Khóa luận tốt nghiệp văn học: quan niệm và những biểu hiện về hạnh phúc trong thơ Xuân Quỳnh - Pdf 14


1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

VŨ THỊ NGÂN

QUAN NIỆM VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ
HẠNH PHÚC TRONG THƠ XUÂN QUỲNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013

2


Khóa luận được hoàn thành với sự hướng dẫn khoa học, sự giúp đỡ tận tình
của thầy giáo - Thạc sĩ Nguyễn Công Tho, giảng viên Văn học Việt Nam. Nhân
dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến sự quan tâm, chỉ bảo của
thầy trong quá trình tôi thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin cảm ơn Thư viện trường Đại học Tây Bắc, các thầy cô trong
tổ Văn học Việt Nam, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, sinh viên K50 Đại học sư
phạm Ngữ văn đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của thầy cô và
các bạn sinh viên để đề tài này hoàn thiện hơn. Sơn La, tháng 5/2013
Sinh viên

Vũ Thị Ngân

.

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4
4. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 4
5. GIỚI HẠN - PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
7. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 5
8. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 5
NỘI DUNG 6


1
MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, số lượng các nhà thơ nữ không
nhiều, và cũng không phải nữ thi sĩ nào cũng thành công. Tuy nhiên, Xuân
Quỳnh là một trường hợp đặc biệt. Chị có phong cách và bản sắc riêng khá rõ
nét, người ta chú ý nhiều đến cá tính mạnh mẽ của chị, chị trở thành một nữ sĩ
xuất sắc, thơ ca của chị chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn học
Việt Nam hiện đại. Trải qua năm tháng sống và viết, yêu thương và lao động
nghệ thuật hết mình, Xuân Quỳnh đã để lại cho đời một di sản văn học thật đáng
quý. Ngòi bút của chị đã được thử thách qua thời gian và nhiều loại chủ đề khác
nhau. Trong đó có những bài thơ tình yêu đã đạt tới đỉnh cao. Dù đi vào những
vấn đề lớn lao của đất nước hay trở về với những tình cảm riêng tư, bình dị
trong đời thường thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của một
tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, đầy nữ tính. Đọc những tác phẩm của
Xuân Quỳnh, chúng ta gần như hình dung được chị đã sống ra sao, đã yêu
thương day dứt những gì? Lấy sự chân thực làm điểm tựa cho cảm xúc sáng tạo,
các sáng tác của Xuân Quỳnh chính là đời sống của chị, là những tâm trạng của
chị trong mỗi bước vui buồn của đời sống.
Trên con đường hoạt động văn học nghệ thuật không dài lắm, với tư cách
người phụ nữ - người yêu - người vợ và người mẹ, sáng tác của Xuân Quỳnh đã
đi vào lòng bạn đọc nhiều thế hệ như là tiếng nói tiêu biểu của tình yêu và tình

trong thơ Xuân Quỳnh cũng luôn chân thành, đằm thắm và da diết. Chị đã yêu
với tất cả chiều sâu thăm thẳm của trái tim mình.
Nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh chưa nhiều song phần lớn các ý kiến đều
đánh giá khá cao thơ về thơ chị.
Lưu Khánh Thơ có viết: “Từ lúc xuất hiện cho đến khi vĩnh biệt cuộc đời,
quá trình sáng tác thơ của Xuân Quỳnh là một chặng đường đi lên không hề đứt
đoạn. Hồn thơ của chị ngày càng đa dạng và không ngừng được mở ra. Ngòi bút
của Xuân Quỳnh đã được thử thách qua thời gian, với nhiều loại chủ đề khác
nhau. Trong đó có những bài thơ tình yêu đã đạt đến đỉnh cao” [3, 9]. Chúng ta
có thể khẳng định Xuân Quỳnh là một nghệ sĩ đa tài. Sự nghiệp văn học của chị
được xây dựng trên nhiều lĩnh vực: thơ trữ tình, truyện ngắn viết cho thiếu
nhi ở mảng nào chị cũng gặt hái được nhiều thành công đáng kể nhưng khi
nhắc tới Xuân Quỳnh người ta thường biết đến chị như một nữ thi sĩ, một nhà
thơ của tình yêu mãnh liệt.
Lại Nguyên Ân thì cho rằng: “Xuân Quỳnh là hiện tượng rất quan trọng
của nền thơ chúng ta. Có lẽ là từ Hồ Xuân Hương, qua các chặng phát triển,
phải đến Xuân Quỳnh, nền thơ ấy mới thấy lại một nữ thi sĩ mà tài năng và sự
đa dạng của tâm hồn được thể hiện một tầm cỡ đáng kể như vậy, dồi dào phong
phú như vậy” [3, 259]. Xuân Quỳnh có một vị trí rất đặc biệt trong nền thơ ca
Việt Nam hiện đại.

