PHÀN THỊ HIỀN
VẤN ĐÈ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ TRONG LẺ
CẤP SẮC CỦA NGƯỜI DAO TUYÉN Ở HUYỆN BẢO THẮNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TỈNH LÀO CAI
KHÓA
LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
• • •
Chuyên ngành: Triết học Mác – Lênin
PHÀN THỊ HIỀN
VẤN ĐÈ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ TRONG LẺ
CẤP SẮC CỦA NGƯỜI DAO TUYÉN Ở HUYỆN BẢO THẮNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TỈNH LÀO CAI
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học Mác – Lênin
Ngưòi hướng dẫn khoa học:
Phàn Thị Hiền
MỤC LỤC
PHÀN MỞ ĐÀU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với một nền văn hóa đa dạng trong
thống nhất. Văn hóa là dòng chảy xuyên suốt quá khứ, hiện tại, tương lai của một
dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm dựng và giữ nước, mỗi dân tộc đã tạo dựng cho
mình một lâu đài văn hóa riêng để phân biệt với dân tộc khác. Những giá trị văn
hóa đó tạo nên bản sắc văn hóa tộc người, làm thành những chuấn mực để phân
biệt giữa các tộc người với nhau. Dân tộc Dao là một trong số 54 dân tộc anh em
đang sinh sống trên đất nước Việt Nam. Người Dao có dân số khá đông xếp vào
hàng thứ 9 với khoảng 620.538 người, cư trú phân tán ở nhiều địa phương chủ yếu
ở các tỉnh vùng cao biên giới như: Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang... Bảo Thắng là
một trong hai huyện có người Dao Tuyển sinh sống tập trung đông nhất của tỉnh
Lào cai. Là nơi bảo tồn được nhiều loại hình văn hóa dân gian và nếp sống của
cộng đồng có tính chất tộc người. Trong đó những nghi lễ được tổ chức theo chu
kỳ đời người như sinh đẻ, cấp sắc, cưới xin là một trong những biểu hiện cụ thể
vừa mang tính xã hội vừa mang tính tôn giáo.
Đó là những giá trị văn hóa điên hình phản ánh cái mốc đáng nhớ nhất trong
đời người mà bất kỳ người Dao nào cũng phải trải qua. Những phong tục tập quán
đó vẫn được đồng bào Dao Tuyển ở đây lun giữ và phát huy cho đến ngày nay.
Hiện nay, trong xu thế hội nhập mở cửa và quốc tế hóa với sự du nhập của
nhiều dòng văn hóa ngoại lai. Người Dao Tuyển cũng như nhiều dân tộc anh em
đang đứng trước những nguy cơ biến đổi sâu sắc trong đời sống văn hóa, xã hội.
Việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đang là việc làm cấp thiết.
Nghiên cứu về tập tục chủ yếu trong chu kỳ đời người Dao Tuyến ở Bảo Thắng,
người Dao được trình bày khá toàn diện cả về lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa.
- Công trình “Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà Giang”cũng đề cập khá
chuyên sâu về văn hóa cố truyền trong đó có các nghi lễ chủ yếu trong chu kỳ đời
người của hai nhóm Dao ở tỉnh Hà Giang và Dao Đỏ và Dao Tuyển (Áo Dài).
Như vậy, các công trình nghiên cứu đã ít nhiều đề cập những lễ nghi trong
chu kỳ đời người của người Dao Tuyển trong đó có lễ cấp sắc. Song phần lớn các
tác phấm nghiên cứu trên phạm vi rộng lớn với những đặc trưng văn hóa của
người Dao và Dao Tuyển nói chung chưa làm rõ được sắc thái phong phú, đa
dạng, đặc trưng của văn hóa Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai từ đó
rút ra những giá trị tiêu biểu của tộc người.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cún
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu về Lễ cấp của người Dao
Tuyển ở huyện Bảo Thắng, Lào Cai.
- Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến lễ tục như: tên
gọi, tiến trình thực hiện, ý nghĩa của Lễ cấp sắc.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Nhằm tìm hiếu sâu hơn về Lễ tục cấp sắc của người
Dao Tuyển ở Lào Cai, rút ra những giá trị tiêu biểu, từ đó giúp các nhà quản lý
hoạch định những biện pháp, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa của người
Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng nói riêng và đồng bào tỉnh Lào Cai nói chung.
