Lễ cấp sắc và tang ma của ngƣời dao tuyển ở huyện bảo thắng tỉnh lào cai - Pdf 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
-------------------------

NGUYỄN XUÂN HỒNG

CÔNG CUỘC XOÁ NẠN MÙ CHỮ Ở THÁI NGUYÊN
(1945 - 1954) Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: Tiến sĩ Nguyễn Xuân Minh
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: Tiến sĩ Nguyễn Xuân Minh

THÁI NGUYÊN - 2010

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
MỤC LỤC


đời. Vừa mới ra đời, Nhà nƣớc cách mạng non trẻ đã phải đối mặt với nhiều
khó khăn thử thách rất nghiêm trọng. Bên cạnh giặc ngoại xâm, giặc đói, là
giặc dốt do chế độ thực dân phong kiến để lại hết sức nặng nề, hơn 90% dân
số không biết chữ.
Trong tình hình ấy, Hội đồng Chính phủ họp và xác định việc xoá nạn
mù chữ, nâng cao trình độ văn hoá cho nhân dân là một trong sáu nhiệm vụ
cấp bách cần giải quyết của Nhà nƣớc cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhận xét: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một
chiến dịch chống nạn mù chữ” [12, tr.121].
Ngày 8-9-1945, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh thành lập Nha Bình
dân học vụ để xoá nạn mù chữ cho nhân dân. Tháng 10-1945, Hồ Chí Minh ra
Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học: “Những người đã biết chữ hãy dạy
cho những người chưa biết chữ…Những người chưa biết chữ hãy gắng sức
mà học cho biết chữ: Vợ chưa biết thì chồng bảo, cha mẹ không biết thì con
bảo, người ăn người làm chưa biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở
lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ở hàng xóm, láng
giềng…” [36, tr.12].
Thực hiện “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học” của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, tại Thái Nguyên, phong trào chống nạn mù chữ diễn ra sôi nổi, lôi
cuốn hàng vạn ngƣời tham gia, không phân biệt giai cấp, giàu nghèo và địa vị
xã hội. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, phong
trào bình dân học vụ ở Thái Nguyên vẫn tiếp tục phát triển mạnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Cuộc đấu tranh chống nạn thất học, xoá mù chữ trong cả nƣớc nói chung
và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng có một vai trò rất quan trọng trong cuộc
đấu tranh củng cố, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ (1945-1946) và
cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lƣợc (1946 –
1954). Vì vậy, nghiên cứu quá trình hoạt động và thành tích của phong trào