3
Mai Quốc Liên đã có lần nhận xét: “Chị là người thiết tha với tình yêu, thiết
tha với người tình, một tâm hồn mãi mãi khao khát, mãi mãi thao thức vì tình yêu.
Chưa có ai đã biểu hiện sự thương yêu sâu xa, đằm thắm đến thế trong thơ tình
Việt Nam như chị” [10, 585 - 586]. Xuân Quỳnh khi yêu rất nồng nàn và rất thật.
Chị dám nói những lời yêu cháy bỏng, dám yêu và dám thổ lộ tất cả.
Năm 1991, Nguyễn Thị Minh Thái đã viết về Xuân Quỳnh như một “vai
kịch” trong “tấn trò đời thế gian” đang “săn đuổi, lùng bắt và kiếm được con
mồi hạnh phúc” [3, 114]. Điều đó đồng nghĩa với nhận xét: Xuân Quỳnh đang

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan niệm và những biểu hiện về hạnh
phúc trong thơ của Xuân Quỳnh.
4. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Tiếp xúc với cuộc đời và những trang sách của nhà thơ, đề tài nhằm thực hiện
nhiệm vụ: tìm hiểu về quan niệm và những biểu hiện về hạnh phúc của một con
người luôn khát khao hạnh phúc đến cháy bỏng – nữ sĩ Xuân Quỳnh.
5. GIỚI HẠN - PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Xuân Quỳnh sáng tác rất nhiều nhưng trong khuôn khổ của đề tài nghiên
cứu chúng tôi chỉ khảo sát những sáng tác viết về quan niệm và biểu hiện về
hạnh phúc trong thơ chị. Tập trung trong các tập thơ sau:
- Tơ tằm – Chồi biếc (in chung 1963)
- Hoa dọc chiến hào (1968)
- Gió Lào cát trắng (1974)
- Lời ru trên mặt đất (1978)
- Bầu trời trong quả trứng (1982)
- Tự hát (1984)
- Truyện thơ Lưu Nguyễn (1985)
- Hoa cỏ may (1989)
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Phương pháp này giúp chúng tôi nắm
rõ số lượng những bài thơ thể hiện vấn đề nghiên cứu trong tổng số những
sáng tác của Xuân Quỳnh nhằm đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan
về tác giả và đặc điểm sáng tác. Chúng tôi đã khảo sát và nhận thấy có 39 bài
thơ có nội dung liên quan đến quan niệm và những biểu hiện về hạnh phúc
trong thơ Xuân Quỳnh.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong đề tài này, chúng tôi tiến hành so
sánh quan niệm về hạnh phúc của Xuân Quỳnh với những quan niệm về hạnh
phúc của các tác giả khác cùng thời đại nhằm tìm hiểu điểm độc đáo, khác biệt
và khẳng định vị trí, những đóng góp của Xuân Quỳnh trong thơ ca Việt Nam

