Những phong tục nghi lễ vòng đời của người việt ở huyện tam nông, tỉnh phú thọ (truyền thống và biến đổi) (2017) - Pdf 58

T

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
*****

HOÀNG THỊ MỘNG NHƯ

NHỮNG PHONG TỤC NGHI LỄ VÒNG ĐỜI
CỦA NGƯỜI VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH
PHÚ THỌ (TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

PGS. TS. NGUYỄN DUY BÍNH

HÀ NỘI – 2017


LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp “Những phong tục nghi lễ vòng đời của người
việt ở huyện tam nông, tỉnh Phú Thọ (truyền thống và biến đổi)” được hoàn
thành dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo PGS. TS Nguyễn Duy Bính. Tôi xin
cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả trong luận án là trung thực. Các trích dẫn trong công trình đầy đủ và
chính xác. Nếu có gì sai phạm tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày , tháng , năm .
Sinh viên
Hoàng Thị Mộng Như

1.1.2 Địa hình ................................................................................................... 7
1.1.3 Khí hậu .................................................................................................... 9
1.1.4 Sông ngòi ................................................................................................. 9
1.2 Đặc điểm dân số và sự phân bố dân cư. ................................................ 10
1.3 Đặc điểm kinh tế..................................................................................... 10
1.4. Đặc điểm văn hóa- xã hội ...................................................................... 13
Chương 2 CÁC TẬP TỤC TRONG NGHI LỄ VÒNG ĐỜI TRUYỀN
THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG ........................... 17
2.1 Khái niệm “nghi lễ vòng đời” và các khái niệm liên quan.................. 17
2.2 Những nghi lễ truyền thống trong vòng đời của người Việt ở huyện
Tam Nông....................................................................................................... 20
2.2.1 Nghi lễ sinh đẻ....................................................................................... 20
2.2.3 Nghi lễ Hôn nhân.................................................................................. 28


2.2.4 Nghi lễ mừng thọ................................................................................... 36
2.2.5 Nghi lễ tang ma ..................................................................................... 38
Chương 3 XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ CÁC
NGHI LỄ VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG.... 65
3.1 Xu hướng biến đổi của các tập tục trong nghi lễ vòng đời của người
Việt ở huyện Tam Nông................................................................................ 65
3.1.1 Tập tục trong nghi lễ vòng đời của người Việt không phải bất biến mà
có nhiều biến đổi để phù hợp với cuộc sống hiện đại. ................................. 65
3.1.2 Giao thoa, tiếp biến với các giá trị văn hóa mới là xu hướng biến đổi
trong thời gian tiếp theo................................................................................. 67
3.1.3 Nguyên nhân của sự biến đổi............................................................... 68
3.2 Một vài nhận xét...................................................................................... 71
3.2.1 Các tập tục trong nghi lễ vòng đời phản ánh đời sống văn hóa- tâm
linh của cộng đồng người Việt ở Huyện Tam Nông vô cùng phong phú và
đa dạng............................................................................................................ 71

tục tập quán, tâm hồn, tình cảm của tộc người cần nghiên cứu, mà ở đây chúng
tôi đề cập đến là người Việt ở huyện Tam Nông.
Nghi lễ vòng đời người là môi trường khá bền vững trong việc bảo lưu
vốn văn hóa truyền thống. Bởi chính trong những tập tục của các nghi lễ ấy

1


chứa đựng mọi yếu tố của bản sắc văn hóa: từ không gian (chiều rộng) đến
thời gian