cao dân trí” (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1986) của tác giả Vƣơng Kiêm Toàn đã
trình bày quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phản đối chính sách giáo
dục nô dịch của thực dân Pháp và sự cần thiết phải xây dựng một nền giáo
dục mới chống nạn thất học, nâng cao dân trí. Tác giả còn nêu rõ sự quan tâm
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống nạn thất học, nhƣ ra Lời kêu gọi toàn dân
chống nạn thất học, các bài phát biểu khi tham dự các buổi khai giảng, các
buổi tập huấn giáo viên bình dân học vụ…
Trong cuốn “45 năm phát triển giáo dục Việt Nam” (Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1992), tác giả Phạm Minh Hạc đã làm rõ các bƣớc phát triển của nền
giáo dục nƣớc ta qua các giai đoạn chống Pháp 1945 - 1954, chống Mĩ 1954 -
1975 và thời kì cả nƣớc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội 1975 - 1990. Dƣới
sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nƣớc hệ thống giáo dục ngày càng hoàn thiện,
bên cạnh hệ thống giáo dục phổ thông còn có hệ thống giáo dục Bình dân học
vụ mà sau này là Bổ túc văn hoá. Nội dung và chƣơng trình giáo dục luôn
đƣợc đổi mới, chất lƣợng giáo dục ngày càng đƣợc nâng cao. Cuốn sách đã ít
nhiều đề cập đến công cuộc xoá nạn mù chữ của Đảng và nhân dân ta.
Luận án Phó Tiến sĩ “Công cuộc xoá nạn mù chữ và bổ túc văn hoá ở
Bắc Bộ (1945 – 1954)” của tác giả Nguyễn Mạnh Tùng (Trƣờng Đại học Sƣ
phạm, Hà Nội, 1996) không chỉ làm rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nƣớc đối
với công cuộc “diệt giặc dốt”, mà còn làm rõ các hình thức tuyên truyền, vận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
động học viên, tổ chức, duy trì lớp học, kết quả và ý nghĩa của công tác xoá
nạn mù chữ.
Cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên tập I (1936–1965)” (Ban chấp
hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, 2003), đƣợc biên soạn công phu, nghiêm
túc, dựng lại một cách trung thực, khách quan quá trình hình thành và phát
triển của Đảng bộ tỉnh. Cuốn sách đã ghi lại những thành tựu to lớn của Đảng
bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng: Các văn kiện Đảng, những
bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kì 1945-1954; các báo cáo,
thông tri của Liên khu Việt Bắc, Tỉnh uỷ Thái Nguyên, Uỷ ban kháng chiến hành
chính tỉnh Thái Nguyên và các huyện trong tỉnh, các công trình nghiên cứu của các
nhà khoa học đã đƣợc công bố, các hồi kí, bút kí của những cán bộ tham gia phong
trào xoá nạn mù chữ từ năm 1945 đến năm 1954.
Ngoài những nguồn tài liệu thành văn nêu trên, trong quá trình thực hiện đề
tài, chúng tôi còn thu thập thêm nguồn tài liệu qua lời kể của những cán bộ, giáo
viên tham gia phong trào này.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp lịch sử kết hợp
phƣơng pháp lôgíc là chủ yếu. Các phƣơng pháp phân tích, so sánh, đối chiếu,
tổng hợp cũng đƣợc sử dụng để làm sáng tỏ nội dung đề tài. Ngoài ra, chúng
tôi còn sử dụng phƣơng pháp điều tra, phỏng vấn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống quá trình
xoá nạn mù chữ ở Thái Nguyên trong những năm 1945 – 1954.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy
và học tập lịch sử địa phƣơng tỉnh Thái Nguyên.
- Rút ra những kinh nghiệm quý báu về hình thức và biện pháp xoá nạn
mù chữ, từ đó vận dụng vào công cuộc xoá nạn mù chữ hiện nay trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên và trên cả nƣớc.
- Luận văn còn góp phần giáo dục truyền thống hiếu học cho nhân dân
các dân tộc tỉnh Thái Nguyên.
6. Bố cục
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn
đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nội dung:

nên ngày 21-3-1884, sau khi đã phá thành, tƣớng Bơrie đờ Lislơ hạ lệnh cho
quân Pháp rút về Bắc Ninh.
Sáng ngày 15-4-1884, hai đại đội quân Pháp và một số nguỵ quân dƣới
quyền chỉ huy của thiếu tá Râygát từ Đa Phúc hành quân qua Phổ Yên lên
đánh chiếm Thái Nguyên lần thứ hai. Đến Lƣu Xá bị quân ta chặn đánh quyết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
liệt, nên mãi đến 13 giờ 10 phút ngày 16-4, chúng mới chiếm đƣợc thành.
Quân ta rút khỏi thành, nhƣng vẫn tiếp tục tổ chức bao vây cắt đứt các đƣờng
tiếp tế lƣơng thực, thực phẩm của quân Pháp. Bị đẩy vào tình thế khó khăn,
ngày 19-4-1884, quân Pháp lại phải bỏ thành Thái Nguyên rút qua Phú Bình
về Bắc Ninh.
Sau hai lần đánh chiếm vẫn không giữ đƣợc thành Thái Nguyên, ngày
10-5-1884, từ Bắc Ninh quân Pháp lại tổ chức một cánh quân lớn do trung
tá Đonniê chỉ huy, đánh chiếm Thái Nguyên lần thứ ba. Trƣớc sức mạnh áp
đảo của kẻ thù, tỉnh lị Thái Nguyên thất thủ, thực dân Pháp chiếm giữ đƣợc
thành Thái Nguyên lâu dài.
Nhƣ vậy, phải trải qua gần hai tháng với ba cuộc hành quân quy mô lớn,
thực dân Pháp mới đánh chiếm và giữ đƣợc thành Thái Nguyên. Sau đó, từ
thành Thái Nguyên, quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng trên địa bàn các
huyện trong tỉnh.
Sau khi chiếm đƣợc thị xã Thái Nguyên, thực dân Pháp ráo riết xây dựng
bộ máy đàn áp, cai trị. Chúng chia tỉnh Thái Nguyên thành 7 huyện: Tƣ Nông,
Phổ Yên, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Văn Lãng, Phú Lƣơng và châu Định
Hoá, với 51 tổng, 199 làng. Ngoài tỉnh lị Thái Nguyên và các huyện lị, châu
lị, chúng còn đặt thêm 3 trung tâm hành chính tại Chợ Chu (Định Hoá),
Phƣơng Độ (Phú Bình) và Hùng Sơn (Đại Từ).
Bộ máy cai trị của Pháp ở cấp tỉnh gồm có một viên Công sứ ngƣời Pháp
thuộc ngạch quan cai trị hạng ba làm chủ tỉnh; một viên Phó Công sứ thuộc

