Lễ cấp sắc và tang ma của người dao tuyển ở huyện bảo thắng tỉnh lào cai - Pdf 82

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
PHAN THỊ HẰNG LỄ CẤP SẮC VÀ TANG MA CỦA NGƢỜI DAO TUYỂN
Ở HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY TIẾN

thông tin ở nhiều xã trong huyện Bảo Thắng. Tác giả chân thành cảm ơn sự
giúp đỡ quý báu đó.
Cuối cùng, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn
thành luận văn.
Tác giả Phan Thị Hằng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

0
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 0
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ...................................................................... 3
3. Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu ........................................... 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................... 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 4
3.3. Mục đích nghiên cứu ........................................................................ 5
4. Phương pháp nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn ................................ 5
4.1. Phương pháp nghiên cứu .................................................................. 5
4.2. Nhiệm vụ của luận văn ..................................................................... 5
5. Nguồn tài liệu ......................................................................................... 5
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................ 6
7. Bố cục luận văn....................................................................................... 6
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI DAO TUYỂN Ở HUYỆN BẢO
THẮNG TỈNH LÀO CAI .......................................................... 7

3.3. Bảo tồn và phát huy những giá trị trong đời sống ............................. 119
KẾT LUẬN ............................................................................................... 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 127
Phụ lục ..................................................................................................... 131 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với một nền văn hóa đa dạng
trong thống nhất. Văn hóa là dòng chảy xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương
lai của một dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, mỗi
dân tộc đã tạo dựng cho mình một lâu đài văn hóa đồ sộ, một truyền thống
văn hóa riêng để phân biệt với các dân tộc khác. Những giá trị văn hóa đó tạo
nên bản sắc văn hóa tộc người, làm thành những chuẩn mực để phân biệt tộc
người này với tộc người kia. Nếu dân tộc nào để mất đi văn hóa truyền thống
của mình thì nó không còn là một cộng đồng tộc người riêng biệt nữa.
Dân tộc Dao là một trong số 54 dân tộc anh em đang sinh sống trên đất
nước Việt Nam. Trong các tộc người thiểu số ở nước ta, người Dao có dân số
khá đông, xếp vào hàng thứ 9 với khoảng 620.538 người [45, tr. 21], cư trú
phân tán ở nhiều địa phương chủ yếu ở các tỉnh vùng cao biên giới phía Bắc
như Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn… Người Dao có
nhiều nhóm ngành khác nhau lại cư trú trên địa bàn nhiều tỉnh nên đã tạo nên
những sắc thái văn hóa phong phú và đa dạng.
Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở phía Nam Trung Quốc di cư sang
nước ta theo nhiều đợt bằng đường bộ, đường sông và đường biển. Trong số 7
nhóm người Dao địa phương thì ở Lào Cai có 3 nhóm là: Dao Tuyển, Dao Đỏ
và Dao Nga Hoàng. Bảo Thắng là một trong hai huyện có người Dao Tuyển

nghiên cứu còn là nguồn tài liệu làm cơ sở cho các nhà quản lý có thể xây
dựng các chính sách phù hợp với chủ trương kế thừa và phát huy những mặt
tích cực trong lĩnh vực phong tục tập quán của người Dao Tuyển ở Bảo Thắng
nói riêng và của người Dao Tuyển cũng như của cả cộng đồng người Dao ở
Việt Nam nói chung.
Chính từ những lý do trên nên em chọn vấn đề “Lễ cấp sắc và tang ma
của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai” làm luận văn thạc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