2


(chiều dài), từ văn hóa cá nhân đến văn hóa cộng đồng. Đặc biệt, nó chứa
đựng đời sống tâm linh, tâm hồn tình cảm của con người. Những tập tục được
thực hiện trong nghi lễ vòng đời như sợi dây vô hình xâu chuỗi, vừa gắn kết,
vừa trói buộc các cá nhân với cộng đồng, giữa thế giới những người đang
sống với những người đã khuất...Chính vì vậy, nghi lễ vòng đời người là môi
trường tốt nhất để bảo tồn bản sắc văn hóa của mỗi tộc người, đồng thời cũng
là mảng nghiên cứu quan trọng để hiểu văn hóa của một dân tộc [1, tr.13-14].
Kết quả nghiên cứu đề tài của khóa luận có thể là cơ sở khách quan cho
các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lí văn hóa có được những thông tin
hữu ích trong việc hoạch định chính sách để bảo tồn những giá trị văn hóa, mà
ở đây là văn hóa của người Việt ở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Đồng thời
cũng là một trong những cơ sở để Đảng, Chính phủ có được các chính sách
phù hợp trong công tác xây dựng, đoàn kết cộng đồng người Việt với các dân
tộc khác trên địa bàn huyện Tam Nông nói riêng và trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
nói chung.
Xuất thân là một người học tập và nghiên cứu lịch sử, với niềm đam mê

đã nêu sao cho phù hợp với chủ trương, đường lối chính sách của Đảng.
Các tập tục, nghi lễ trong sinh con, tục cưới hỏi, ma chay của một số
dân tộc (dân tộc Dao, Tày, Thái, Gialai, Ba na,...) trong đó bao gồm cả người
Việt được đề cập đến trong tác phẩm Lễ tục vòng đời của tác giả Phạm Minh
Thảo xuất bản năm 2000.
Tác giả Nguyễn Quang Khải với tác phẩm Tập tục và kiêng kị, xuất
bản năm 2001 đã tập hợp những điều kiêng kị tiêu biểu theo phong tục dân
gian Việt Nam bao gồm: các tập tục kiêng kị trong hôn nhân gia đình truyền
thống, trong đời sống và kiêng kị tuổi qua 12 con giáp.
Tác giả Trương Thìn với Nghi lễ vòng đời người xuất bản năm 2010 đã
phác họa một bức tranh tương đối đầy đủ về những nghi lễ vòng đời của
người Việt.
Trong Những điều cần biết về nghi lễ hôn nhân người Việt, xuất bản
năm
2010, tác giả Trương Thìn đã nêu lên những lễ nghi cơ bản trong phong tục
cưới hỏi truyền thống cũng như hiện đại.
Các công trình nghiên cứu về huyện Tam Nông như:


Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Tam Nông (1947- 2012) xuất bản năm
2012 đã nêu bật được chặng đường lịch sử kháng chiến chống Pháp, đế quốc
Mĩ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hơn
25 năm chặng đường thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và
lãnh đạo. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện Tam Nông, quân và
dân Tam Nông đã lập được nhiều thành tích vẻ vang, ghi những mốc son chói
sáng vào trang sử truyền thống của huyện. Cuốn sách cũng đề cập đến những
chính sách, chỉ đạo của Đảng bộ huyện đối với sự phát triển văn hóa- xã hội
của huyện.
Bùi Thị Hưng (2014), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử chuyên đề: Đảng bộ
huyện Tam Nông (tỉnh Phú Thọ) lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa từ

phương pháp lịch sử.
Sử dụng phương pháp biện chứng, tác giả đặt đối tượng nghiên cứu là hệ
thống các tập tục trong nghi lễ vòng đời của người Việt ở huyện Tam Nông
với các dân tộc khác trong huyện và với các vùng khác ở Việt Nam.
Sử dụng phương pháp lịch sử, tác giả đặt đối tượng nghiên cứu trong
không gian (địa bàn huyện Tam Nông), thời gian (từ xưa đến nay).
Sử dụng phương pháp lôgic, giúp tác giả hiểu được quy luật nội tại của đối
tượng nghiên cứu; thấy được quy luật phát triển khách quan của đối tượng.
Thứ hai, tác giả sử dụng phương pháp cụ thể gồm: Sưu tầm các tư liệu
liên quan như tư liệu thành văn, tư liệu hiện vật, tư liệu khảo cổ, tư liệu văn
hóa dân gian; đính chính tư liệu; phỏng vấn; điền giã (tham dự các đám cưới,
đám hỏi, đám tang,...)
5. Nguồn tư liệu.
Đề tài nghiên cứu về các nghi lễ vòng đời – thuộc phạm trù tín ngưỡng,
văn hóa, đời sống tâm linh nên tư liệu có được chủ yếu là các bức ảnh về hôn
lễ, đầy tháng, tang ma... được chụp lại trong quá trình nghiên cứu của tác giả.