bộ lính này trải ra thành một mạng lƣới đóng chốt ở những đầu mối quan
trọng nhất, chụp lấy lãnh thổ Thái Nguyên, trung bình từ 5 đến 6 hộ dân
trong tỉnh có một họng súng chĩa vào.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở cấp tỉnh, Công sứ chủ tỉnh là
ngƣời đứng đầu về mọi mặt chính trị, quân sự, tƣ pháp, kinh tế, văn hoá – xã
hội.
Sau khi thiết lập đƣợc bộ máy cai trị, cùng với chính sách bóc lột kinh tế,
đàn áp chính trị, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hoá - giáo dục nô
dịch, nhằm kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt, lạc hậu.
1.2. Khái quát tình hình giáo dục ở tỉnh Thái Nguyên
Từ thời phong kiến, nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã có truyền
thống hiếu học, nhiều ngƣời bằng ý chí và nghị lực của mình đã quyết tâm
học tập, đạt đƣợc vốn kiến thức văn hoá uyên bác. Hàng chục vị thi đỗ đại
khoa, tiến sĩ (học vị cao nhất dƣới thời phong kiến) đƣợc triều đình trọng
dụng, góp phần vào sự hƣng thịnh của quốc gia. Tiêu biểu là các danh nhân
Trình Hiển - thuộc xứ Thái Nguyên đỗ Tiến sĩ năm 1429; Nguyễn Cầu, quê ở
Phổ Yên, đỗ tiến sĩ năm 1463, đƣợc truy phong chức Khâm sai đại thần, chỉ
huy sứ thị vệ long quân Cẩn hầu, Chính đô đốc đức bác quận công; Đỗ Cận,
ngƣời xã Thống Thƣợng (nay là xã Minh Đức) huyện Phổ Yên, đỗ tiến sĩ năm
1478, đƣợc phong tới chức Thƣợng thƣ - một trong sáu vị quan đứng đầu bộ
máy hành chính dƣới triều vua Lê Thánh Tông; Phạm Nhĩ quê ở huyện Đồng
Hỷ, đỗ tiến sĩ năm 1493, đƣợc bổ nhiệm làm quan tới chức Phủ doãn phủ
Phụng thiên (viên quan đứng đầu kinh thành Thăng Long); Đàm Chí, quê Túc
Duyên huyện Đồng Hỷ (nay thuộc thành phố Thái Nguyên), đỗ tiến sĩ năm
1535, làm quan tới chức Thừa Chính sứ, tƣớc Vân Trai (Bá Tƣớc); Dƣơng
Ức, quê Hoá Trung - Đồng Hỷ, đỗ tiến sĩ năm 1541, làm quan tới chức Thừa
Chính sứ; Đồng Doãn Giai, quê ở Hùng Sơn huyện Đại Từ, đỗ tiến sĩ năm