thỏa mãn về vật chất hay tinh thần (Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2009).
Những người hiểu biết đều quý trọng hạnh phúc. Họ quan niệm hạnh
phúc thực sự có được chủ yếu do các giá trị tinh thần, những cái thuộc về thế
giới tâm hồn của con người mang lại. Hạnh phúc là cảm giác yêu thương, là
niềm cảm thông, chia sẻ chân thành với người khác. Hạnh phúc không chỉ là sự
nhận lại mà quan trọng hơn là sự cho đi. Như vậy hạnh phúc là bền vững và gắn
liền với đạo đức.
Sự hiểu biết về hạnh phúc cho con người biết rèn luyện, trau dồi vốn sống,
biết phát huy năng lực tiềm ẩn của bản thân, biết hy sinh những khoái cảm trước
mắt, sự thỏa mãn nhất thời để phấn đấu cho hạnh phúc bền vững. Cao hơn, nó giúp
chúng ta biết sống tốt, sống đẹp, biết yêu thương loài người, biết trân trọng hạnh
phúc mình đang có và vun đắp niềm tin tưởng vào tương lai hạnh phúc.
1.1.2. Quan niệm về hạnh phúc của con người trong cuộc sống đời thường
Loài người chúng ta tồn tại trên cõi đời này không ngoài mục tiêu chính là
để tìm kiếm hạnh phúc. Tuy nhiên, khái niệm hạnh phúc cũng như bản chất và
giá trị của nó không hề đơn giản, không phải ai cũng nhận ra và thấu hiểu. Chính
vì vậy mỗi người, mỗi dân tộc sống trong những hoàn cảnh và thời gian khác
nhau sẽ có những quan niệm về hạnh phúc khác nhau.
Có những người quan niệm hạnh phúc là được làm những gì mình muốn.
Họ khao khát tự do thực hiện những hành động theo ý thức và cách thức riêng
của mình.
Có người cho rằng hạnh phúc là có thật nhiều tiền của, nhiều vàng bạc, lúa
thóc đầy kho; hạnh phúc là quyền lực, địa vị danh vọng…
Mặc dù không có một cuộc sống với vật chất đầy đủ, sung túc, nhóm người

7
sống nghèo khổ vẫn luôn cảm thấy mình hạnh phúc vì họ biết chia sẻ buồn vui,
đồng cảm với nhau, cùng nhau vượt qua sự khốn khó bằng sự cố gắng, nỗ lực,
bằng lòng yêu thương đồng loại mà không mảy may tính toán thiệt hơn.
Có người nghĩ hạnh phúc là có nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn, ruộng


8
Hạnh phúc là khi Người tìm ra ánh sáng lý tưởng cách mạng, tìm ra con đường
cho cả dân tộc khỏi kiếp lầm than, nô lệ, mang lại hạnh phúc, ấm no cho nhân
dân. Quan niệm hạnh phúc của Người thật vĩ đại.
Trong thời kỳ đất nước bị xâm lăng cả dân tộc ta quan niệm hạnh phúc là
tranh đấu, giành lại cuộc sống hòa bình yên ấm.
Ngày nay, chúng ta sống trong thời bình thì hạnh phúc là dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Như vậy, xuất phát từ những mục đích khác nhau mỗi cá nhân, mỗi
ngành nghề, mỗi thời đại có những quan niệm khác nhau về hạnh phúc.
Chúng ta cần có những quan niệm hạnh phúc đúng đắn, phù hợp và phấn đấu
để đạt được hạnh phúc đó. Và hãy trân trọng những gì chúng ta đang có, bởi
đó cũng là một niềm hạnh phúc.
1.1.3. Quan niệm về hạnh phúc của người nghệ sĩ trong văn học xưa
và nay
Nói đến nghệ sĩ là chúng ta nói đến những con người lao động, sáng tạo
trong lĩnh vực nghệ thuật, cụ thể ở đây là các nhà văn, nhà thơ.
Tác phẩm văn học phản ánh hiện thực cuộc sống qua cái nhìn của nhà văn,
nhà thơ. Nhà văn miêu tả con người, miêu tả nhân vật của mình trên cuộc hành
trình đi tìm hạnh phúc. Họ quan niệm về hạnh phúc như thế nào thì sẽ tạo nên
tác phẩm nhằm thể hiện hạnh phúc ấy, cũng như đáp ứng nhu cầu thưởng thức
nghệ thuật, nhu cầu đạt được hạnh phúc của độc giả.
Quan niệm hạnh phúc chi phối đến quá trình sáng tạo nghệ thuật, kết quả
thể hiện ở nội dung và hình thức của tác phẩm. Trong tiến trình phát triển của
văn học, mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, khuynh hướng, trường phái, thậm chí mỗi
nghệ sĩ có một quan niệm về hạnh phúc khác nhau. Tiếp xúc với tác phẩm, độc
giả có thể khám phá được những quan niệm hạnh phúc ấy.
Bộ phận văn học dân gian đã có những tác phẩm bộc lộ những mong muốn
của quần chúng nhân dân lao động. Phải chăng đó là niềm hạnh phúc của người

