Đổi mới công tác đấu thầu xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện tam nông, tỉnh phú thọ - Pdf 15

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BMT : Bên mời thầu
CĐT : Chủ đầu tư
CP : Chính phủ
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
GTNT : Giao thông nông thôn
UBND : Ủy ban nhân dân
WB : Ngân hàng thế giới
XDCB : Xây dựng cơ bản
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
ii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư có vai trò đặc biệt trong nền kinh tế, nó có ảnh hưởng lớn đến
tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế thông qua việc đầu tư cải thiện hệ
thống kết cấu hạ tầng cơ sở, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết
các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội khác của đất nước. Nền kinh tế phát
triển theo hướng càng năng động, qui mô ngày càng mở rộng, sức cạnh tranh
cao càng phụ thuộc vào tính năng động, hiệu quả của chính sách quản lý hoạt
động đầu tư và một trong những hoạt động đó là đấu thầu. Tuy hình thức đấu
thầu mới du nhập vào Việt Nam trong những năm gần đây nhưng nó đã trở
thành một công cụ quản lý cực kỳ quan trọng trong hoạt động đầu tư. Trong
những năm qua, đấu thầu ngày càng được đặc biệt quan tâm với việc ban
hành cơ chế, chính sách, pháp luật về đấu thầu. Tuy nhiên, trong hoạt động
đấu thầu vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải tháo gỡ. Do thiếu kinh nghiệm
và hiểu biết về quy chế đấu thầu của các chủ đầu tư đã dẫn đến tình trạng
không thực hiện đúng những quy định của Nhà nước về đấu thầu. Bên cạnh
đó, hệ thống các văn bản pháp quy của chúng ta còn rất nhiều bất cập, chồng
chéo, chưa thật sự công khai, minh bạch. Từ đó, đưa đến hậu quả là gây thất
thoát, lãng phí vốn của Nhà nước, của nhân dân; kìm hãm sự phát triển của

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động trong công tác đấu thầu XDCB trên địa bàn huyện
Tam Nông.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng và kết quả đấu thầu từ năm 2008
đến năm 2012, khuyến nghị giải pháp cho giai đoạn từ nay đến 2020.
- Về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Tam Nông,
tỉnh Phú Thọ.
2
- Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong công
tác đấu thầu xây dựng cơ bản.
4. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của luận văn
Từ việc phân tích quá trình vận dụng những chính sách, quy định về
đấu thầu trên địa bàn huyện Tam Nông, luận văn chỉ ra những bất cập trong
quản lý đấu thầu hiện nay, những vấn đề cần giải quyết; góp phần làm rõ hơn
cơ sở thực tiễn, khoa học về đấu thầu.Những đóng góp mới về khoa học của
luận văn
Trên cơ sở phân tích đánh giá khách quan những thành tựu đạt được,
phát hiện những tồn tại và hạn chế trong công tác đấu thầu xây dựng cơ bản
trên địa bàn huyện Tam Nông, luận văn góp phần làm rõ những bất cập giữa
chính sách và thực tiễn trong công tác đấu thầu hiện nay ở nước ta. Từ đó gợi
ý những giải pháp khắc phục cho huyện Tam Nông.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung và kinh nghiệm về đấu thầu xây dựng.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng công tác đấu thầu ở huyện Tam Nông, tỉnh Phú
Thọ từ 2008 - 2012.
Chương 4: Một số giải pháp đổi mới công tác đấu thầu ở huyện Tam