Từ năm 1924, Toàn quyền Méclanh thi hành một chƣơng trình “cải cách
giáo dục” hết sức nguy hại. Tên thực dân nổi tiếng về đàn áp cách mạng này
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
viện lẽ rằng 9/10 học sinh nông thôn Việt Nam không đủ sức theo học hết bậc
sơ học cho nên chỉ cần mở nhiều loại trƣờng ở bậc sơ học là đủ. Theo chƣơng
trình này, trẻ em Thái Nguyên muốn tốt nghiệp trung học phải trải qua 13
năm học và 8 kì thi.
- 3 năm sơ học để thi tốt nghiệp yếu lƣợc rồi thi lên lớp nhì.
- 3 năm tiểu học rồi thi lên đệ nhất.
- 4 năm cao đẳng tiểu học để thi thành chung rồi thi lên đệ nhị trung học.
- 2 năm trung học để thi nửa trung học (bán phần tú tài).
- 1 năm chuyên khoa và thi tốt nghiệp trung học (tú tài).
Nhƣ vậy, thực dân Pháp muốn dùng việc thi cử và lên lớp để hằng năm
loại ra khỏi nhà trƣờng một số đông học sinh. Hằng năm, số học sinh từ lớp
này lên lớp khác rơi rụng đến 50%.
Ở Thái Nguyên, một thời gian dài sau khi hoàn thành việc chiếm đóng,
thực dân Pháp không mở trƣờng học. Sau này, do nhu cầu đào tạo tay sai,
chúng phải mở một vài trƣờng, lớp ở thị xã Thái Nguyên và một số thị trấn
nhƣng cũng chỉ hạn chế ở bậc sơ học (tức tiểu học). Dƣới thời Pháp thuộc, cả
huyện Phú Lƣơng chỉ có 3 trƣờng tiểu học không toàn cấp (ở Phủ Lý, Đu và
Yên Ninh), với tổng số chƣa đến 100 học sinh. Cả huyện Phú Bình có 2
trƣờng tiểu học (ở Hà Châu và Phƣơng Độ), còn ở các huyện Phổ Yên, Định
Hoá, Đồng Hỷ, mỗi huyện cũng chỉ có 1 trƣờng tiểu học với khoảng 100 học
sinh…
Hằng năm, khoản ngân sách mà thực dân Pháp dành cho giáo dục hết sức
ít ỏi. Tính riêng năm 1931, chi phí cho giáo dục chỉ chiếm 1,2% tổng chi ngân
sách của tỉnh và không bằng một phần mƣời chi phí cho xây dựng và tu bổ
nhà tù.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
loạn của quân giặc cƣớp. Đúng nhƣ Nguyễn Ái Quốc nhận xét là: “đồi bại,
xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa” [37, tr.125].
Chính sách hạn chế phát triển giáo dục đã gây nên hậu quả hết sức nặng
nề. Số trƣờng lớp quá ít đã không đáp ứng đƣợc yêu cầu học tập của nhân dân
Thái Nguyên, nhất là của trẻ em. Các trƣờng ở thị xã Thái Nguyên có vẻ bề
thế quy mô, có hệ thống chức sắc và ngƣời phục vụ đông đảo còn các trƣờng
ở nông thôn thì hiu quạnh, tẻ nhạt với cơ sở vật chất nghèo nàn, bệ rạc. Một
nhà thơ lúc này đã miêu tả:
“Mái trường tranh lủng dột nhiều nơi,
Hễ có mưa to chẳng chỗ ngồi,
Lũ trẻ đôi khi đang buổi học,
Đứa thì đội nón, đứa mang tơi!” [30, tr.61].
Hậu quả rõ rệt hơn cả là nạn thất học, mù chữ diễn ra trầm trọng. Theo
niên giám thống kê Đông Dƣơng, các năm 1936 – 1937 và 1941 – 1942, số
ngƣời biết chữ chỉ chiếm 2% dân số. Nha học chính Đông Dƣơng phải thú
nhận: “95% dân chúng Việt Nam không biết một thứ chữ gì”. Theo tài liệu
thống kê của cơ quan Bình dân học vụ, đến trƣớc Cách mạng tháng Tám
1945, cả nƣớc có hơn 90% dân số bị mù chữ. Trong đó, ở Thái Nguyên tỉ lệ
mù chữ còn cao hơn, chiếm hơn 95% dân số. Ở nhiều vùng, nhiều dân tộc, tỉ
lệ này là 100%. Rõ ràng, chính sách hạn chế giáo dục là một bộ phận cấu
thành của chính sách cai trị độc ác nổi tiếng của thực dân Pháp ở Việt Nam
nói chung và ở Thái Nguyên nói riêng.
Tuy vậy, cũng cần thấy rằng, việc hình thành hệ thống trƣờng tân học,
ngoài mục đích đào tạo một lớp ngƣời bị “Pháp hoá”, đã tạo nên sự biến đổi
tự nhiên trong nền giáo dục cổ truyền Thái Nguyên. Một số ngôi trƣờng đƣợc
xây dựng có bàn ghế, bảng đen, học cụ…là những hiện tƣợng hoàn toàn mới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