trời, thiên nhiên. Đó là niềm hạnh phúc.
Với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhân vật thông tuệ trong lịch sử thì
hạnh phúc chính là sự thoát tục, lánh xa chốn quan trường lắm ganh ghét, thị phi trở
về với cuộc sống thanh đạm quê nhà, tận hưởng những sản vật tự nhiên:
Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Nhàn)

10
Thời kỳ văn học trung đại, khi con người chưa chú ý nhiều đến cá nhân,
vận mệnh con người còn đặt trong vận mệnh của cả dân tộc, các sáng tác văn
thơ thể hiện niềm hạnh phúc của cả cộng đồng, của cả dân tộc. Bài thơ “Quốc
tộ” của Pháp Thuận đã thể hiện điều đó:
Vận nước như mây quấn,
Trời Nam mở thái bình.
Vô vi trên điện các,
Chốn chốn dứt đao binh.
(Bản dịch thơ của Đoàn Thăng)
Sang thời kỳ văn học hiện đại, quan niệm về hạnh phúc thay đổi rõ nét,
mang đậm dấu ấn tác giả. Nó chi phối mạnh mẽ đến nhiều phương diện của tác
phẩm, không chỉ ở mặt nội dung mà cả ở mặt hình thức: nhân vật, giọng điệu,
cấu trúc khiến người đọc có cái nhìn sâu rộng, phong phú hơn về quan niệm
hạnh phúc trong sáng tạo nghệ thuật. Khác với văn học thời kỳ trung đại quan
tâm đến hạnh phúc của cả cộng đồng, thời kỳ hiện đại đã đi sâu đến hạnh phúc
của từng cá nhân, từng mảnh đời.
Trong khuynh hướng văn học hiện thực: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng,
Nguyễn Công Hoan, Nam Cao… quan niệm về hạnh phúc rất thiết thực. Con
người hạnh phúc là khi thoát khỏi kiếp nô lệ, được sống ấm no, giữ gìn được

Chờ một tiếng để bừng lên hạnh phúc
Một tiếng thôi. Tiếng gì?
Mở miệng vàng, và hãy nói yêu tôi
Dù chỉ là trong một phút mà thôi.
(Mời yêu)
Nếu hạnh phúc là sự thỏa mãn những điều mình mong muốn và ao ước thì
chúng ta đều cảm nhận rõ: quan niệm hạnh phúc của nhà thơ Xuân Diệu là được
yêu, được đáp lại tình yêu cháy bỏng đang dâng lên trong trái tim thi sĩ. Chỉ
bằng một lời nói yêu mà có thể làm cho người đang khao khát yêu cảm thấy thỏa
mãn, hạnh phúc. Đấy là điều kỳ diệu của tình yêu.
Hạnh phúc vượt qua giới hạn của tình yêu đôi lứa, nâng lên thành một tình
yêu rộng lớn, bao la, cao thượng và vì vậy hạnh phúc cũng trở lên thiêng liêng
và cao quý:
Hạnh phúc là gì?
Bao lần ta lúng túng
Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi chưa ra

12
Cho đến ngày cất bước đi xa
Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt.
(Bài thơ về hạnh phúc – Bùi Minh Quốc)
Hạnh phúc là đấu tranh, chủ động đấu tranh để giành lấy hạnh phúc. Với
Bùi Minh Quốc, hạnh phúc là được đóng góp sức mình vào công cuộc kháng
chiến của dân tộc. Tình yêu không phải là hai người nhìn nhau mà là hai người
cùng nhìn về một hướng. Người ta sẽ không cảm nhận được tiếng gọi của tình
yêu mãnh liệt và ý nghĩa nếu không có tiếng gọi của Tổ quốc.
Hạnh phúc là tình yêu, nhưng tình yêu phải đi đến hôn nhân mới là trọn vẹn.
Hạnh phúc rất đơn sơ
Nhịp đời đi chậm rãi
Mái nhà yên bóng trưa