Các tư liệu truyền miệng rất phong phú, đa dạng, chính xác và khách quan.
Các nguồn tư liệu khác: tạp chí, các công trình nghiên cứu liên quan
đến
vấn đề, tài liệu internet…
6. Đóng góp của đề tài.
Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài, giúp tác giả có cái nhìn sâu sắc
hơn về nền văn hóa bản địa. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những đặc điểm, vai
trò và nêu lên xu hướng biến đổi của các tập tục trong hệ thống nghi lễ vòng
đời của cộng đồng người Việt tại huyện Tam Nông.
Khóa luận là nguồn tư liệu hữu ích cho những ai quan tâm nghiên cứu
nền
văn hóa đất tổ.

Tày, Thái, Mường, Hoa, Nùng, H.Mông, Dao, Sán Chung, Co Ho, Thổ, Tà
Ôi, La Chí, Lô Lô), trong đó dân tộc Kinh 74.958 người, các dân tộc khác 511
người (theo số liệu thống kê năm 2009). Đảng bộ huyện có 42 cơ sở đảng với
5.624 đảng viên (tính đến tháng 12/2012) [11].
Huyện Tam Nông là cửa ngõ phía Tây của Hà Nội, nối liền với các tỉnh
phía tây bắc của Tổ quốc [11].
1.1.2 Địa hình
Nhìn tổng thể địa hình của huyện Tam Nông phần lớn là đồi núi thấp,
xen kẽ có các dộc ruộng, đột xuất có các núi cao như núi Chi, đèo Khế phía
tây nam và một số đầm nước. Dựa vào điều kiện địa lý có thể chia đất đai của
huyện thành các vùng như sau:


Vùng đất thấp nằm dọc theo sông Hồng gồm những cánh đồng có chiều
ngang hẹp, tạo thành một vệt dài theo bờ sông từ xã Hồng Đà đến các xã
Thượng Nông, Hương Nộn, Cổ Tiết, Tam Cường, Thanh Uyên, Hiền Quan,
Vực Trường, Hương Nha, Tứ Mỹ và dọc theo sông Bứa gồm các xã Hùng Đô,
Quang Húc, Tề Lễ. Các cánh đồng trên hầu hết là do phù sa sông Hồng, sông
Bứa được bồi tụ qua nhiều năm trước khi có đê chắn, tạo thành lớp đất tương
đối màu mỡ, thuận lợi cho cây lúa, hoa màu và cây lương thực.
Vùng đồi núi được chia thành hai khu vực: vùng đồi núi thấp và vùng đồi
núi cao. Vùng đồi núi thấp nằm ở phía tây bắc huyện có đỉnh tròn mấp mô
như làn sóng nối tiếp nhau thuộc các xã: Cổ Tiết, Văn Lương, Thanh Uyên,
Hiền Quan, Hương Nha, Tứ Mỹ, Xuân Quang, Phương Thịnh, Quang Húc.
Vùng đồi núi cao nằm ở phía tây nam huyện thuộc địa bàn các xã Dị Nậu,
Thọ Văn, Tề Lễ bao gồm nhiều gò núi nhấp nhô, có những điểm đột xuất như
núi Chi (cao 216 m), Đèo Khế (117 m) và các quả đồi chạy dọc theo dãy núi
Càng Cua từ đầm Dị Nậu qua đường 24 đến Dộc Vừng.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 15.596,92 ha. Trong đó: diện tích
đất nông nghiệp là 11.315,24 ha, chiếm 72,55%; đất phi nông nghiệp là