19
có khí thế hào hứng, có nội dung, phƣơng pháp và tổ chức mới khác với lối
học chữ Hán nặng tính hƣ văn. Việc dạy các môn học ở trƣờng đƣợc kết hợp
với tổ chức nói chuyện thời sự, bình văn, giảng sách thu hút quần chúng bằng
cả nội dung và hình thức tổ chức mới mẻ.
Tiếp sau đó, Nguyễn Ái Quốc – nhà yêu nƣớc Việt Nam, trong quá trình
hoạt động cách mạng, đã tố cáo chính sách thống trị ngu dân của thực dân
Pháp ở Việt Nam và đề ra yêu sách về mở mang giáo dục. Năm 1919, trong
yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc-xai, Nguyễn Ái Quốc đề xuất đòi tự do học
tập và mở các trƣờng cho ngƣời bản xứ ở khắp các tỉnh.
Tháng 12-1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp ở Tua,
Nguyễn Ái Quốc tố cáo thực dân Pháp bắt dân tộc Việt Nam sống trong ngu
dốt tối tăm và không có quyền tự do học tập.
Đến năm 1925, trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc
dành hẳn chƣơng IX nói về chính sách thống trị ngu dân của thực dân Pháp ở
các thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Năm 1927, tác phẩm Đường Cách Mệnh của Nguyễn Ái Quốc đƣợc xuất
bản. Trong đó có viết:
“ 1. Lập trường học cho công nhân
2. Lập trường cho con cháu công nhân” [37, tr.241].
Năm 1929, chƣơng trình của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã
ghi rõ: “Bỏ những trường học cũ của đế quốc và thay bằng trường học cách
mạng không phải trả tiền” [24, tr.205].
Đầu 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nắm quyền lãnh đạo cách
mạng. Từ đây, các hoạt động giáo dục trở thành một mặt trận đấu tranh của
nhân dân ta chống thực dân Pháp và gắn bó chặt chẽ với các mặt trận đấu
tranh khác. Các văn kiện đầu tiên của Đảng đều xác định mục tiêu đấu tranh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


21
“Đời nay”, “Tin tức” để thông qua đó tuyên truyền đƣờng lối, chủ trƣơng cách
mạng của Đảng cho quần chúng. Tại thị xã Thái Nguyên, phong trào học chữ
quốc ngữ diễn ra khá sôi nổi, lôi cuốn các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh
niên, phụ nữ. Có lúc, tổ chức đƣợc 9 lớp học ban đêm thu hút gần 100 học
viên tham gia.
Năm 1937, nhận thấy rõ yêu cầu xoá nạn mù chữ, Đảng tổ chức “Các
lớp dạy chữ”, “Các hội sách báo”, “Các hội văn hoá”, “Các ban học tối”…
Đầu năm 1938, Ban Chấp hành Đảng bộ Bắc Kì đã quyết định vận động
thành lập một tổ chức công khai chống nạn thất học, mang tên “Hội Truyền
bá quốc ngữ” do ông Nguyễn Văn Tố làm Hội trƣởng. Từ ngày 29-7-1938,
Hội Truyền bá quốc ngữ mới chính thức đi vào hoạt động.
Mặc dù thực dân Pháp đã cho phép hoạt động, nhƣng chúng luôn tìm
mọi cách gây khó khăn và kìm hãm sự phát triển của Hội. Đến trƣớc Chiến
tranh thế giới thứ hai, ngoài 4 khu trƣờng đƣợc mở tại Hà Nội, Hội cũng chỉ
phát triển thêm đƣợc hai cơ sở ở Hải Phòng và Việt Trì. Khi Chiến tranh thế
giới thứ hai bùng nổ, Đảng Cộng sản Đông Dƣơng rút vào hoạt động bí mật,
sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội gặp nhiều khó khăn hơn.
Tuy vậy, Đảng vẫn trực tiếp quan tâm lãnh đạo phong trào chống nạn
thất học. Tháng 11-1939, Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng ra nghị
quyết chỉ rõ: “cứ mở rộng những tổ chức văn hoá như Hội Truyền bá quốc
ngữ, lớp dạy tối…”. Sang tháng 11-1940, nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành
Trung ƣơng Đảng nhấn mạnh: “Cưỡng bách giáo dục tới bậc sơ học, thủ tiêu
nạn mù chữ” [15, tr.22]. Nhờ có sự quan tâm của Đảng, Từ năm 1942 đến
trƣớc Cách mạng tháng 8-1945, Chi hội Truyền bá quốc ngữ đƣợc thành lập ở
nhiều địa phƣơng, trong đó có Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
Chi hội Truyền bá quốc ngữ Thái Nguyên hoạt động rộng rãi ở thị xã và