thành nên tư chất của một nhà thơ trong chị.
Xuân Quỳnh vốn là một người phụ nữ tài hoa, xinh đẹp. Chị là một người
mẹ, người vợ hết lòng vì gia đình, tình mẫu tử, tình phu thê đã nhập vào từng
dòng máu trong cơ thể chị. Với bạn bè và sự nghiệp chị là người có lòng nhiệt
tình, đam mê nên chị được đồng nghiệp hết sức quý mến.
Ngay từ lúc còn nhỏ, Xuân Quỳnh đã bộc lộ những năng khiếu văn nghệ
của mình. Năm 13 tuổi chị được tuyển vào Đoàn Văn công Nhân dân Trung
ương. Năm 1959, Xuân Quỳnh vinh dự được đi biểu diễn ở nước ngoài, dự đại
hội sinh viên thanh niên tại Viên (Thủ đô của nước Áo). Tới những năm (1962 -
1963), Xuân Quỳnh được đi học khóa I trường bồi dưỡng những người viết văn
trẻ tại Quảng Bá. Ở môi trường tập hợp nhiều tài năng và trí tuệ như Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu… đã tác động mạnh mẽ đến cuộc
đời và sự nghiệp của Xuân Quỳnh. Xuân Quỳnh học tập rất chăm chỉ, chịu khó,
kết quả cuối lớp học là tập thơ Tơ tằm, Chồi biếc của chị.
Học xong, Xuân Quỳnh về báo Văn nghệ thực tập một thời gian ngắn, chị
quyết định đi theo con đường văn nghiệp. Sau đó báo Phụ nữ Việt Nam đã nhận
chị về công tác, trong hoàn cảnh miền Bắc đang xảy ra chiến tranh phá hoại leo
thang của Mỹ, chị đã được cử đi thực tế tại các cơ sở. Với một tấm lòng nhiệt
tình, chị đã phục vụ đắc lực, luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao. Những năm
tháng Mỹ ném bom miền Bắc, Xuân Quỳnh theo cơ quan sơ tán với ý chí quyết
tâm cao phục vụ kháng chiến. Xuân Quỳnh đã từng đi dọc dãy Trường Sơn hòa
nhập với những đơn vị bộ đội. Đặc biệt ở vùng đất Quảng Trị - Vĩnh Linh, chị
đến với nhân dân ở đây bằng lòng nhiệt huyết. Người phụ nữ gan góc, dũng cảm
ấy không hề sợ chết, chị luôn luôn sẵng sàng cống hiến sức mình vì sự nghiệp
chung. Chị đã vượt qua bao nguy hiểm của vùng đất lửa để trở với hơi thở của
cuộc sống hào hùng.
Xuân Quỳnh kết hôn với Lưu Tuấn - một nhạc công nhân dân trung ương.
Song hạnh phúc gia đình không bền lâu, Xuân Quỳnh tự nhận thấy tình yêu của
Lưu Tuấn không đủ đáp ứng được sự tinh tế và nhạy cảm của mình. Mặc dù đã


cuộc đời, gắn với một giá trị nhân văn, vì hạnh phúc của con người. Trong cuộc
tìm kiếm ấy, nhà văn như một kẻ tử vì đạo, dũng cảm trong sự chống trả và đối
phó với mọi uy hiếp, đe dọa đến từ các hệ quyền lực và với cả sự không an toàn
của xã hội. Lao động của nhà văn tựa như một sự vắt kiệt mình, đi trong một
khát khao kiếm tìm chân lý, hướng tới lẽ phải và giảm nhẹ những đau khổ của
con người” [5, 327].