- Nhiệm vụ:
+ Khái quát về người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng, Lào cai.
+ Lễ Cấp sắc của người Dao Tuyến ở huyện Bảo Thắng, Lào cai.
+ Bảo tồn và phát huy những giá trị trong Lễ cấp sắc của người Dao Tuyển ở
huyện Bảo Thắng, Lào cai.
5. Phương pháp và phương pháp luận
Sử dụng các phương pháp: Phương pháp logic, phương pháp lịch sử, phương
pháp phân tích, tổng hợp, so sánh....
Hy Lạp - Lam cổ đại XI đã coi triết học như là “Văn hóa của trí tuệ”ông khắng
định cần phải rèn luyện và vun sới trí tuệ như người nông dân vun sới đất đai.
Trên cơ sở đó, ông nhìn thấy nội dung cơ bản của văn hóa là phát triển năng lực
tinh thần của con người.
Sang thế kỉ XVII, XVIII, việc sử dụng thuật ngữ “văn hóa”với nghĩa là
"canh tác tinh thần”bên cạnh nghĩa gốc là quản lý nông nghiệp, canh tác nông
nghiệp. Đen thế kỉ XI thuật ngữ "văn hóa”được các nhà nhân loại học phương Tây
sử dụng như một danh từ chính. Những nhà học giả này cho rằng văn hóa (văn
minh) thế giới có thế phân loại từ trình độ thấp đến cao nhất và văn hóa của họ
chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng bản chất của văn hóa là hướng trí lực và
sự vươn lên phát triển thành văn minh. Người đầu tiên đi thẳng vào nghiên cứu
khoa học về văn hóa là E.B.Tylor, nhà nhân học nổi tiếng người Anh. Năm 1871
trong cuốn “Văn hóa nghuyên thủy”ông đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn
hóa hay văn minh theo nghĩa dân tộc học bao quát của nó là một tổng thể phức
hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất
cứ năng lực, tập quán nào được lĩnh hội bởi con người với tư cách là thành viên
của xã hội". Đen thế kỉ XX năm 1909 thuật ngữ “văn hóa học”mới được ra đời.
Người đặt thuật ngữ này là Wilhemlm Ostwald nhà khoa học và triết học Đức.
Thuật ngữ này dùng để chỉ môn học mới mà ông gọi là “khoa học về các văn
hóa”tức là hoạt động đặc biệt của con người hoạt động mà chỉ con người mới có.
Ông viết: “chúng ta gọi những gì phân biệt được con người với động vật là văn
hóa”.
Ở phương Đông (Trung Quốc) từ "văn hóa”có đời sống ngôn ngữ từ rất sớm.
Trong Chu Dịch có câu: “quan hồ nhân dĩ hóa thành thiên hạ”tức “thanh nhân
quan sát nhân văn lấy Thi, Thư, Lễ, Nhạc làm phép tắc và để giáo hóa làm cho
thiên hạ được khai hóa". Tóm lại, văn hóa mà cổ nhân nói đến là vị trí giáo hóa.
Như vậy, quan niệm về văn hóa ở Trung Quốc lấy học thuyết Nho gia là chính,
nội dung chủ yếu của vă hóa là Thi, Thư, Lễ, Nhạc. Chế độ chính trị: luân thường,
tống số kiến thức mà loài người đã tích lũy được dưới ách thống trị của xã hội tư
bản, xã hội của bọn địa chủ và xã hội của bọn quan liêu.”[21.345-346] . Ở đây,
V.I.Lênin đã hiểu văn hóa theo nghĩa rộng là những giá trị chung nhất tồn tại và
phát triển qua nhiều chế độ xã hội, nhiều giá trị có ý nghĩa. Vì vậy, phải biết kế
thừa có chộn lọc các giá trị văn hóa truyền thống.
Như chúng ta đã biết, tính đến nay có tới hàng trăm định nghĩa về văn hóa
khác nhau. Trong khi thế giới còn bàn cãi rất nhiều về định nghĩa văn hóa thì ở
nước ta năm 1942, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa
mang tính hệ thống “Vì lễ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
đã sáng tạo và pháy minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở
và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn
hóa”[ 12.431].