Theo Luật đấu thầu thì đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng
các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án theo quy
định của Luật Đấu thầu trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh
bạch và hiệu quả kinh tế.
Đứng trên góc độ nhà thầu, đấu thầu là một phương thức canh tranh
công khai giữa các nhà thầu(bên bán) trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ,
đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật, chất lượng và tiến độ
mời thầu.
Trên góc độ chủ đầu tư, đấu thầu là một quá trình chọn nhà thầu có khả
năng đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu về chất lượng, chi phí, tiến độ.
Trên góc độ Nhà nước, đấu thầu là một cách thức quản lý các hoạt
động kinh doanh, mua sắm hàng hóa, dịch vụ và thực hiện các hoạt động xây
dựng thông qua cạnh tranh công khai tuyển chọn nhà thầu có đủ năng lực và
khả năng thực hiện một cách tốt nhất các yêu cầu đã đặt ra cảu bên mời thầu.
Mục đích của công tác đấu thầu đảm bảo sự cạnh tranh công khai, lành
mạnh và bình đẳng giữa các nhà thầu nhằm tạo cơ hội nhận hợp đồng trên cơ
sở đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư trong hồ sơ mời thầu.
Giữa ”đấu thầu” và ”đấu giá” có sự khác nhau mà đôi lúc người ta
nhầm lẫn giữa hai khái niệm này. Xét trên giác độ quan hệ mua bán của chủ
thể, đấu thầu là hoạt động mua, đấu giá là hoạt động bán. Trong đấu thầu
bên chủ động tổ chức cuộc thầu là người mua hàng hóa dịch vụ, công trình
từ các nhà thầu. Bên mời thầu chủ động tổ chức hoạt động đấu thầu nhằm
mua được hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt nhất, giá cả hợp lý nhất, đảm
bảo yêu cầu kỹ thuật, chất lượng và tiến độ đề ra. Trong đấu giá, bên chủ
động tổ chức phiên đấu giá nhằm bán được hàng hóa, dịch vụ của mình với
giá cao nhất có thể.
Các khái niệm liên quan:
- Dự án: Là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ
công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian
nhất định dựa trên nguồn vốn xác định.

sau đó hoàn thiện hơn, đi sâu vào các lĩnh vực kinh doanh khác của đời sống
xã hội. Thực chất đầu thầu có phạm vi rộng hơn, bao trùm hơn. Để hoàn thiện
khái niệm về đấu thầu, người ta đưa ra các khái niệm theo lĩnh vực mua sắm:
“đấu thầu hàng hóa”; “đấu thầu xây dựng”; “đấu thầu tuyển chọn tư vấn”.
Tóm lại, qua phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về đấu thầu như
sau: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu, đáp ứng các yêu cầu của bên
mời thầu, có giá đặt thầu thấp hơn hoặc bằng giá trần của gói thầu và thấp hơn
trong các nhà thầu tham dự thầu”
2.2. Vai trò của đấu thầu đối với phát triển kinh tế - xã hội
Là một công cụ quan trọng giúp các Chính phủ quản lý chi tiêu, sử
dụng các nguồn vốn của Nhà nước có hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí.
Đó là những khoản tiền được chi dùng cho đầu tư phát triển có sự tham gia
của các tổ chức nhà nước, DNNN ở một mức độ nào đó, cũng như cho mục
tiêu duy trì các hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Cùng với pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, pháp luật về
tham phòng- chống tham nhũng tạo thành công cụ hữu hiệu để chống lại các
hành vi gian lận, tham nhũng và lãng phí trong việc chi tiêu các nguồn tiền
của Nhà nước, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội nhờ thực hiện
các hoạt động mua sắm công theo đúng luật pháp của Nhà nước.
Việc chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước thông qua đấu thầu sẽ giúp
các cơ quan quan lý có điều kiện xem xét, quản lý và đánh giá một cách minh
bạch các khoản chi tiêu do quá trình đấu thầu phải tuân thủ các quy trình chặt
chẽ với sự tham gia của nhiều bên. Là một công cụ quan trọng của kinh tế thị
trường, giúp người mua (BMT) và người bán (nhà thầu) gặp nhau thông qua
cạnh tranh.
Thúc đẩy phát triển các ngành theo hướng chuyên môn hoá sâu và hợp
tác hoá rộng đồng thời phát triển thị trường đấu thầu. Thông qua đấu thầu đã
phát triển được thị trường người bán, nhiều doanh nghiệp nhà thầu lớn mạnh,
7
nhiều doanh nghiệp được thành lập mới hoặc đặt chân vào thị trường đấu

