tìm hiểu vấn đề đói nghèo ở huyện tân sơn, tỉnh phú thọ thực trạng và giải pháp - Pdf 22


LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu đề tài : “Tìm hiểu vấn đề đói nghèo của huyện
Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ thực trạng và giải pháp’’, em đã nhận được sự hướng dẫn,
giúp đỡ tận tình của cô giáo, Thạc sĩ Đặng Thị Nhuần. Em xin gửi lời cảm ơn và
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học Tây Bắc,
các phòng ban chức năng cùng Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo trong khoa Sử
- Địa đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu đề tài này.
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn tới Sở thương binh lao động xã hội, Sở thống
kê huyện Tân Sơn - Phú Thọ… đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp cho em về các số
liệu để em có thể hoàn thành đề tài này.
Đề tài của em trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu chắc chắn còn nhiều hạn
chế, thiếu xót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo và các
bạn sinh viên để đề tài thêm đầy đủ và hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Sinh viên

Nguyễn Văn Tuấn


Ngân hàng thế giới tại Việt Nam
Các tổ chức phi chính phủ
Đánh giá nghèo có sự tham gia của các nước
Thuyết ngang giá sức mua
Tổ chức y tế thế giới
Tổi chức lương thực và nông nghiệp
Chỉ số phát triển con người
Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng
Thương mại - dịch vụ
Miền núi
Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân
Nghị quyết trung ương
Nhà xuất bản
Lao động thương binh xã hội
Giáo dục
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng
Trang
Bảng 1.1: Thu nhập bình quân đầu người/tháng
Bảng 2.1: Diễn biến thời tiết qua các năm
Bảng 2.2: Các loại đất huyện Tân Sơn
Bảng 2.3: Lao động huyện Tân Sơn từ 2007 - 2009


DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình vẽ
Trang
Hình 2.1: Biểu đồ quy mô dân số huyện Tân Sơn giai đoạn 2005 - 2010
Hình 2.2: Biểu đồ số hộ nghèo của Tân Sơn giai đoạn 2007 - 2012
Hình 2.3: Biểu đồ số hộ nghèo của các xã huyện Tân Sơn năm 2012
Hình 2.4: Biểu đồ cơ cấu đói nghèo theo nhóm dân tộc huyện Tân
Sơn năm 2012
26
38
41
42


CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI VÀ PHÂN HÓA
GIÀU NGHÈO 9
1.1 Quan niệm đói nghèo 9
1.1.1 Quan niệm về đói nghèo trên thế giới 9

1.1.2 Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam 11
1.2 Các chỉ tiêu đói nghèo 12
1.2.1 Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo trên thế giới 12
1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo ở Việt Nam 15
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo 18
1.4 Đặc trưng của người nghèo 19
1.5 Tác động của đói nghèo đối với kinh tế - xã hội. 20
1.5.1 Tác động tích cực 20
1.5.2 Tác động tiêu cực 21
CHƯƠNG II: NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÓI NGHÈO VÀ
THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 22
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 22
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 22
2.1.1.1 Vị trí địa lý 22
2.1.1.2. Địa hình địa mạo 22
2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 23
2.1.1.4 Đặc điểm thủy văn 24
2.1.1.5 Các nguồn tài nguyên 24
2.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội 26
2.1.2.1. Dân số: 26
2.1.2.2. Lao động, việc làm 26
2.1.2.3. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 27
2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
huyện Tân Sơn. 30
2.1.3.1. Thuận lợi 30

3.2.1.1 Tuyên truyền để người nghèo chủ động vượt khó, có ý thức làm giàu 58
3.2.1.2. Hướng dẫn người nghèo phương thức canh tác mới 58
3.2.1.3. Tạo việc làm cho người nghèo 59
3.2.1.4. Hỗ trợ người nghèo những lúc gặp rủi ro 60

3.2.2 Nhóm giải pháp tạo môi trường thuận lợi cho người nghèo. 60
3.2.2.1. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng - xã hội 60
3.2.2.2. Phát triển các dịch vụ công phục vụ người nghèo 61
3.2.2.3. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững 61
3.2.2.4. Nâng cao vai trò tổ chức, quản lý, thực hiện các chương trình xóa đói
giảm nghèo của các cấp chính quyền 62
PHẦN KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đã đi qua thập niên đầu của thế kỉ XXI với một nền văn minh
rực rỡ nhưng cũng ngổn ngang những vấn đề gay gắt mang tính toàn cầu. Một
trong những nỗi lo của nhân loại hiện nay chính là vấn đề đói nghèo đang
diễn ra trên một phạm vi vô cùng rộng lớn. Đói nghèo là vấn đề toàn cầu đang
diễn ra ở khắp các châu lục trên thế giới ở mức độ khác nhau và trở thành
thách thức lớn đối với sự phát triển của từng quốc gia, từng khu vực, từng dân
tộc và từng địa phương.
Trong khi nền văn minh thế giới đã đạt được nhiều tiến bộ khoa học - công
nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm sự vượt bậc giàu có
cho con người thì vẫn có một bộ phận tụt hậu phía sau những thành tựu ấy đó là
người nghèo. Đói nghèo diễn ra ở các mức độ khác nhau đặc biệt là ở những
nước đang và chậm phát triển.
Trong vòng 1/4 thế kỷ từ năm 1981 đến năm 2005, số người nghèo trên thế