Để tránh tình trạng ấy, ông Hoàng Xuân Hãn, Trƣởng ban và một số
ngƣời trong Ban Tu thƣ của Hội Truyền bá quốc ngữ, đã nghiên cứu một
phƣơng pháp dạy học mới là “phương pháp đọc lên thành tiếng”, một cải tiến
quan trọng trong phƣơng pháp dạy học ngƣời mới học đọc, học viết và trở
thành phƣơng pháp chính thức của Hội Truyền bá quốc ngữ và ngành Bình
dân học vụ sau này. Theo phƣơng pháp này, học chữ cái không theo thứ tự a,
b, c mà học từ chữ ít nét đến nhiều nét, chữ dễ viết đến khó viết. Mặt khác,
học chữ cái xen với học vần, ghép chữ với chữ hoặc chữ với vần để chắp
tiếng, chắp từ và chỉ sau một số bài đã có thể tập đọc đƣợc những bài ngắn có
nội dung gần gũi với đời sống hằng ngày, làm cho học viên cảm thấy thoải
mái và thích thú học chữ.
Các giáo viên đã tìm các biện pháp liên hệ, so sánh để học sinh dễ nhận,
dễ nhớ mặt chữ và đặt thành câu ca dao vừa vui, vừa cụ thể thiết thực, vừa dễ
hiểu, dễ hấp dẫn, dễ thuộc, dễ nhớ nhƣ:
I – t (tờ) giống móc cả hai,
I ngắn có chấm – t (tờ) dài có ngang.
Hay: O tròn như quả trứng gà,
Ô thời đội mũ, ơ là thêm râu.
Hay: “O, a” hai chữ khác nhau,
Vì “ a” có cái móc câu bên mình.
Dạy hết 34 bài trong quyển “Vần quốc ngữ” là dạy xong phần chữ cái và
vần. Bài cuối cùng trong quyển vần, dạy ôn các chữ cái, dạy viết các chữ hoa
và dạy đọc các chữ in. Để cho học sinh học xong lớp sơ đẳng có thể đọc, viết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24
tƣơng đối thông thạo, Chi hội lại cho học sinh tiếp tục tập đọc và tập viết
chính tả theo quyển “Sách tập đọc sơ đẳng” do Hội biên soạn. Những bài
trong quyển sách tập đọc này còn nhằm phổ biến cho học sinh những kiến
thức thông thƣờng cần thiết. Để củng cố hơn nữa kết quả học tập bƣớc đầu

Để mai họ sẽ cùng ta lên đường
“Giặc dốt diệt, Việt Nam cường!”
Nêu cao khẩu hiệu trên trường đấu tranh
Hỡi các anh! Hỡi các anh!
Trông người tiến trước, ta nhanh kịp đà
Tương lai của nước non nhà
Dở, hay trách nhiệm do ta một phần!”…[22, tr.52]
Ở nhiều trƣờng, giáo viên còn tổ chức cho học viên tham gia các cuộc
vui lửa trại và diễn kịch cổ động, gây thêm tình gắn bó giữa học viên với giáo
viên, với khoá học.
Nhiều học viên nghèo phải làm công cho các chủ tƣ gia, chủ hiệu, chủ
xƣởng. Giáo viên không những phải vận động học viên mà còn phải vận động
cả các tƣ gia, chủ hiệu, chủ xƣởng để ngƣời làm đi học.
Trong những điều kiện đó, mỗi giáo viên đồng thời phải là một cổ động
viên. Chính vì thế, việc tuyên truyền vận động giáo viên rất đƣợc chú trọng.
Ngƣời giáo viên không những đƣợc Chi hội giúp đỡ giảng dạy đúng
phƣơng pháp, mà còn đƣợc tham khảo thêm các tài liệu hƣớng dẫn về sƣ
phạm, với các nội dung nhƣ: Tƣ cách ngƣời thầy giáo; kỉ luật giảng dạy;
những cử chỉ và hoạt động của thầy giáo ở trong lớp học; những phần việc
phải làm trong một buổi dạy học; cách thức thƣởng phạt, lối giảng dạy cho

Trích đoạn Cuộc vận động xoá nạn mù chữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status