thể thực hiện công tác đấu thầu một cách thuần thục, chuyên nghiệp.
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu, rộng vào nền
kinh tế thế giới. Điều đó càng khẳng định vai trò và tầm quan trọng của đấu
thầu theo quy định của pháp luật. Trước đây, chúng ta đã bắt đầu xây dựng
chính sách đấu thầu từ các Quyết định và chỉ hạn định trong lĩnh vực xây lắp
hoặc mua sắm hàng hoá mà chưa có một hệ thống hoàn chỉnh, đến nay chúng
ta đã xây dựng và ban hành được Luật Đấu thầu quy định thống nhất cho cả 3
lĩnh vực đấu thầu dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá và xây lắp. Những quy
định đó được xây dựng trên cơ sở tiếp thu, chắt lọc các kiến thức, kinh
nghiệm các quy định về đấu thầu của các tổ chức quốc tế, các quốc gia nhằm
đảm bảo cho quy định của pháp luật về đấu thầu của Việt Nam phù hợp với
hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và dân trí của Việt Nam. Tuy
vậy, trong quá trình phát triển, những quy định đó sẽ ngày càng được điều
chỉnh cho phù hợp với thông lệ quốc tế song thích hợp với điều kiện trong
nước. Trong bối cảnh đó, hoạt động đấu thầu có tầm quan trọng nhất định
trong quá trình toàn cầu hoá. Cụ thể như sau:
- Thứ nhất, bên cạnh việc chúng ta là thành viên của Diễn đàn Hợp tác
Kinh tế khu vực Châu á Thái Bình Dương (APEC) và cũng đã chính thức trở
thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nên Luật Đấu
thầu của Việt Nam ra đời thay thế cho QCĐT trước đây cho phép công tác tổ
chức đấu thầu của Việt Nam dễ dàng hơn khi họ tổ chức đấu thầu quốc tế. Và
do đó các nhà thầu Việt Nam cũng đỡ tốn công sức khi tham dự các gói thầu
quốc tế do các nước thành viên của APEC, WTO tổ chức, vì những quy định
đó ngày càng phù hợp hơn với các quy định đấu thầu của các nước thành viên
APEC, WTO. Ngược lại, các nhà thầu quốc tế là thành viên của các tổ chức
APEC, WTO cũng thuận lợi hơn khi họ tham dự đấu thầu quốc tế các gói thầu
do Việt Nam mời thầu.
9
- Thứ hai, với các tổ chức quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới (WB),
Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản

cao nhất sẽ được mở để xem xét, thương thảo.
- Phương thức đấu thầu hai giai đoạn:
Được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế cho
gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC có kỹ thuật, công nghệ
mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiện theo trình tự sau đây:
+ Trong giai đoạn một, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn một, các nhà thầu
nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu, trên
cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời
thầu giai đoạn hai.
+ Trong giai đoạn hai, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, các nhà thầu
đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai bao gồm:
Đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính, trong đó có giá dự thầu, biện pháp
bảo đảm dự thầu.
2.4. Các hình thức lựa chọn nhà thầu
Tùy theo tính chất, quy mô, nguồn vốn xây dựng công trình, có thể sử
dụng các hình thức đấu thầu sau:
a. Đấu thầu rộng rãi:
Đấu thầu rộng rãi được thực hiện để lựa chọn nhà thầu thi công xây
dựng công trình và không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia.
Bên mời thầu phải thông báo rộng rãi trên phương tiện thông tin đại
chúng về điều kiện, thời gian nộp hồ sơ dự thầu tối thiểu 10 ngày trước khi
phát hành hồ sơ mời thầu và chịu trách nhiệm công bố trên các phương tiện
thông tin đại chúng kết quả xét thầu, giá trúng thầu.
b. Đấu thầu hạn chế:
Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
+ Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng
cho gói thầu.
11
+ Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói
thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả

sửa chữa lớn của doanh nghiệp nhà nước.
- Gói thầu mua sắm tài sản có giá không quá 100 triệu đồng để duy trì
hoạt động thường xuyên.
+ Khi thực hiện chỉ định thầu, phải lựa chọn một nhà thầu được xác
định là có đủ năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và
phải tuân thủ quy trình thực hiện chỉ định thầu do Chính phủ quy định.
+ Trước khi thực hiện chỉ định thầu thì dự toán đối với gói thầu đó phải
được phê duyệt theo quy định.
Ngoài ra trong luật đấu thầu còn quy định thêm các hình thức lựa chọn
nhà thầu là: Mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng
hóa, tự thực hiện, lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt.
2.5. Quy trình đấu thầu trong xây dựng cơ bản
Theo luật 61/2005/QH11 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/4/2006
quy trình đấu thầu nói chung, đấu thầu xây dựng các công trình giao thông
tổng quát được thể hiện trên sơ đồ 1.1 và bao gồm các giao đoạn chủ yếu sau:
2.5.1. Chuẩn bị đấu thầu
Đây là giai đoạn đầu tiên trong quy trình đấu thầu xây dựng. Nội dung
chủ yếu bao gồm các công việc: Lập kế hoạch đấu thầu; Sơ tuyển nhà thầu;
Lập hồ sơ mời thầu và Thông báo mời thầu
Kế hoạch đấu thầu của dự án. Kế hoạch đấu thầu của dự án do bên mời
thầu lập và phải được người có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp chưa đủ
điều kiện lập kế hoạch đấu thầu cho từng phần của dự án theo giai đoạn thực
13
hiện nhưng phải được người có thẩm quyền cho phép. Nội dung kế hoạch đấu
thầu của dự án bao gồm:
- Phân chia dự án thành các gói thầu (tên gói thầu).
- Giá gói thầu.
- Nguồn vốn.
- Hình thức lựa chọn nhà thầu và phương thức đấu thầu.

bước tiếp theo, trừ trường hợp đối với gói thầu EPC.
Nhà thầu tham gia đấu thầu phải độc lập về tổ chức, không cùng phụ
thuộc vào một cơ quan quản lý và độc lập về tài chính với nhà thầu tư vấn lập
hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu.
Nhà thầu tư vấn giám sát thực hiện hợp đồng phải độc lập về tổ chức,
không cùng phụ thuộc vào một cơ quan quản lý và độc lập về tài chính với
nhà thầu thực hiện hợp đồng.
Nhà thầu tham gia đấu thầu các gói thầu thuộc dự án phải độc lập về tổ
chức, không cùng phụ thuộc vào một cơ quan quản lý và độc lập về tài chính
với chủ đầu tư của dự án.
Bên mời thầu không được tham gia với tư cách là nhà thầu đối với các
gói thầu do mình tổ chức.
Sơ tuyển nhà thầu, là một giai đoạn trong quy trình đấu thầu, nhưng
nó chỉ được áp dụng đối với các gói thầu có giá trị lớn, phức tạp, đòi hỏi các
nhà thầu đủ năng lực và kinh nghiệm mới tham gia. Sơ tuyển giúp bên mời
thầu có được danh sách ngắn các nhà thầu tham gia vào giai đoạn đấu thầu
chính thức.
Lập hồ sơ mời thầu là một nội dung quan trọng trong giai đoạn chuẩn
bị đấu thầu. Hồ sơ mời thầu do bên mời thầu lập hoặc thuê tổ chức tư vẫn lập.
Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu
hạn chế bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lý để nhà
thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm
15
lựa chọn nhà thầu trúng thầu, là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện và ký
kết hợp đồng.
Hồ sơ mời thầu được lập ra dựa trên các căn cứ như Quyết định đầu tư
và các tài liệu là cơ sở để quyết định đầu tư; giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, giấy chứng nhận đầu tư; Kế hoạch đấu thầu được duyệt; Các quy định
của pháp luật về đấu thầu và các quy định của pháp luật có liên quan; điều
ước quốc tế hoặc văn bản thỏa thuận quốc tế (nếu có) đối với các dự án sử