lập theo Nghị định 61/2007/NĐ-CP ngày 4/4/2007 trên cơ sở điều chỉnh địa giới
huyện Thanh Sơn, được tách ra từ một huyện nghèo với tỉ lệ dân tộc cao 82,3%.
Toàn huyện có sự phân hóa giàu nghèo khá sâu sắc trong khi tỉ lệ hộ nghèo cao năm
2012 đạt trên 23%. Bài toán đặt ra cho huyện là làm sao vừa đạt hiệu quả cao về
kinh tế, vừa giảm tình trạng phân hóa giàu nghèo làm cho cuộc sống của nhân dân
tăng cao.
Là một người con sinh ra và lớn lên trên địa bàn tỉnh, biết được những vấn đề
nổi cộm này em mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu vấn đề đói nghèo
ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ thực trạng và giải pháp’’, làm khóa luận tốt
nghiệp, hi vọng với nội dung của khóa luận sẽ nhìn nhận đúng thực trạng đói nghèo
mà tỉnh Phú Thọ nói chung và huyện Tân Sơn nói riêng đang phải đối mặt. Đồng
thời bước đầu tìm ra giải pháp để khắc phục, đưa kinh tế huyện Tân Sơn đi lên và
chất lượng cuộc sống của nhân dân Tân Sơn được nâng cao.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghèo đói là một hiện tượng xã hội, ở bất cứ một giai đoạn nào của hình thái
kinh tế - xã hội thì hiện tượng này cũng tồn tại. Đi kèm với nó là hàng loạt các vấn đề
nảy sinh trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội - môi trường. Chính vì vậy điểm chung ở
hầu hết các quốc gia khác nhau trên thế giới cả các nước đang phát triển và chậm
phát triển là quan tâm tới chất lượng cuộc sống trong đó vấn đề nghèo đói là vấn đề
điển hình. Tùy thuộc vào từng hoàn cảnh và trình độ phát triển kinh tế - xã hội mà
các nước có mức quan tâm và hướng giải quyết khác nhau.
Đói nghèo xuất hiện từ lâu nhưng mãi tới đầu thế kỷ XX con người mới nhận
thức được tầm quan trọng và hệ quả to lớn của nó đối với xã hội. Nền tảng định hình
đầu tiên là nghiên cứu của Seebohm Rơntree người Mỹ vào năm 1901. Ông đã khắc
họa thảm cảnh của người nghèo thông qua hàng loạt các phân tích và điều tra cụm
dân cư thành phố New York. Nghiên cứu này trở lên nổi bật lúc bấy giờ và hai

3
nghiên cứu sau này của ông năm 1941 và 1951 đã khiến các tổ chức quốc tế phải suy
nghĩ về vấn đề này một cách nghiêm túc.

hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Tiêm, một số tác giả như Nguyễn Thị Hà, Vũ
Quốc Huy… cũng bày tỏ sự quan tâm của mình đến vấn đề tăng trưởng, đói nghèo
và bất bình đẳng trong xã hội.