Sông Hồng chảy qua địa bàn huyện bắt đầu từ xã Tứ Mỹ rồi nhập vào
sông Đà ở xã Hồng Đà theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, tạo thành một vòng
cung, dài trên 32km. Sông Hồng là con sông có độ phù sa vào loại lớn nhất
3

Bắc bộ, có tới 7,660kg/m nước. Hằng năm, sau mùa mưa lũ, nước rút đi để
lại trên đồng ruộng một lớp phù sa màu mỡ dày từ 10- 15cm, thuận lợi cho
viêc trồng cây lương thực và hoa màu.
Sông Đà chảy qua địa bàn huyện Tam Nông chỉ là điểm hợp lưu của sông
Đà và sông Hồng nhưng lưu lượng trung bình của sông Đà rất lớn, tới
3

1.760m /s gấp 2 lần sông Thao, gấp 10 lần sông Lô [18, tr.31- 35].


Ngoài hai con sông trên, huyện Tam Nông còn được thiên nhiên ban tặng
con sông Bứa bắt nguồn từ Sơn La. Con sông này hầu như nằm hoàn toàn
trong tỉnh Phú Thọ, chảy qua các xã như Tề Lễ, Quang Húc, Hùng Đô đến Tứ
3

Mỹ đổ vào sông Thao. Sông Bứa có ít phù sa (khoảng 1,1kg/m ) chủ yếu là
cung cấp nước tưới cho trồng trọt và giao thông vận chuyển hàng hóa trên
sông.
Bên cạnh hệ thống các con sông, huyện Tam Nông còn có rất nhiều ngòi
lớn nhỏ thuộc phụ lưu các con sông cùng một số hồ, đầm thiên tạo phong phú,
nằm rải rác ở một số địa phương trong huyện như đầm Thượng Nông, đầm Dị
Nậu, đầm Phú Cường có diện tích trung bình từ 15 đến 100 ha mặt nước.
Với hệ thống sông ngòi và đầm hồ phong phú, có trữ lượng tương đối lớn
là điều kiện thuận lợi cho Tam Nông có nguồn tài nguyên nước dồi dào, phục
vụ đời sống và vận chuyển hàng hóa, nuôi trồng thủy sản nước ngọt và phát

theo ven sông Hồng, sông Bứa và trên các đồi như ngô, khoai lang, sắn, lạc,
đỗ, mía,...
Tam Nông có khá nhiều rừng, trong rừng có nhiều lâm thổ sản quý như
đinh lim, sến, táu, vàng tâm, sồi, dẻ; các loại thảo dược và nhiều động vật
hiếm như hươu, nai, lợn rừng, trăn,...
Đất đai vùng đồi chủ yếu là đất Feralit vàng và đỏ, rất thích hợp trồng các
loại cây công nghiệp như trẩu, sở,... Đặc biệt là cây sơn, một loại cây công
nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Có thời kỳ, sơn của Tam Nông đã được
xuất khẩu sang Trung Quốc, Nhật Bản. Tuy nhiên do việc trồng, chăm sóc
và thu hoạch nhựa sơn tương đối công phu, yêu cầu quy trình kỹ thuật chặt chẽ
nên ít người bỏ vốn kinh doanh. Bên cạnh cây sơn, cây cọ, cây chè, cây cà phê
cũng là những sản phẩm tiêu biểu của Tam Nông. Trước đây, Tam Nông có
những khu rừng cọ rộng hàng chục héc-ta. Sản phẩm chính của cây cọ là lá
dùng để làm nhà khi chưa có các loại vật liệu khác thay thế. Cây chè ở tỉnh
Phú Thọ nói