Định nghĩa của UNNESCO về văn hóa “Văn hóa được đặc trưng bởi diện
mạo và tinh thần , vật chất, tri thức, tình cảm... khắc họa nên bản sắc của một quốc
gia , cộng đồng, gia đình, làng xóm, xã hội... Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ
thuật, văn chương mà cả những lối sống những quyền cơ bản của con người,
nhũng hệ thống giá trị, những truyền thống tín ngưỡng”[16.47].
Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa về văn hóa, tuy nhiên có những cách
tiếp cận khác nhau:
Theo giáo sư Đào Duy Anh “Văn hóa là sinh hoạt, vì văn hóa là sinh hoạt
nên văn hóa của mỗi dân tộc khác nhau, do các điều kiện tự nhiên, tính chất địa lý,
điều kiện kinh tế - xã hội quy định mà có nền văn hóa riêng của dân tộc”.
Theo giáo sư Phan Ngọc “Không có vật gì gọi là văn hóa cả, mà ngược lại
bất kỳ vật gì cũng có mặt văn hóa, văn hóa là một quan hệ, nó quan hệ giữa thế
giới biếu tượng và thế giới tồn tại..".
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng: “văn hóa”là một khái niệm mở, là một
phạm trù rộng lớn, phong phú, đa dạng. Có người nghĩ rằng văn hóa là một cái gì
văn hóa trong điều kiện dân tộc đã hình thành. Nội lực của dân tộc, một mặt chính
là nguồn nhân lực to lớn, mặt khác là truyền thống, bản sắc dân tộc được kết tinh
và hiện đại hóa.
Tính dân tộc là một nội dung qua trọng luôn được Đảng ta đặt lên vị trí hàng
đầu, vì đó là tính chất cốt lõi của một nền văn hóa. Nó là cơ sở của một nền văn
hóa tiên tiến kết tinh thành nguồn nội lực
giàu
đế xây dựng một quốc gia
mạnh và phát triển bền vững. Chính do tác động của
quy luật tính dân
tộc mà văn hóa mang bản sắc dân tộc. Lịch sử đã chứng kiến biết bao cuộc đấu
tranh oanh liệt, bao người đã sẵn sàng hi sinh để bảo vệ bản sắc văn hóa của dân
tộc mình trước kẻ thù xâm lược, những ngày hôm nay biết bao người dân Việt
Nam ở hải ngoại vẫn khát khao muốn hành hương tìm về cội nguồn, tìm về bản
sắc dân tộc mình.
Bản sắc văn hóa dân tộc, nếu nói theo triết tự “bản” là “gốc", “sắc” là “màu”
có nghĩa là màu sắc ban đầu chưa bị pha trộn gọi là bản sắc. Theo tạp chí Cộng
Sản (số 13 - 1997) bản sắc văn hóa dân tộc là những biểu giá trị (vật chất - tinh
thẩn) đặc thù, là sắc thái riêng biệt trong đời sống sinh hoạt, xã hội của mỗi cộng
đồng , dân tộc từ cách ăn, mặc, đi lại .. cho đến chiều sâu tâm hồn, cách tư duy và
lối ứng xử.
1.2 Những giá trị văn hóa trong Lễ cấp sắc của
1.2.1 Khái quát về lễ cấp sắc của người Dao Tuyển huyện Bảo Thắng tỉnh
Lào Cai
a) Lịch sử bễ cấp sắc
Theo truyền thuyết, khi xưa người Dao Tuyển bị nhiều thế lực áp bức,
Đặng Văn Thắng (tên học sinh), tên đặt trong cấp sắc là: Đặng Văn Rồn.
Người Dao Tuyến ở Bảo Thắng thường cấp sắc cho con trong khoảng từ 12
đến 17 tuổi. Đứa trẻ được cấp sắc trong cả hai giáo (Sư giáo - Đạo giáo) thì được
văn - võ song toàn. Sau này có thể đi học thêm và làm thầy.
b) Quan niệm về sự trưởng thành
Con người khi chuyển sang tuổi trưởng thành được đánh dấu bởi các dấu
hiệu thay đối về thế chất trong cơ thể, thay đối về tính cách hoặc đánh dấu bởi
một nghi lễ theo tập tục truyền thống của dân tộc.
Nói về vấn đề này, người Kinh có câu “GÁ/ thập tam, Nam thập lục ” nghĩa
là con gái bước vào tuổi 13, trai bước vào tuổi 16 là tuổi đã trưởng thành có thế
được xây dựng gia đình.