3
sỹ của mình. Mục đích nhằm góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
của người Dao Tuyển ở Lào Cai nói riêng và của dân tộc Dao nói chung.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cho đến nay, nhiều vấn đề về người Dao ở nước ta đã được đề cập
trong nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu của không ít nhà khoa học, nhà
nghiên cứu.
Ngay dưới thời phong kiến, trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn
không chỉ đề cập đến nguồn gốc mà còn mô tả khái quát về cách ăn mặc và
cuộc sống di cư của một số nhóm người Man (Người Dao) ở nước ta.
Từ đầu thập kỷ 60 đến nay xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về người
Dao, trong đó đáng chú ý là công trình của Phan Hữu Dật và Hoàng Hoa Toàn
“Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam”. Các tác giả đã đề cập đến nhiều vấn
đề từ nguồn gốc lịch sử, dân số, kinh tế, văn hóa của các ngành Dao cũng như
của người Dao Tuyển. Tuy nhiên, trong đó chưa đề cập đến tục cấp sắc và
tang ma của người Dao Tuyển.
Trong cuốn “Người Dao ở Việt Nam” của các tác giả Bế Viết Đẳng,
Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến đã đề cập đến các vấn
đề như dân số, nguồn gốc lịch sử, phân loại các ngành Dao, các hình thái kinh
tế, phong tục, tôn giáo tín ngưỡng. Ở công trình nghiên cứu này, lần đầu tiên

3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào
Cai. Lễ tục cấp sắc và tang ma của người Dao Tuyển có nhiều vấn đề nhưng
do thời gian có hạn nên luận văn chỉ tập trung tìm hiểu một số vấn đề liên
quan đến lễ tục cấp sắc như: tên gọi, tiến trình, ý nghĩa lễ cấp sắc trong đời
người; Một số vấn đề liên quan đến lễ tục tang ma như: Quan niệm về hồn và
cái chết, lễ làm ma, lễ làm chay, những kiêng kỵ và để tang. Từ đó rút ra một
số giá trị tiêu biểu của tộc người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

5
3.3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm tìm hiểu sâu hơn về lễ tục
cấp sắc và tang ma của người Dao Tuyển ở Lào Cai, rút ra những giá trị tiêu
biểu. Từ đó làm cơ sở giúp các nhà quản lý hoạch định những biện pháp, chính
sách để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người Dao Tuyển ở huyện
Bảo Thắng nói riêng và của đồng bào dân tộc Dao ở tỉnh Lào Cai nói chung.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
4.1. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ vấn đề nghiên cứu, chúng tôi sử dụng trong luận văn các
phương pháp như: Phương pháp điền dã dân tộc học, phương pháp logic,
phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,…
4.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Tìm hiểu vài nét về người Dao Tuyển ở Bảo Thắng, Lào Cai như: tên
gọi, lịch sử cư trú, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội.
- Đi sâu tìm hiểu các lễ nghi liên quan đến lễ tục cấp sắc và tang ma
của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai.
- Nêu lên những quan niệm của người Dao Tuyển ở Bảo Thắng về vị trí, vai
trò của lễ tục cấp sắc và tang ma trong đời sống xã hội và tâm linh của họ.

7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, tài liệu tham khảo và kết luận, luận văn
được chia thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về ngƣời Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
Chương 2: Lễ cấp sắc và tang ma của ngƣời Dao Tuyển ở Bảo Thắng
Chương 3: Những giá trị trong lễ cấp sắc và tang ma của ngƣời Dao Tuyển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

7
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI DAO TUYỂN
Ở HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI
1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên huyện Bảo Thắng
Bảo Thắng là huyện biên giới cửa ngõ của tỉnh Lào Cai, phía Bắc giáp
huyện Hà Khẩu (Vân Nam - Trung Quốc) với đường biên giới dài 6,5 km,
phía Đông và Đông Bắc giáp giới với huyện Bắc Hà và Mường Khương, phía
Nam giáp huyện Bảo Yên và Văn Bàn, phía Tây giáp huyện Sa Pa và Tây Bắc
giáp thành phố Lào Cai.
Dưới thời Hùng Vương, Bảo Thắng thuộc đất Tây Âu của Thục Phán, thời
Bắc thuộc là châu Cam Đường quận Giao Chỉ, đến đời Lý thuộc Châu Đăng, đời
Trần thuộc Quy Hóa. Từ thời nhà Lê đến khi thực dân Pháp chiếm đóng (1428 -
1886), Bảo Thắng thuộc châu Thủy Vĩ, phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa.
Năm 1905 thực dân Pháp lấy phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên hữu ngạn
sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy tên là châu Thuỷ Vỹ. Từ đó địa
danh Chiêu Tấn không còn. Phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên tả ngạn sông Hồng
được tách ra lập thành châu Bảo Thắng, ổn định đến khi lập tỉnh Lào Cai (1907).
Khi đó châu Bảo Thắng có 11 xã, phố trại và 30 làng, bản, phố: Lào Cai, Phố Mới,