chung và huyện Tam Nông nói riêng rất phát triển [xem phụ lục 2]. Thời
thuộc Pháp, chè búp tươi của các địa phương thuộc huyện Tam Nông cũng
như tỉnh Phú Thọ được người Pháp mua và chế biến, sau đó đem bán khắp
Đông Dương và sang cả nước Pháp. Sau này, người Hoa Kiều cũng mua.
Ngoài ra ở một số địa phương còn trồng các loại cây lấy dâù như trẩu, sở,
dọc, trám. Dầu sở rất có giá trị nên thời thuộc Pháp, khi khai thác chúng đã
đem về nước và chế biến thành một thứ dầu “sà lách” (dầu trộn rau sống) có
màu vàng, ăn rất ngon, thường dùng trong các bữa tiệc. Nhiều loại cây ăn quả
cũng được trồng nhiều trong vườn nhà như mít, cam, chanh, dứa, vải, chuối,...
Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi trong vùng cũng khá phát triển. Năm
2007, lĩnh vực chăn nuôi chiếm tỷ trọng 33,2%. Trong đó: chăn nuôi gia súc
chiếm tỷ trọng 59%, chăn nuôi gia cầm chiếm 16% và sản phẩm chăn nuôi
khác chiếm 14%. Chủ yếu là chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, dê,... Sản xuất chăn

, hát ghẹo

(2)

, hát ví giao duyên,

tục ngữ, ca dao về kinh nghiệm lao động sản xuất,... vẫn tồn tại và ngày càng
được phát huy. Đặc biệt ở Tam Nông còn lưu truyền nhiều câu chuyện đặc sắc,
tiêu biểu là truyện cười Văn Lang (xã Văn Lương ngày nay) mang tên quốc
gia thời dựng nước. Những câu chuyện vừa ca ngợi tinh thần hăng say lao
động của nhân dân vừa đả kích, châm biếm nhẹ nhàng nhưng sâu cay đối với
tầng lớp thống trị, cường hào trong làng đồng thời góp phần phê phán những
thói hư, tật xấu của con người, thể hiện
khát vọng về một đời sống đầy đủ, tốt đẹp như: “Sắn qua đường 24”, “Xôi
dẻo”, “Cây rau dền”, “Ba vạ”,... Bên cạnh đó, vùng đất Tam Nông còn bảo tồn
và lưu giữ được nhiều loại hình vă hóa dân gian khác mang đặc trưng từng địa
phương
như tục chạy lợn, cướp cờ (Cổ Tiết), cầu trâu (Hương Nha), diễn xướng cày
bừa
1

Hát Xoan còn được gọi là Khúc môn đình (hát cửa đình), là lối hát thờ thần, tương truyền có từ thời các vua
Hùng. Thuở xa xưa, người Văn Lang tổ chức các cuộc hát Xoan vào mùa xuân để đón chào năm mới. Có 3
hình thức hát xoan: hát thờ cúng các vua Hùng và Thành hoàng làng; hát nghi lễ cầu mùa tốt tươi, cầu sức
khỏe; và hát lễ hội là hình thức để nam nữ giao duyên. Ca nhạc của Xoan là ca nhạc biểu diễn với đầy đủ các
dạng thức nhạc hát: hát nói, hát ngâm, ngâm thơ và ca khúc; có đồng ca nữ, đồng ca nam, tốp ca, đối ca, hát
đa thanh, hát đuổi, hát đan xen, hát có lĩnh xướng và hát đối đáp.Trong hát Xoan, múa và hát luôn đi cùng và
kết hợp với nhau, dùng điệu múa minh họa nội dung cho lời ca
2
Hát ghẹo là hình thức hát nước nghĩa trong dịp hội làng của người Việt và người Mường hay còn gọi là hát