Đối với các dân tộc Dao thì họ cho rằng bước sang giai đoạn trưởng thành,
các cô gái bắt đầu biết quan tâm nhiều đến thêu thùa, may mặc, trang điểm đế làm
đẹp cho mình, biết e thẹn trước người khác giới, nói năng e dè, kín đáo. Còn các
chàng trai không còn mải mê chơi cù, đánh đáo mà đã biết đi chơi chợ, chơi hội
hè, tập thổi sáo, tập hát những bài hát giao duyên truyền thống để đối đáp trong
các ngày hội...Ngoài những dấu hiệu về tâm sinh lý nói trên, người Dao nói chung
và người Dao Tuyến nói riêng còn có một lễ tục đánh dấu sự trưởng thành của các
chàng trai đó là lễ tục cấp sắc.
c) Tên gọi và đặc điêm
Trong một đời người, khi lớn lên và đến khi chết đi con người phải trải qua
nhiều nghi lễ trong đó có những nghi lễ chỉ trải qua một lần như cưới xin và ma
chay. Ở người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng còn có thêm một nghi
lễ nữa đó là Lễ cấp sắc. Lễ cấp sắc của người Dao là một lễ tục theo chu kỳ đời
người, là hình thức lễ thành đinh. Đó là nghi lễ đánh dấu một giai đoạn quan trọng
của con người - giai đoạn từ tuổi thiếu niên lên tuổi trưởng thành. Trải qua Lễ cấp
sắc chàng trai mới được cả cộng đồng công nhận thành viên, mới được thế giới
thần linh thừa nhận là một thành viên chính thức có thế làm thầy cúng, có quyền
(Dao Tuyển) ở Mèo Vạc tỉnh Hà Giang được cấp sắc từ 11 đến 20 tuổi, người Dao
Tiền ở Ba Be tỉnh Bắc Cạn được cấp sắc tù' 10 đến 18 tuổi...
Lễ cấp sắc phải tuân thủ quy định là: Trong gia đình anh làm Lễ cấp sắc
trước rồi mới đến em. Neu gia đình có người chết mà chưa được cấp sắc, thì con
cháu phải làm lễ cấp sắc cho người đã chết trước khi làm Lễ cấp sắc cho mình. Lễ
cấp sắc có nhiều bậc khác nhau mà người thụ lễ muốn làm lễ ở cấp bậc cao thì
phải trải qua cấp bậc thấp. Đối với Lễ cấp sắc của người Dao Tuyển có 3 bậc đó
là: thụ lễ 3 đèn, lễ 7 đèn và lễ 12 đèn. Tuy nhiên hiện nay đồng bào chủ yếu là làm
Lễ cấp sắc ở bậc 3 đèn là phổ biến.Đúng theo tục lệ, lễ cấp sắc 3 đèn được diễn ra
2 ngày 1 đêm hoặc 1 ngày 2 đêm và người thụ lễ được cấp 36 âm binh. Lễ cấp sắc
7 đèn diễn ra trong thời gian từ 5 đến 7 ngày đêm và người thụ lễ được cấp 72 âm
binh. Còn lễ cấp sắc 12 đèn kéo dài từ 9 đến 12 ngày đêm, người thụ lễ được cấp
120 âm binh. Như vậy, lễ cấp sắc ở bậc càng cao thì chi phí càng lớn và thời gian
chuẩn bị càng dài. Tộc người Dao Tuyển chịu ảnh hưởng của Đạo giáo. Đạo giáo
được gắn vào tên tuổi, dòng dõi của họ. cấp sắc là một nghi lễ đặt tên cho đứa trẻ
(con trai) kế dòng họ (phụ hệ) theo Đạo giáo. Cũng là một nghi thức truyền dạy
tín ngưỡng tôn giáo cho đứa trẻ, khi bước vào tuổi trưởng thành. Ngoài chính giáo
(Đạo giáo) ra, họ còn cấp sắc đặt tên cho đứa trẻ theo một phụ giáo nữa, đó là sư
giáo. Chính giáo và phụ giáo, mỗi giáo có một sư tổ khác nhau, chức năng hành
nghề khác nhau. Sư tổ của Đạo giáo là Tam Thanh; sư tổ của bên sư giáo là Tam
Nguyên. Pháp danh và tên niệm của các sư tổ như sau:
Bên Đạo giáo - Tam Thanh
- Ngọc Thanh pháp danh là Nguyên Thuỷ Thiên Tôn tên niệm là Cách Đạo
Chính.