từ ngày phát hành hồ sơ mời thầu). Thời hạn có hiệu lực của hồ sơ dự thầu tối
đa không quá 180 ngày kể từ thời điểm đóng thầu. Trường hợp cần gia hạn
hiệu lực của hồ sơ dự thầu, bên mời thầu phải thông báo cho các nhà thầu sau
khi được phép của người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền. Nếu nhà
thầu không chấp nhận thì được hoàn trả tiền bảo lãnh dự thầu.
Thông báo mời thầu là một nội dung quan trọng trong giai đoạn chuẩn
bị đấu thầu. Thông báo mời thầu phải được đăng tên tờ báo về đấu thầu và
trên trang website của Nhà nước. Thông báo mời thầu cũng được đăng tải trên
các phương tiện thông tin đại chúng, đủ thời gian để các nhà thầu biết đến.
2.5.2. Tổ chức đấu thầu
Tổ chức đấu thầu là giai đoạn thứ trong quy trình đấu thầu. Nó bao
gồm các việc: Phát hành hồ sơ mời thầu, lập tổ chuyên gia xét thầu, và thu
nhận quản lý hồ sơ dự thầu.
Việc thu nhận quản lý hồ sơ dự thầu phải đảm bảo các yêu cầu bí mật,
an toàn, vì đó là công sức, tiền của và những bí mật của nahf thầu trong quá
trình cạnh tranh. Các nhà thầu phải tốn chi phí lớn để xây dựng hồ sơ dự
thầu nên việc đảm bảo yêu cầu bí mật sẽ giúp nhà thầu cạnh tranh một cách
công bằng.
2.5.3. Mở thầu và xét thầu
Sau thời điểm đóng thầu là giai đoạn mở thầu và xét thầu.
Mở thầu phải được tiến hành công khai theo thời gian và địa điểm đã
công bố trong hồ sơ mời thầu. Việc mở thầu phải được tiến hành theo trình tự,
17
và phải lập biên bản mở thầu với các nội dung được pháp luật công nhận.
Biên bản mở thầu phải được nghi tring thực toàn bộ diễn biễn của cuộc mở
thầu và cuối cùng phải được xác nhận bởi các đại biểu tham dự thầu thông
qua chữ ký của họ. Bên mời thầu có thể mời đại diện của các cơ quan liên
quan đến tham dự lễ mở thầu. Sau khi mở thầu, bên mời thầu phải ký xác
nhận vào từng trang bản gốc của từng hồ sơ dự thầu và quản lý theo chế độ
quản lý hồ sơ “mật”. Việc đánh giá hồ sơ dự thầu được tiến hành theo bản

thầu thì hồ sơ dự thầu mới được xem xét ở các bước tiếp theo.
Bước 2: Đánh giá chi tiết hồ sơ dự thầu
- Đánh giá chi tiết về mặt kỹ thuật. Đánh giá theo tiêu chuẩn đánh giá
về mặt kỹ thuật được quy định trong hồ sơ mời thầu. Tùy theo tính chất và
điều kiện cụ thể của từng gói thầu mà sử dụng phương pháp chấm điểm hoặc
phương pháp đánh giá theo tiêu chí “đạt”, “không đạt” đối với các tiêu chuẩn
về mặt kỹ thuật. Chỉ những hồ sơ dự thầu được chủ đầu tư phê duyệt đạt yêu
cầu về mặt kỹ thuật mới được xác định giá đánh giá. Sử dụng thang điểm tối
đa (100, 1.000, ) để xây dựng tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật. Mức
điểm yêu cầu tối thiểu về mặt kỹ thuật được quy định tuỳ theo tính chất của
từng gói thầu nhưng phải bảo đảm không thấp hơn 70% tổng số điểm về mặt
kỹ thuật; đối với gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao không thấp hơn 80%.
- Đánh giá chi tiết về mặt tài chính thương mại để xếp loại nhà thầu.
Việc xác định giá đánh giá là xác định chi phí trên cùng một mặt bằng về kỹ
thuật, tài chính, thương mại và các yếu tố khác nhằm so sánh, xếp hạng các hồ
sơ dự thầu. Phương pháp xác định giá đánh giá phải được nêu trong tiêu
chuẩn đánh giá. Dựa vào chi phí trên cùng một mặt bằng của các nhà thầu,
bên mời thầu sẽ xếp hạng các nhà thầ, trong đó nhà thầu xếp số một là nhà
thầu có chi phí trên cùng một mặt bằng thấp nhất. Nhà thầu có chi phí trên
cùng một mặt bằng thấp nhất là nhà thầu trúng thầu. Giá chào thầu của nhà
thầu có giá đánh giá thấp nhất sau khi sửa lỗi số học và hiệu chỉnh các sai lệch
đưcọ gọi là giá trúng thầu.
19
Trên cơ sở kết quả đánh giá các hồ sơ dự thầu, tổ chuyên gia đấu
thầu tập hợp và báo cáo bằng văn bản để bộ phận có thảm quyền thẩm định
và phê duyệt.
2.5.4. Thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu
Để có đủ căn cứ cho việc quyết định trúng thầu, bên mời thầu phải báo
cáo lên cấp có thẩm quyền thẩm định kết quả đấu thầu. Trên cơ sở thẩm định,
cơ quan cấp phê duyệt sẽ xem xét và phê duyệt kết quả đấu thầu.