Việt Bắc chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã dừng
chân ở lại một số ngày [Xem Phụ lục 4]; cột cờ Hưng Hóa thị trấn Hưng Hóa
[Xem phụ lục 5-6]. Về di tích kiến trúc nghệ thuật cổ có đền Thượng (xã
Hương Nha); chùa Vực Trường (xã Vực Trường); đình, chùa Quang Húc (xã
Quang Húc), đình Cổ Tiết [Xem phụ lục 7]... Năm 1992 đình Quang Húc
được Bộ Văn hóa- Thông tin quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa
[Xem phụ lục 8]. Hàng năm vào dịp lễ, dân làng mở hội tưng bừng, nhiều trò
3

Hội phết Hiền Quan được tổ chức vào ngày 13 tháng Giêng hàng năm là trò diễn lại sự tích lịch sử của nữ
tướng Thiều Hoa, một tướng giỏi dưới thỏi Hai Bà Trưng. Vào ngày hội, tại sân đình Hiền Quan, trước đông
đảo người dự lễ. Sau khi Chủ tế đọc tiểu sử và công lao của Bà Thiều Hoa thì tiến hành rước quả phết được
làm bằng củ tre. Các đấu thủ được chia làm hai tốp. Trên sân giữa hai tốp đào một cái hố sâu 60- 70cm và thả
quả phết vào đó. Các đấu thủ cầm rùi phết thi nhau moi quả phết lên. Mọi người xung quanh hố hò reo cổ vũ,
ai giành được phết đem về thì năm đó có nhiều may mắn.


chơi dân gian diễn ra và đình Quang Húc trở thành trung tâm sinh hoạt
văn
hóa của nhân dân vùng lưu vực sông Bứa [18, tr.23- 28].
Nơi đây còn khá nhiều ngôi Đình, Đền, Chùa, Miếu… thờ Đức Thánh Tổ
Hùng Vương cùng các Bộ tướng của ngài. Bên cạnh đó ở Tam Nông cũng tồn
tại rất nhiều truyền thuyết, sự tích và những lễ hội cổ truyền mang đậm yếu
tố văn hóa cổ xưa. Các làng xã ở đây còn là nơi in dấu ấn lịch sử của cuộc
khởi nghĩa Hai Bà Trưng, cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế, rồi phong trào Cần
Vương do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo…
Cùng tồn tại với nền văn hóa vật chất và văn hóa dân gian đặc sắc, vùng
đất Tam Nông còn bảo lưu được rất nhiều truyền thuyết, huyền thoại về thuở
bình minh của đất nước và khởi nguồn dân tộc. Những câu chuyện “Tản Viên
Sơn Thánh” (Sơn Tinh), hay Cao Sơn, Qúy Minh, thần núi, thần sông, thần

Nguyễn Quang Bích thị trấn Hưng Hoá [20].
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tam Nông là huyện thuộc vùng trung du miền núi. Địa hình của huyện
thể hiện những nét đặc trưng của một vùng bán sơn địa. Với diện tích đất
đai, tài nguyên, cho phép huyện có khả năng phát triển nông nghiệp đa
dạng, phong phú, có khả năng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng
đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi. Mặt khác, xuất phát từ tiềm năng đất
đai và tài nguyên, cùng hệ thống giao thông thuận lợi, huyện Tam Nông có
nhiều lợi thế phát triển sản xuất công nghiệp và dịch vụ thương mại. Những
năm qua, kinh tế của huyện đã từng bước phát triển trên nhiều lĩnh vực như:
sản xuất lương thực, thuỷ sản, chăn nuôi bò thịt, phát triển vùng nguyên
liệu giấy, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất hàng sơn mài, mây tre đan,
nghề mộc gia dụng..., cơ sở hạ tầng khu công nghiệp đã được hình thành
và đầu tư phục vụ phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp.
Mỗi thời kỳ lịch sử đều để lại cho huyện Tam Nông những di sản văn hóa
có giá trị, nhiều di tích cấp Quốc gia và cấp tỉnh. Tam Nông ngày nay vẫn còn
lưu tích nhiều dấu ấn cội nguồn dân tộc.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status