- Thượng Thanh pháp danh là Linh Bảo Thiên Tôn tên niệm là Đường Đạo
Minh.
- Thái Thanh pháp danh là Đạo Đức Thiên Tôn tên niệm là Lý Đạo Đức.
Bên sư giáo - Tam Nguyên
gì) một người đại diện Đạo giáo Tam Thanh, một người đại diện Sư giảo Tam
Nguyên, cấp soái cho đứa trẻ tên là gì (tên đứa trẻ đã được bàn bạc lựa chọn kỹ
từ trước) đế lấy năm cát tháng lợi , sau này gia đình sắp xếp được sẽ làm chay cấp
sắc. Mong các vị thẩn, các vị soái che chở cho đứa trẻ, đi xa đi gần không sợ ma
quỷ dịch bệnh, mau khôn nhanh lớn học hành sáng dạ
d) Công việc chuẩn bị của Lễ cấp sắc
* Chuẩn bị về vật chất.
Tổ chức một Lễ Cấp sắc là một việc rất lớn trong đời người của người Dao
Tuyển. Gia phủ phải có một quá trình chuẩn bị lâu dài về các nghi lễ tôn giáo, tín
ngưỡng truyền thống của dân tộc và rất tốn kém về vật chất. Thời gian chuấn bị
dài hay ngắn phụ thuộc phần lớn vào kinh tế của mỗi gia đình. Có gia đình chuẩn
bị từ 1 đến 3 năm, có thể là lâu hơn nữa. Những thứ cần được chuẩn bị sớm là
quần áo cho đứa trẻ và vải được dùng trong cấp sắc. Khi đứa trẻ vào lễ phải được
mặc bộ quần áo màu đen chàm, công việc chuẩn bị này là của người mẹ. Công
việc còn lại là cả của người bố và mẹ cùng lo. Tính chi phí cho một đám ma chay
cấp sắc về mặt sắm lễ và cả tạ công thầy hết khoảng 15 đến 17 triệu đồng, (thời
điểm năm 2013).
* Mời thầy cúng:
Gia chủ phải mời sáu thầy, mỗi thầy có chức vụ khác nhau trong lễ cấp sắc.
Neu đứa trẻ được cấp soái thì đén khi cấp sắc thì cần thiết phải tìm đến hai thầy
cấp soái trước đây. Đen nhà với nghi thức là đưa cho hai thầy mỗi người một đôi
đồng tiền kẽm, đó là phép tắc và sau đó nhờ thầy đến là lễ.
e) Tiến trình lễ cấp sắc.
Những điều kiêng kị của Lễ: Trước hai ngày làm Lễ cấp sắc, đứa trẻ phải giữ
gìn vệ sinh sạch sẽ, không đi xa, không nghịch bấn hay đi săn bắn sát sinh, không
ăn trộm ăn cắp, dù chỉ hái lá cây của nhà khác.
Đối với thầy cúng và những người đi theo thầy cúng làm lễ cấp sắc và tất cả
những thành viên trong gia đình người cấp sắc cũng phải kiêng kỵ những điều
Đây là nghi lễ bắc cầu để đón các thần thánh về nhà để làm Lễ cấp săc. Các
thầy đi từ chay đàn trong nhà hướng ra Ngũ Đài Sơn, thắp hương làm phù phép để
không cho tà ma quấy phá Ngũ Đài, tại cột nhà ngoài hè các thầy cũng làm vậy đế
ma tà không quấy phá được gia chủ.
Trước khi đón thánh thần đi qua cầu vào Nhà Đàn làm Lễ cấp sắc; các thầy
lấy cành chanh vấy nước để làm sạch sẽ gia môn chủ, quạt xua đuổi tà khí. Vì đón
thần thánh phải làm lễ quét nhà thật sạch sẽ không bị tà ma quỷ ám, rủi ro vận hạn
cần quét hết ra ngoài, tránh làm mạo kinh đọng đến tổ tiên, dùng đèn rọi sáng rồi
rước các thánh vào chay đàn.