thầu lại.
2.5.7. Ký hợp đồng
Điều kiện ký hợp đồng là sau khi thương thảo hoàn thiện hợp đồng và
cập nhật thông tin về năng lực nhà thầu đầy đủ. Để đảm bảo ký hợp đồng
đúng thủ tục, bên mời thầu yêu cầu phải có bảo lãnh thực hiện hợp đồng
(trước khi ký hợp đồng hoặc hợp đồng có hiệu lực). Hình thức ký hợp đồng
phải đảm bảo công khai và phải có đại diện có thẩm quyền của bên mời thầu
và nhà thầu.
2.6. Chất lượng đấu thầu
Trước tiên, ta cần phải thống nhất về khái niệm chất lượng. Chất lượng
là một khái niệm tổng quát, phản ánh mức độ thỏa mãn nhu cầu của người cần
sản phẩm hay dịch vụ mà nó phản ánh.
Theo quan niệm mới nhất về chất lượng theo phiên bản ISO 90000-
2000, chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các
yêu cầu của khách hàng. Đây là khái niệm nói rất rõ mức độ chất lượng cao
hay thấp.
“Chất lượng chính là sự phù hợp những đặc trưng, đặc tính của sản
phẩm hoặc dịch vụ được cung cấp với những đòi hỏi của người mua, của
khách hàng, của người cần nó” Qua đó “Mức độ phù hợp cao hay thấp các
21
yêu cầu, đòi hỏi của khách hàng, người mua về sản phẩm hoặc dịch vụ là mức
chất lượng cao hay thấp của sản phẩm hoặc dịch vụ”
Do vậy, chất lượng đấu thầu trong xây dựng phụ thuộc vào chất lượng
của tất cả các khâu công việc trong quá trình lựa chọn nhà thầu. Đó chính là
nhưng đặc trưng, đặc tính thể hiện sự đảm bảo tính pháp lý, tính khoa học,
tính khả thi, tính hiệu quả kinh tế, tính cạnh tranh, tính công khai và minh
bạch cảu toàn bộ quá trình lựa chọn nhà thầu xây dựng các công trình.
2.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đấu thầu
2.7.1. Cơ chế chính sách
Cơ chế chính sách của một quốc gia có ảnh hưởng đến hoạt động đấu

2.7.4. Nhân tố con người, tổ chức bộ máy
Nhân tố con người, cách thức tổ chức, thực hiện là yếu tố quyết định
đến hiệu quả của công tác lựa chọn nhà thầu. Nếu cán bộ làm công tác đấu
thầu có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức tốt, nắm chắc, cập
nhật kịp thời các quy định về quản lý đầu tư xây dựng và đấu thầu thì sẽ
quyết định đến sự thành công và hiệu quả của công tác đấu thầu, đồng thời
giảm thiểu chi phí, thời gian và những tiêu cực trong đấu thầu. Ngược lại,
công tác đấu thầu không thể tổ chức một cách thuận lợi, đúng quy định và
đạt hiệu quả cao.
Tổ chức bộ máy: Đây là vấn đề hết sức quan trọng. Trong bộ máy tổ
chức phải hết sức chú ý đến mô hình tổ chức cơ cấu chức năng, nhiệm vụ.
Quyền hạn trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận, cá nhân. Bộ máy tổ
chức gọn nhẹ, vận hành đồng bộ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu
thầu, hạn chế tình trạng sai phạm trong đấu thầu.
2.7.5. Nhân tố kiểm tra, giám sát
Kiểm tra và giám sát có vai trò rất quan trọng trong công tác đấu thầu
nhằm đảm bảo đồng tiền ngân sách được sử dụng một cách hiệu quả nhất,
23

Trích đoạn Nguyên nhân dẫn đến bất cập trong công tác đầu thầu tại huyện Tam Nông Định hướng phát triển kinh tế xã hộ Chú trọng và chuẩn hóa “Tổ chuyên gia xét thầu chuyên nghiệp” khi thẩm định thầu Chống khép kín trong đấu thầu xây dựng cơ bản Tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác đấu thầu và thẩm định thầu, chủ động cập nhật kiến thức thường xuyên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status