15
Văn nghiệp là một con đường không tránh khỏi khó khăn nhưng Xuân Quỳnh
vẫn tìm đến nó. Chính bản thân chị cũng đã từng nói tới nguyên nhân bắt đầu hoạt
động văn học của mình: “Thứ nhất là vì thích thú: làm văn học cảm thấy mình như
được sống thêm một cuộc đời khác nữa. Thứ hai là vì uất ức: khi mới vào nghề bị
xô đẩy, khinh rẻ nên tôi quyết phải sống. Mà sống tức là phải viết” [3, 263].
Xuân Quỳnh thực sự bước vào sự nghiệp văn chương khi chị được cử đi
học lớp đào tạo những người viết văn trẻ (1962 – 1963), tập thơ đầu: Tơ tằm –
Chồi biếc đã ra đời trong thời kỳ này. Đây là tập thơ đầu tay của chị, với tâm
trạng của một người mới vào nghề, chị ý thức mình là một phần tử nhỏ nhoi
trong dòng người vô tận. Đó là tập thơ thể hiện ý thức cao của chị đối với cuộc
sống này. Tập thơ ra đời đã được bạn đọc đón nhận sôi nổi. Ở thời điểm này chị
đã sáng tác: Thuyền và biển, tình yêu được thể hiện sâu sắc qua nỗi nhớ, sự chờ
đợi. Đặc biệt với bài thơ Sóng (đăng trên báo Văn Nghệ 1968), chị đã thực sự
cho bạn đọc thấy được một tâm hồn phụ nữ khát khao yêu thương.
Sau đó với những đóng góp của mình, chị đã được bầu vào Ban chấp hành
Hội nhà văn Việt Nam. Một số tác phẩm thơ của chị được dịch và in tại Liên
Xô, Cộng hòa dân chủ Đức, Pháp Khi nhắc tới thành công của chị trên bước
đường của sự nghiệp thơ văn là nhắc tới những tác phẩm thai nghén trong giai
đoạn của cuộc kháng chiến vĩ đại. Chị hòa chung nhịp sống của mình với thời đại,
trong hai năm (1969 – 1970), chị lăn lộn vào vùng đất lửa Quảng Bình hàng tháng
trời, đi đâu chị cũng có những sáng tác mới như: Gió Lào cát trắng, Hoa cỏ may,
Hoa dọc chiến hào,… tất cả đều thể hiện được khát khao của một nhà thơ đang

trong quả trứng được nhận giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội nhà văn Việt
Nam (1982 – 1983). Năm 2001 nhà thơ Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng
Nhà nước về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Gió Lào cát trắng (1974),
Hoa cỏ may (1989), Tự hát (1984).
Với những trang thơ giản dị, chân thành mà đằm thắm, sâu sắc như
những triết lý về cuộc sống Xuân Quỳnh đã lưu lại những ấn tượng đẹp trong
lòng bạn đọc.
Tiểu kết chương 1
Xuân Quỳnh đã xây dựng sự nghiệp văn thơ của mình với ý thức cao của
một thi sĩ. Chị và những cây bút trẻ cùng thời đã góp phần không nhỏ vào sự
thành công của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Cả cuộc đời, cả sự nghiệp của
Xuân Quỳnh đi qua và để lại những thành công nhất định. Tất cả những sóng
gió, những khó khăn, thử thách của cuộc đời đã tôi luyện nên một Xuân Quỳnh
thật bản lĩnh, thật cứng cỏi.
Con người sinh ra trên cõi đời ai cũng mong muốn được sống hạnh phúc.
Mỗi cá nhân có một quan niệm về hạnh phúc riêng tùy vào hoàn cảnh, mục đích
sống, trình độ, lứa tuổi…Quan niệm ấy chi phối, quy định hành động, lối sống
của họ. Để đạt được mục tiêu cuộc đời, người ta cần lựa chọn cho mình một
quan niệm về hạnh phúc phù hợp và đúng đắn.
Là một người phụ nữ như bao người phụ nữ đời thường khác, hơn nữa lại là một
nghệ sĩ tài năng, Xuân Quỳnh đã có những quan niệm và biểu hiện thật giản đơn mà sâu
sắc về hạnh phúc. Điều đó được thể hiện rất cụ thể trong các tập thơ của chị.