ngạn và tả ngạn. Khu vực hữu ngạn có nhiều suối lớn đều bắt nguồn từ dãy
núi Phan Xi Păng tạo thuận lợi cho giao thông đường thủy như ngòi Bo, ngòi
Nhù, suối Chát… Tổng nhiệt độ của Bảo Thắng trong một năm là 8.000
0
C,
nhiệt độ trung bình/năm từ 22
0
C đến 24
0
C. Lượng mưa toàn huyện thuộc loại
trung bình khoảng 1.600 mm - 1.800 mm.
Phần lớn đất đai của huyện Bảo Thắng là đất lâm nghiệp với 56.303 ha.
Đất nông nghiệp toàn huyện có khoảng hơn 8.600 ha, nhưng chỉ có hơn 3.000
ha trồng cây lương thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Số còn lại
phần lớn ở Bảo Thắng là đất ferarit màu đỏ, vàng hoặc vàng đỏ thuận lợi cho
việc trồng rừng, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả.
Huyện Bảo Thắng có nhiều tài nguyên khoáng sản quý. Mỏ Apatit với
trữ lượng lớn, hàm lượng cao, chạy dài hàng chục kilômét bên hữu ngạn sông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

9
Hồng thuộc các xã Cam Đường, Tả Phời, Hợp Thành… Apatit ở đây hầu như
nguyên chất, trỉa rộng không những là tài nguyên quý mà còn làm giàu cho
đất rất thuận tiện cho trồng trọt. Bảo Thắng còn có các mỏ cao lanh, mi ca, đất
sét trắng… Về lâm sản có các loại gỗ quý như lát, đinh, lim, sến… Đặc biệt
có khu công nghiệp Tằng Loỏng chuyên chế biến, sản xuất các chất hóa học
và phân bón phục vụ sản xuất công - nông nghiệp làm giàu cho tổ quốc, góp
phần thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của địa phương nói riêng và của tỉnh Lào Cai
nói chung.

trồng chè, mía, nhãn, vải, buôn bán hàng hoá và dịch vụ.
Là cửa ngõ biên cương của tổ quốc, từ ngàn xưa Bảo Thắng đã là vùng
đất cổ lịch sử. Trên vùng đất này, khảo cổ học đã tìm thấy dấu vết của văn
hóa Sơn Vi, nền văn hóa hậu kỳ đá cũ, cách ngày nay khoảng 30.000 - 11.000
năm. Ở Phú Nhuận, Xuân Giao đã tìm thấy những chiếc rìu đá có những vết
sứt, mẻ, mòn, vẹt, dấu hiệu của việc chặt, cắt của người xưa, dấu vết người
nguyên thủy thời đại đồ đá mới cách ngày nay khoảng 7000 - 8000 năm cũng
được tìm thấy ở Bảo Thắng. Qua các bộ sưu tầm về công cụ, ta có thể thấy
được rõ, vào thời kỳ này, các bộ lạc nguyên thủy ở đây đã có trình độ về kinh
tế và kỹ thuật tương đương với các vùng khác trên đất nước ta. Ở Phố Lu và
Phú Nhuận còn tìm thấy một số rìu đồng và mũi dao đồng. Các công cụ này là
loại hình công cụ đồng thau của văn hóa Đông Sơn thời các vua Hùng dựng
nước. Như vậy, cách ngày nay hàng vạn năm trên mảnh đất Bảo Thắng đã có
con người đến định cư sinh sống. Tính liên tục của các hiện vật khảo cổ càng
minh chứng địa bàn cư trú lâu đời (Từ hậu kỳ đá cũ đến thời đại Hùng Vương)
của con người chủ nhân vùng Bảo Thắng. Và khi nhà nước Văn Lang ra đời,
miền đất biên cương này đã trở thành một bộ phận của dân tộc Việt Nam
trong buổi đầu dựng nước. Bên cạnh đó còn có di tích lịch sử văn hóa và danh
thắng như: Bến Đền (Gia Phú) - nơi nghĩa quân Gia Phú phục kích nổ súng
bắn chết nhiều tên Pháp ngày 25/3/1886; đồn Phố Lu - nơi diễn ra cuộc chiến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

