhiều ánh
nắng mặt trời. Đồng bào ở đây chỉ làm nương trong 3 vụ sau đó bỏ hoang từ 4 - 6
năm rồi mới quay lại gieo trồng tiếp. So với việc canh tác nương rẫy thì việc khai
phá ruộng lúa công phu hơn cần có sự tham gia của cả dòng họ, cả làng. Làm
ruộng lúa nước năng suất cao và đời sống ổn định hơn nên đồng bào Dao Tuyển
ngày nay canh tác ruộng lúa nước phổ biến hơn trước. Người Dao Tuyển có tục
ngữ:
“Làm nương không bằng làm ruộng
16

Làm ruộng trời hạn không lo
Làm nương trời hạn không được ăn”
[16; tr.11 - 12].
Ở Bảo Thắng, người Dao Tuyển còn phát triển trồng quế. Đồng bào đã biết
kết hợp trồng quế với làm ruộng lúa nước, trồng quế xen canh với lúa nương và
sắn đem lại hiệu quả kinh tế cao. Với việc phát triển trồng quế, trồng chè, trồng
bông, cây ăn quả, người Dao Tuyển dần phá vỡ thế độc canh cấy lúa nương,
chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa. Nhờ đó đời sống được

1.2.4. Tổ chức xã hội
Thiết chế xã hội của người Dao Tuyển ở Bảo Thắng gồm 3 loại hình là làng, dòng
họ và gia đình.
a, Làng
Làng của người Dao Tuyển gọi là “Giăng”. Làng thường được lập trên các
sườn núi, mỗi làng có vài chục nóc nhà. Mỗi làng có địa vực cư trú, canh tác riêng.
Đặc biệt, người Dao Tuyển không sống xen kẽ với các dân tộc khác trong cùng
một làng. Điều này tạo ra sự trao đổi kinh tế, văn hóa trong đời sống. Điều kiện lập
làng là làng phải gần rừng, phía sau làng có núi, rừng. Làng gần suối hoặc thuận
lợi về nguồn nước không quá xa nương. Ở nhiều vùng dân cư phát triển đông, mỗi
làng hình thành các xóm nhỏ. Chẳng hạn như Làng Mi xã Xuân Quang huyện Bảo
Thắng có tới 4 xóm nhỏ. Mỗi làng của người Dao Tuyển có một trưởng làng và
một già làng.
Trưởng làng “Giăng châu” là người có uy tín, giỏi làm ăn, là người nắm
vững luật tục, quy ước chung của làng, có khả năng tập hợp, chỉ đạo dân làng và
18

am hiểu pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước để có thể truyền đạt
tới nhân dân trong làng. Hiện nay trưởng làng do nhân dân bầu.
Già làng “Giăng cố” là người am hiểu phong tục, tập quán, biết các nghi lễ
cúng bái, gương mẫu thực hiện mọi việc công và là người có uy tín lớn trong làng.
Già làng còn có vai trò giám sát thực hiện các nghi lễ chung của làng và của mỗi
gia đình. Hoặc giám sát việc cúng của các thầy cúng ở nơi khác đến hành lễ cho
gia đình. Đặc biệt già làng là một nghệ nhân, am hiểu văn hóa truyền thống, biết
chữ Nôm Dao. Trước khi thực hiện các công việc quan trọng trưởng làng thường
đến hỏi ý kiến của già làng.
Mỗi làng có một vị thần cai quản gọi là Giăng man. Thần làng là người có
công khai phá làng, bảo hộ làng. Mỗi làng có một miếu thờ dựng ở đầu hoặc giữa
làng. Miếu thường được dựng ở gốc cây đa, cây si. Trong miếu không chỉ thờ thần
làng mà còn thờ thần nông phù hộ cho mùa màng tốt tươi và thờ thần thổ địa.

trực tiếp dạy dỗ con trai làm nương, làm rẫy, thực hiện các phong tục của dân tộc,
của dòng họ. Tuy nhiên nhiều việc quan trọng người chủ gia đình cũng bàn bạc với
vợ và các con lớn.Trong sinh hoạt hàng ngày tính chất phụ quyền chi phối đậm
nét mối quan hệ của các thành viên trong gia đình. Vợ phải nghe lời chồng, con cái
phải nghe lời cha. Bố chồng, anh chồng không ăn cùng mâm với con dâu , em dâu
và con rể không ngồi ăn chung với mẹ vợ. Nhưng đặc biệt trong một số lễ nghi tôn
giáo vai trò của người con dâu được đề cao. Chẳng hạn như trong cấp sắc, người
được chọn thực hiện nghi lễ giã gạo, vẩy gạo vào tốp nam đang nhảy bát quái nhất
thiết phải là người vợ của chủ gia đình hoặc con dâu trưởng.
20

Người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng có tục nhận con nuôi kể cả trong
trường hợp người khác dân tộc. Nhận con nuôi có nhiều nguyên nhân như: chữa
khỏi bệnh, đỡ đầu ăn học, truyền dạy nghề cúng bói… Khi gia đình bố mẹ nuôi
gặp khó khăn hay công việc bận rộn thì người con nuôi phải có trách nhiệm giúp
đỡ, vào dịp lễ tết phải đến lễ tết và khi bó mẹ nuôi qua đời cũng phải để tang báo
hiếu, có lễ vật mang đến hiến tế như đối với bố mẹ đẻ mình. Ngược lại bố mẹ nuôi
cũng phải có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ con nuôi song chủ yếu là về mặt tinh
thần.
Như vậy, nếu như làng là đơn vị liên kết các dòng họ và dòng họ là đơn vị
liên kết các gia đình nằm trong phạm vi của mình để bảo tồn, giám sát việc thực
hiện và duy trì các đặc trưng văn hóa cổ truyền của đồng bào thì gia đình là nơi
trực tiếp lưu giữ và thực hiện các đặc trưng văn hóa đó, đặc biệt là các nghi lễ
trong chu kỳ đời người. Gia đình người Dao Tuyển cũng là nơi trực tiếp thể hiện
và duy trì các thành tố khác của văn hóa dân tộc từ các món ăn, cách trao truyền
các nghề, tri thức dân gian cho đến việc duy trì những phong tục tập quán truyền
thống.
1.2.5.Các đặc trưng văn hóa
a. Văn hóa vật chất
+ Ăn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status