* Lễ Khai khởi kinh đàn:
Là việc thỉnh cầu mời các vị tiên thánh chấn giữ các cửa phương trời giáng
hạ về chay đàn hưởng lễ vật và chứng kiến lễ cấp sắc cho đứa trẻ. Khi thầy cúng
khấn thỉnh mời các vị thánh sư và tiên thánh thì thầy cúng phụ gõ chiêng, trống,
các đầu đáy mặc áo dài đỏ nhảy múa rung chuông đế đón mời các vị thánh sư và
tiên thánh giáng hạ xuống nhà chay đàn để hưởng lễ do gia chủ dâng lên.
Thầy cúng vừa đánh trống, gõ chiêng và đứa trẻ mặc áo đạo phục diễn xướng
trước kinh đàn, báo mời các thần thánh có tên xuống kinh đàn chứng kiến học trò
tụng kinh.
* Lễ khai quang:
Khai quang tức là lấy một tờ giấy phủ lên đầu đứa trẻ, cầm đèn hoặc nến vẽ
tượng trưng lên trên đầu đứa trẻ, tờ giấy tượng trưng cho bào thai của sư mẫu
đang mang thai đứa trẻ, đèn tượng trưng ánh hào quang của mặt trời, vẽ biểu
tượng tuần hoàn của nhật nguyệt đủ chín tháng mười ngày đứa trẻ được sinh ra
thân thể sạch sẽ, không phải là phàm tâm phàm cốt, trong lòng đứa trẻ sáng suốt,
là học trò thông minh bắt đầu vào lớp học Đạo. Khai quang xong, đứa trẻ được
mặc y phục Đạo gia.
* Lễ múa gà:
Khi lập chay đàn và biện lễ vật, người Dao Tuyển cho rằng có các loại ma
Đứa trẻ được thầy bón cơm, nước, chăm sóc. Các thầy la lên gọi gia đình cha
mẹ đến xem như duyệt.
cấp âm dương điệp:
Âm dương điệp là hai tờ điệp sớ, âm điệp và dương điệp, cả hai điệp đều viết
như nhau, âm điệp đốt đi và dương điệp lưu lại, đi theo suốt đời đứa trẻ. Cho đến
khi già về chết đi thì dương điệp được bỏ theo thể xác vào trong áo quan. Nội
dung trong điệp là ghi họ tên đặt theo bên sư giáo, thời gian và địa điếm khi cấp
sắc.
Lễ cấp binh mã:
Ông thầy cả làm lễ cấp binh mã cho đệ tử có thiên binh vạn mã nhập thân,
bất kể đi xa gần, ngoại thần quỷ không hề xúc phạm, bảo vệ cho đệ tử đời sống
bình an, vinh hoa trường thọ. Khi thành thầy cúng gọi trời trời nghe, gọi đất đất
thấu, dẹp ma ma yên, dẹp quỷ quỷ hàng, cứu người người sống.
Như vậy, đứa trẻ từ Mai Sơn thác sinh trở về dương gian đã thành đứa con
của Tam Nguyên được các thầy cấp bằng cấp binh mã, ấn tín, bút nghiên để đứa
trẻ đầy đủ nghị lực vào đời. (Theo lòi dịch của ông Đặng Văn Định và ông Hoàng
A Đo thôn Khởi Khe - Phong Hải - Bảo Thắng)
Giới giáo có 9 điều quy định đứa trẻ cần thực hành:
1. Đệ nhất giới, là môn đồ sư giáo, không được coi thường trời đất. thần
phật.
2. Đệ nhị giới, là môn đồ sư giáo, không được ngược đãi cha mẹ.
3. Đệ tam giới, là môn đồ sư giáo, không được sát hại sinh linh.
4. Đệ tú’ giói, là môn đồ sư giáo, không được trộm cắp, hại người.
5. Đệ ngũ giới, là môn đồ sư gia, không được khinh rẻ người nghèo.
6. Đệ lục giới, là môn đồ của sư giáo, không được tham hoa, ái sắc làm nhơ
bản thân.
7. Đệ thất giới, là môn đồ của sư giáo, không được uống rượu nói ngang
ngửa.
8. Đệ bát diệu giới, khi tụng kinh, không được nghe nhìn cưòinói.
9. Đệ cửu diệu giới chân tâm, bảo quốc ninh gia, không được thoái thoát
chuyển tâm.
10.
Đệ thập diệu giới, không được coi thường, bôi bác, tự ý thay đổi nội
dung trong sách kinh.