17
CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ HẠNH PHÚC
TRONG THƠ XUÂN QUỲNH

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra trên đất nước ta một thời kỳ
lịch sử mới: thời kỳ độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cùng với sự kiện
lịch sử ấy, nền văn học mới ra đời với một hệ thống quan niệm: quan niệm thẩm


18
không phải lo toan cơm, áo, gạo, tiền. Có người lại cho rằng bình yên là khi được
sống ở một miền quê yên tĩnh, thanh bình. Rộng lớn hơn, có người quan niệm
bình yên là khi được sống trong một đất nước hòa bình, tự do, không có chiến
tranh, loạn lạc…
Nói chung, bình yên là khi tất cả mọi thứ đều yên ổn, êm đềm, hòa bình, khi
mà lợi ích không bị xâm phạm và ngược lại bản thân không xâm phạm đến lợi ích
người khác.
Hạnh phúc mà Xuân Quỳnh mơ ước, khao khát không xa xôi, không cao
sang. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh nên Xuân
Quỳnh có một khát vọng cháy bỏng về sự bình yên mà trước hết đó là một cuộc
sống yên ổn, hòa bình.
2.1.1. Hạnh phúc là sự khao khát về một cuộc sống yên ổn, hòa bình
Khía cạnh đầu tiên trong quan niệm hạnh phúc của Xuân Quỳnh là
bình yên. Nhà thơ luôn khao khát một cuộc sống thật bình yên, hòa bình,
tự do cho mình, cho gia đình mình, cho mọi người và cho cả dân tộc. Đọc
thơ Xuân Quỳnh, ta như bắt gặp trong đó một tâm hồn gắn bó thiết tha với cuộc
sống. Chị yêu cuộc sống bởi lẽ nó đã mang đến cho chị những niềm vui và hy
vọng thậm chí cả những buồn đau, mất mát…khiến chị vững vàng hơn trên bước
đường đời, giúp chị tôi luyện được bản lĩnh của một người phụ nữ trong cuộc
đời đầy gian nan, lắm vất vả. Thời đại mà Xuân Quỳnh sống và cống hiến là thời
đại mà chị đã tìm thấy ở đó niềm cảm hứng về tổ quốc, về dân tộc. Chị đã hòa
mình vào cuộc sống đầy hào hứng và sôi nổi đó.
Khi chào đời Xuân Quỳnh đã phải sống trong cảnh chiến tranh, loạn lạc
giữa những năm tháng không bình yên của đất nước:
Thành phố lắm bụi than
Thành phố lắm bụi đường
Lắm súng đạn trong những ngày chiến đấu.
(Những năm ấy…)

Giặc phá hết không còn gì cả”
Chúng tôi sống không cần nhà cửa
Chỉ có tấm lòng và cây súng trong tay
…Dẫu chúng tôi chẳng còn lại gì đâu
Còn chúng tôi – chúng tôi còn tất cả.
(Làng)

20
Lời thơ là một quyết tâm cao độ thể hiện sức sống bền bỉ của những con
người đang đấu tranh vì cuộc sống ngày mai. Dù trong hoàn cảnh ác liệt nhất
nhưng con người trong thời đại đó luôn làm chủ mình, luôn đứng ở những tâm
thế của người chiến thắng.
Bình yên, độc lập tự do của Tổ quốc hay của mỗi cá nhân là một khát vọng
chân chính nhất:
Điều giản đơn thành nỗi khát vọng
Mà suốt đời còn là ước mơ.
(Những năm ấy)
Khát vọng về một cuộc sống yên ổn, hòa bình không có chiến tranh, loạn
lạc là một khát vọng chính đáng. Nó không chỉ là khát vọng mà còn là ước mơ
của chị cũng như tất cả mọi người. Trong rất nhiều bài thơ của mình, chị đã gửi
gắm khát vọng về cuộc sống thanh bình, về ước mơ và niềm khát vọng ấy:
Hoa rực rỡ vòng tay
Những người đi trên phố
Nắng òa về trước cửa
Chim hót cùng trời xanh.
(Mười bẩy tuổi)
Đó là ước về một cuộc sống thanh bình, yên ả.
Khi chiến tranh qua đi, họ lại cùng nhau dựng xây đất nước hay chính là
xây dựng nền móng của sự bình yên. Cuộc sống có những chuyển bước mình
mau lẹ cũng khiến chị dâng trào những cảm xúc thiết tha, hồ hởi:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status