11
đấu quyết liệt suốt 5 ngày 6 đêm (từ 8/2/1950 - 13/2/1950) của bộ đội chủ lực
(trung đoàn 102) và quân dân địa phương mở đầu chiến dịch Lê Hồng Phong
màn 1… Những di tích lịch sử đó đã chứng tỏ nhân dân Bảo Thắng đã đóng vai
trò quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ cùng biên cương của tổ quốc.
Thời phong kiến, cư dân ở Bảo Thắng gồm nhiều dân tộc cư trú theo
từng bản, từng mường. Có các mường lớn như Mường Bo, Mường Cái…

thành một trung tâm kinh tế buôn bán, giao dịch khá sầm uất. Cư dân thành
thị tăng lên nhanh chóng. Sự thay đổi cơ cấu dân cư góp phần làm phát triển
nền kinh tế - xã hội ở Bảo Thắng.
Với quá trình phát triển và vị trí địa lý như trên, Bảo Thắng là nơi sinh
sống của nhiều dân tộc từ lâu đời trong đó có tộc người Dao Tuyển. Trong
quá trình sinh sống nơi đây họ đã tạo dựng được những nét văn hóa riêng biệt
mang đậm bản sắc dân tộc mình, phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng như
điều kiện xã hội của một huyện miền núi.
1.2. Ngƣời Dao Tuyển ở Bảo Thắng
1.2.1. Địa bàn cư trú và nguồn gốc lịch sử của người Dao Tuyển ở huyện
Bảo Thắng
Dao là tên gọi chính thức của cộng đồng Dao ở Việt Nam. Trước đây
mang nhiều tên gọi khác nhau như: Mán, Động, Trại, Xá,… Người Dao tự gọi
mình là Kềm Miền, Kìm Mùn hoặc Dìu Miền. Theo tiếng Dao thì Kềm hoặc
Kìm là rừng, còn Miền hoặc Mùn là người. Bởi vậy, Kềm Miền hay Kìm Mùn
có nghĩa là người của núi rừng. Hiện nay tộc người Dao ở nước ta được nhà
nước công nhận chính thức và được các nhà khoa học xếp vào nhóm ngôn
ngữ Hmông - Dao thuộc ngữ hệ Nam Á.
Dựa vào kết quả tổng điều tra dân số năm 1999 thì người Dao ở nước ta
có 620.538 nhân khẩu, chiếm 0,8% tổng dân số cả nước, đứng vào hàng thứ 9
trong bảng danh mục các tộc người ở Việt Nam. [45, tr.21]. Người Dao cư
trú tập trung ở 18 tỉnh như: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

13
Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lai Châu, Hòa Bình,
Sơn La, Phú Thọ, Bắc Giang, Thanh Hóa, Đắc Lắc, Đồng Nai, Hà Tây (nay
thuộc Hà Nội).
Người Dao ở Việt Nam thuộc về hai phương ngữ:

Bảo Thắng nói riêng qua hai tuyến:
- Tuyến thứ nhất: Vào cuối triều đại nhà Minh (thế kỷ XVII), người
Dao Làn Tiẻn từ Quảng Đông vào Móng Cái (Quảng Ninh) qua Lục Ngạn
sông Đuống đến vùng Yên Bái ngược sông Chảy lên Lào Cai.
- Tuyến thứ hai: Vào năm Mậu Thân đầu triều Thanh (1668), người
Dao Tuyển đến Vân Nam ở hai vùng Vân Sơn và Mông Tự. Năm Tân Dậu
triều Thanh (1801) người Dao từ Mông Tự đến Kiến Thủy, Hà Khẩu theo
sông Hồng vào châu Thủy Vĩ (Lào Cai) và châu Chiêu Tấn (Lai Châu).
Như vậy, đến đầu thế kỷ XIX người Dao Tuyển đã có mặt ở vùng sông Hồng
Lào Cai [37, tr.9 -10].
Tiếp đó trong các thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Dao Tuyển có một
số đợt thiên di đến vùng Tam Đường, Phong Thổ, Sìn Hồ (Lai Châu) và Bát
Xát (Lào Cai).
Nguyên nhân di cư của người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói
riêng là do sự đàn áp các phong trào khởi nghĩa người Dao của các triều đình
phong kiến Trung Quốc. “Sách “Tín ca thiên di” của người Dao Tuyển có ghi:
Triều Minh điều binh 16 vạn
Phân binh 4 đường, 12 nhánh
Đánh qua 26 ngày
Không rút động binh, tự rút binh…
Giết người, đốt nhà không để gì lại
Khắp trời, rợp đất đầy lửa khói
Quan phủ ra lệnh giết người Dao…
Giết chết người Dao hơn 5 vạn
Từ đây người Dao ly tán tứ phương” [37, tr.55]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