Mười điều quy định trên thành 9 công quả:
Thành đoan chính trường sinh công quả Thành thông minh trí tuệ công quả
Thành phú quý hào thịnh công quả Thành cát thái công quả Thành thanh
hiển công quả Thành thập tưởng công quả Thành đại pháp công quả Thành
Đại đạo công quả Thành hoàn mãn công quả
(đại ý là con người ngay thẳng, sống trường sinh, có trí tuệ thông minh, giàu
sang, trong cuộc sống gặp mọi điều tốt lành, an khang, có công danh, trọn vẹn đầy
đủ, được làm thầy đạo cao đức trọng).
Đen đây, đứa trẻ đã được cả hai giáo đã cấp sắc xong, (ý là văn võ song toàn) Sau
đó có một lễ cắt tóc để trừ nợ đời, biểu tượng sự tẩy xoá những nhơ bấn phàm tục,
đứa trẻ ngồi quay mặt về chính đàn, biếu hiện chí hướng về đạo môn thiện quả.
(Phần này được các thầy làm tượng trưng, vì đứu trẻ tóc đã cắt gọn theo quy định
của trường học)
Lễ cấp âm dương điệp:
Âm điệp đốt đi, Dương điệp lưu lại theo suốt đời đứa trẻ. Sau khi cấp điệp
đứa trẻ được mặc áo đạo phục chỉnh tề, ngồi giữa chính đàn, nghe ông thầy đọc
sách.
Cấp binh mã:
Hình thức cấp binh mã cũng giống như bên Sư giáo, từ nay đệ tử có thiên
binh vạnh mã nhập thân, sau khi thành thầy cúng giỗ, phá ngục phục hồn, làm đâu
trông nom nữa. Mọi người cho đứa trẻ đồng tiền lấy may.
* Phần kết của Lễ cấp sắc:
Mọi thủ tục nghi lễ đã xong, chay đàn được tháo dỡ, đưa ra trước nhà đốt,
nếu được ngày thì lấy một ít tro mang vào trong nhà gọi là lộc của thần thánh, nếu
không được ngày thì ba ngày sau mới được lấy mang vào nhà.
Thầy cúng lắc chuông đi xung quanh nhà nhặt một số đồ vàng, mã, hương
chưa cháy hết ở chay đàn, đi sau nhà nhặt ít lông gà, lông lợn (linh hồn của các
con vật) cho vào sọt đế vào trong nhà gọi đó là lộc của thẩn thánh, tố tiên.
Thầy cúng dán bùa phù trước cửa nhà có ý nghĩa để yểm cho lộc không ra
ngoài, mọi điều tốt đẹp, chăn nuôi, trồng trọt tốt. Một nghi lễ nhỏ cuối cùng là Lễ
ăn thề. Gia chủ sắp một mâm cơm cho 6 ông thầy và đứa trẻ được cấp sắc. Trong
mâm thắp 8 nén hương để thầy và trò cùng ăn thề. Trò hứa giữ lễ, làm đúng
những điều thầy và kinh sách đã dạy. Đồng thời bày tỏ mong muốn sau này được
như các thầy để giúp mọi người.
Các thầy dạy đứa trẻ phải sống thuận hòa, không được đánh người. Làm
Thầy phải sống gương mẫu trong làng bản, làm việc nghĩa không vì tiền. Neu trái
lời dạy sẽ bị thánh thần trách phạt hoặc giáng tội bị đày đọa.
Thầy - Trò cùng uống chung bát rượu ăn thề ý nói người thầy nào cũng phải
trong sạch như nước ở trong bát. Neu con phản lời thầy, con có tội. Thầy làm sai,
thầy có tội. Ai có tội sẽ chết. Cả thầy và trò cùng chung một động tác cắm hương
vào bát rượu cho tắt rồi cùng cắm ngược đầu nén hương xuống bát hương. Việc
làm này ý nói người nào vi phạm lời thề sẽ bị chết cắm đầu
f) Ý nghĩa của Lễ cấp sắc
Phong tục cấp sắc của người Dao Tuyển vừa có tính trao truyền tín ngưỡng,
vừa có tính giáo dục. Những người được cấp sắc hoặc đã thành thầy cúng ít có
những trường họp thầy cúng thành những kẻ lừa lọc, càn quấy, làmngười đời phê
phán. Do đó trong người Dao họ rất muốn có đứa con học được nhiều chữ nhiều
nghĩa thành thầy có một tương lai tươi sáng.Khi các con được cấp sắc xong xuôi,