15
Nguyên nhân thứ hai là do thời đó Trung Quốc hạn hán, đất chật người

nương và sắn đem lại hiệu quả kinh tế cao. Với việc phát triển trồng quế,
trồng chè, cây ăn quả, người Dao Tuyển dần phá vỡ thế độc canh cấy lúa
nương, chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa. Nhờ đó
đời sống được nâng cao.
Bên cạnh đó, người Dao Tuyển ở Bảo Thắng còn tiến hành chăn nuôi.
Trước đây chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp, lấy sức kéo cho
nông nghiệp, lấy thực phẩm phục vụ cho các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng như
lễ cấp sắc, lễ làm chay, lễ cúng Bàn Vương… Ngày nay chăn nuôi còn để
đem bán và trao đổi hàng hóa. Họ chăn nuôi các loại con như: trâu, bò, dê,
ngựa, nuôi cá…
Nghề thủ công của người Dao Tuyển là nghề phụ mang tính chất thời
vụ nên các sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ nhu cầu trong gia đình. Người
Dao Tuyển ở Bảo Thắng đến nay vẫn có các nghề như: nghề dệt vải nhuộm
chàm. Người Dao Tuyển tiến hành nhuộm chàm vải sau khi dệt xong với
nhiều công đoạn khá phức tạp. Trước hết là ngâm chàm từ 3 đến 5 ngày trong
thùng gỗ, khi nhựa chàm đã tan hết vào nước ngâm mới vớt bã chàm ra rồi
hòa với bột, quấy đều. Trước khi cho vải vào nhuộm phải giặt vải qua nước lã
rồi mới nhúng vào thùng chàm ngâm 20 phút. Sau đó vớt ra để ráo nước rồi
ngâm nước lã từ 5 - 7 lần. Vải của người Dao Tuyển vừa đẹp vừa bền màu;
Nghề chạm bạc cũng khá nổi tiếng, các dân tộc khác nhau như Tày, Nùng,
Hmông thường đến mua đồ chạm bạc của người Dao Tuyển. Sản phẩm bạc
chủ yếu là đồ trang sức trong lễ cưới (người Dao Tuyển quan niệm sự giàu có,
giá trị của cô dâu thể hiện ở số trang sức bằng bạc), trong sinh hoạt của người
Dao Tuyển; Nghề mộc, đây là nghề quan trọng không thể thiếu, bởi nó phục
vụ cho công việc dựng nhà và làm đồ dùng sinh hoạt hàng ngày; Nghề làm
giấy dùng trong nghi lễ tôn giáo, viết sách; Nghề rèn đúc, đan lát…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

17


18
Mỗi làng có một vị thần cai quản gọi là Giăng man. Thần làng là người
có công khai phá làng, bảo hộ làng. Mỗi làng có một miếu thờ dựng ở đầu
hoặc giữa làng. Miếu thường được dựng ở gốc cây đa, cây si. Trong miếu
không chỉ thờ thần làng mà còn thờ thần nông phù hộ cho mùa màng tốt tươi
và thờ thần thổ địa.
Mỗi làng có một hệ thống luật tục bảo vệ nguồn nước, bảo vệ rừng, bảo
vệ mùa màng, chống trộm cướp… Hệ thống luật tục của làng hàng năm đều
được dân làng tự do dân chủ thảo luận, bàn bạc bổ sung. Luật tục trở thành
một công cụ quản lý làng của đồng bào Dao Tuyển. Ai vi phạm sẽ bị phạt. Ở
Bảo Thắng, luật tục của người Dao Tuyển quy định: ai chặt phá 5 cây non ở
rừng chung của làng bị phạt 5 đồng bạc trắng, chặt cây to bị phạt 10 đồng bạc
trắng, đốt rừng làm nương rẫy bị phạt 20 đồng bạc trắng [34, tr.24]. Luật tục
có tác dụng giữ vững an ninh của làng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và thực
sự trở thành công cụ quản lý các thành viên trong làng người Dao Tuyển.
b, Dòng họ
Người Dao Tuyển có 12 họ chính. Mỗi họ có nhiều dòng họ khác nhau.
Mỗi dòng họ của người Dao Tuyển có 6 tên đệm là Kim, Kinh, Diện, Đạo,
Huyền, Vân - đây là hệ thống tên đệm âm được đặt trong lễ cấp sắc. Mỗi dòng
họ có một ông trưởng họ là người con trưởng của ngành trưởng, có nhiệm vụ
chỉ đạo những công việc chung của dòng họ và giải quyết những xích mích
trong dòng họ. Trưởng họ cũng là người đại diện cho dòng họ giao tiếp, giao
dịch với các dòng họ khác. Sự thống nhất về mặt tín ngưỡng của dòng họ thể
hiện ở lễ giỗ tổ dòng họ. Giỗ tổ dòng họ để tưởng nhớ tổ tiên dòng họ, để ghi
tên âm các thành viên nam đã mất trong năm vào danh sách thờ cúng họ đồng
thời cũng là dịp để anh em trong dòng họ gặp nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên



20
Như vậy, nếu như làng là đơn vị liên kết các dòng họ và dòng họ là đơn
vị liên kết các gia đình nằm trong phạm vi của mình để bảo tồn, giám sát việc
thực hiện và duy trì các đặc trưng văn hóa cổ truyền của đồng bào thì gia đình
là nơi trực tiếp lưu giữ và thực hiện các đặc trưng văn hóa đó, đặc biệt là các
nghi lễ trong chu kỳ đời người. Gia đình người Dao Tuyển cũng là nơi trực
tiếp thể hiện và duy trì các thành tố khác của văn hóa dân tộc từ các món ăn,
cách trao truyền các nghề, tri thức dân gian cho đến việc duy trì những phong
tục tập quán truyền thống.
1.2.2.3. Đời sống văn hóa
a. Văn hóa vật chất
+ Ăn
Xưa kia do điều kiện kinh tế khó khăn, lương thực còn thiếu nên ngoài
gạo ra trong các bữa ăn hàng ngày người Dao Tuyển còn phải ăn ngô "mùng
may", đao "pang". Ngày nay do cuộc sống được nâng cao hơn nên họ ăn cơm
tẻ là chủ yếu. Ngoài các món lương thực, người dân ở đây còn thường xuyên
dùng các loại thực phẩm như: rau pang làm từ cây đao, củ đao được làm bột,
ngọn đao dùng làm rau nấu canh ăn rất ngọt. Tiếp đến lá rau đắng "pua" còn
gọi là mướp đắng rừng, chỉ dùng lá xào ăn mới không đắng, nếu nấu canh rất
đắng. Một loại rau thường dùng nhất đó là rau mét "tùng pan". Loại rau này
được trồng bằng hạt theo mùa vụ, dùng lá nấu canh hoặc xào ăn rất ngon.
Tiếp đến là rau mướp "cà đây" cũng dùng lá nấu canh. Đu đủ "cùng qua"
cũng là món mà người Dao Tuyển thường dùng để xào làm nguyên liệu cho
bữa ăn hàng ngày. Ngoài ra khi đi rừng họ còn tìm được hoa chuối rừng “cà
đíu" thái nhỏ ngâm nước nấu canh gà hoặc cá thì quả là tuyệt vời. Một loại
rau nữa có tên trong thực đơn hàng ngày của người Dao Tuyển là rau rớn
được dùng xào hoặc nấu canh cho bữa cơm.

Trích đoạn Lễ cấp sắc của người Dao Tuyển nghĩa của lễ cấp sắc Một số biến đổi ngày nay Quan niệm về hồn và cái chết Lễ tục tang ma
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status