4
Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo không chỉ có các nhà nghiên cứu xã hội và
nhân văn quan tâm mà các nhà điạ lý cũng quan tâm với các nghiên cứu có cái nhìn
khá tổng thể về vấn đề nghèo đói như: “Nghèo đói và sự chênh lệch trong phát triển
vùng ở Việt Nam” trong cuốn tạp chí khoa học số 2 năm 2006 của GS.TS Nguyễn
Viết Thịnh đã tái hiện bức tranh nghèo đói ở Việt Nam và các mức độ chênh lệch
khác nhau trong phát triển bền vững. Đây là đóng góp lớn của tác giả khi luận giải
một cách tổng quát và khách quan giúp người đọc có cái nhìn đa chiều về vấn đề
đang được sự quan tâm đặc biệt của xã hội. Bên cạnh đó, còn có các đề tài tiêu biểu
là đề tài cấp Bộ của PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ - “Vấn đề đói nghèo – thực trạng và
giải pháp”. Tác giả đã thành công khi tập trung nghiên cứu khu vực có tỉ lệ hộ nghèo
cao của vùng trung du miền núi phía Bắc. Quan trọng hơn, trên cơ sở lý luận và thực
tiễn tác giả đã tìm ra nguyên nhân mang tính chất bề mặt chi phối tình trạng nghèo
của người dân đồng thời đề cập tới các giải pháp thiết thực và hiệu quả cho công tác
xóa đói giảm nghèo trong vùng.
Về luận văn, luận án có các công trình sau: Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn
Thị Hằng: Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay (1999), luận
văn đã đề cập đến vấn đề nghèo đói ở nông thôn nước ta hiện nay diễn ra như thế
nào. Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Thị Hằng: Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế
thị trường của Việt Nam hiên nay, của học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2001. Nói về
sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của đất nước thì vấn đề
xóa đói giảm nghèo cần được quan tâm hơn nữa, Luận văn thạc sĩ: Đảng bộ tỉnh
Ninh Bình lãnh đạo thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo. Nói về các chính sách,
biện pháp xóa đói giảm nghèo mà Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã thực hiện đồng thời rút
ra một số kinh nhiệm và bài học cho tỉnh thực hiện công tác giảm nghèo. Bên cạnh
đó, đề tài về chất lượng cuộc sống dân cư được khá nhiều tác giả lựa chọn điển hình

3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghèo đói là một hiện tượng xã hội phức tạp trong đó khóa luận tập trung
nghiên cứu vấn đề nghèo đói trên địa bàn huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Không gian: Địa bàn huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ.
* Thời gian: Số liệu từ năm 2007 khi huyện chính thức được thành lập
đến năm 2012.
4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục tiêu
Đề tài tập trung phân tích thực trạng đói nghèo và phân cực giàu nghèo tại
huyện Tân Sơn, từ đó rút ra những kinh nghiệm nhằm thực hiện có kết quả chủ
trương, chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng trên địa bàn huyện trong thời gian
tới, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
4.2. Nhiệm vụ
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ
chủ yếu sau:
- Tổng quan cơ sở lý luận về đói nghèo và phân hóa giàu nghèo.

6
- Tìm hiểu các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến cuộc sống của
người dân trên địa bàn huyện, biết được những thuận lợi và khó khăn nhất định.
- Phân tích thực trạng đói nghèo và phân hóa giàu nghèo tại huyện Tân Sơn.
- Đề xuất một số giải pháp giải quyết vấn đề đói nghèo của huyện Tân Sơn
trong thời gian tới.
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm hệ thống
Đây là một quan điểm quan trọng chỉ dẫn các quá trình nghiên cứu các đối
tượng phức tạp. Theo quan điểm này, khi nghiên cứu một vấn đề nào đó phải đặt
trong vị trí tương quan giữa nhiều vấn đề, các yếu tố trong hệ thống cao hơn trong

đến đói nghèo cũng khác nhau và bức tranh đói nghèo ở Tân Sơn chắc chắn cũng có
những nét biến đổi. Nhận thức đúng đắn quan điểm lịch sử này giúp cho đề tài nhìn
nhận những đặc điểm và diễn biến đói nghèo trong mối quan hệ quá khứ - hiện tại -
tương lai và trong bối cảnh thời kỳ đổi mới. Trong những năm qua xoá đói giảm
nghèo ở Tân Sơn đã đạt được những thành tựu và còn gặp những hạn chế nào. Từ đó
rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra hướng giải quyết mới.
5.1.5. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng
không làm ảnh hưởng tới lợi ích của thế hệ tương lai, cũng như đáp ứng nhu cầu của
chính họ. Sự phát triển đảm bảo cả 3 mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường. Giải quyết
vấn đề đói nghèo và phân hóa giàu nghèo đảm bảo cho cuộc sống người dân được tốt
hơn. Vận dụng quan điểm này ta có những biện pháp tốt đề cho nhân dân thoát
nghèo không tái nghèo, chênh lệch mức sống giảm rõ rệt.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu thực địa
Điều tra khảo sát thực địa là phương pháp khá quan trọng trong nghiên cứu địa
lý. Điều tra khảo sát thực tế sẽ giúp cho luận văn có tính thực tế, gắn liền giữa lý
thuyết và thực tiễn, đối chiếu với các thông tin số liệu thu thập được đồng thời bổ
sung thông tin từ thực tế mà sách vở chưa có. Từ đó giúp đánh giá của tôi sẽ có cơ sở
khoa học vững chắc hơn.
Để thực hiện khóa luận tôi tiến hành nhiều đợt kiểm tra tại địa bàn nghiên cứu,
chúng tôi tiến hành quan sát tìm hiểu đời sống của nhân dân. Tôi cũng làm việc với
các cơ quan địa phương từ xã, huyện đến tỉnh để thu thập tư liệu. Kết quả điều tra là
cơ sở để khẳng định một số nhận định trong quá trình nghiên cứu.
5.2.2. Phương pháp đánh giá
Đánh giá sự thay đổi hay không thay đổi về diễn biến nghèo, những tồn tại và
những vấn đề đã được giải quyết là những điều cần thiết trong quá trình nghiên cứu
và đánh giá nghèo đói trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
5.2.3. Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu
Sau khi tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực tế, làm việc với các cơ quan ban
9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI VÀ
PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO

Đói nghèo và tấn công chống đói nghèo luôn là mối quan tâm hàng đầu của
các quốc gia trên thế giới. Đói nghèo là một trong những nguyên nhân gây ra
những xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn về chính trị, kinh tế
xã hội. Mọi dân tộc dù khác nhau về thể chế chính trị, khuynh hướng phát triển
kinh tế, song đều có mục tiêu làm thế nào để quốc gia mình, dân tộc mình hưng
thịnh. Trong thực tế ở một số nước cho thấy, khi phát triển nhanh bao nhiêu,
năng suất lao động càng tăng bao nhiêu thì tình trạng đói nghèo của một bộ phận
dân cư càng bức xúc bấy nhiêu và có nguy cơ dẫn đến xung đột.
Trong lịch sử xã hội loài người, đặc biệt là xã hội có giai cấp, đói nghèo đã
xuất hiện và tồn tại như một thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của
từng quốc gia, từng khu vực và toàn bộ nền văn minh hiện đại. Tuy vậy, nhận
thức, cách tiếp cận và phương thức giải quyết vấn đề đói nghèo vẫn có sự khác
biệt giữa các quốc gia, các tổ chức kinh tế và tổ chức phi chính phủ.
Đói nghèo là một hiện tượng xảy ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Tùy vào từng thời điểm khác nhau mà các quốc gia có sự nhìn
nhận, đánh giá về đói nghèo khác nhau. Song thống nhất lại, khái niệm nghèo
dùng để chỉ mức sống của một nhóm dân cư, một nhóm quốc gia so với mức
sống chung của cộng đồng hay của quốc gia khác.
1.1 Quan niệm đói nghèo
1.1.1 Quan niệm về đói nghèo trên thế giới
Với kim chỉ nam “coi đấu tranh chống đói nghèo là sứ mệnh, là trọng
tâm”, tổ chức Ngân hàng Thế giới (WorldBank) với tất cả tâm huyết và trách
nhiệm của mình đã hoàn thành: “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới – Tấn

độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và phong tục tập quán của từng vùng,
đó là sự thay đổi theo không gian. Mặt khác, chuẩn nghèo cũng sẽ thay đổi theo
thời gian chứ không phải là một đại lượng bất biến.
Để đánh giá rõ hơn mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại:
Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để con người có thể sống một cuộc sống
tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này
và các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo thay đổi theo không gian và thời gian. Tổ
chức Y tế thế giới định nghĩa nghèo tuyệt đối (hay nghèo theo thu nhập) như
sau: “Một người là nghèo khổ khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa thu nhập
bình quân đầu người hàng năm của quốc gia”. Họ còn nhận định, nghèo thu
nhập “là sự đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua
được một lượng lương thực, thực phẩm 2100 – 2300 Kcal/người/năm”.
Nghèo đói vẫn tập trung chủ yếu ở các nước đang và chậm phát triển. Để
có cái nhìn tổng quan hơn về vấn đề này, Robert Mc Namara - khi còn là giám
đốc của Ngân hàng Thế giới - đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định

11
nghĩa:’’Nghèo tuyệt đối là sống ở danh giới ngoài cùng của tồn tại. Người
nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn
tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê, mất phẩm cách vượt quá mức tưởng tượng mang
dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới tri thức chúng ta”.
Khái niệm của Robert chỉ ra mức nghèo tận cùng của một bộ phận dân cư
khi điều kiện sống của họ chỉ đảm bảo cho sự tồn tại. Đồng thời, nó cũng cho ta
thấy ngoài việc sử dụng thu nhập hay tiêu dùng để xác định và đo lường đói
nghèo thì có nhiều yếu tố khác quyết định đến tình trạng sống của con người mà
tình trạng này được gọi là nghèo tương đối (hay nghèo về con người). Theo đó,
nghèo tương đối có thể được xem như là mức độ sống thấp hơn của một số tầng
lớp xã hội trong mối tương quan so sánh với sự xung túc của xã hội đó.
Mức nghèo tuyệt đối thường có phương thức tính toán nên danh giới nghèo

Thái Lan vào tháng 9/ 1993.
Ngoài định nghĩa chung về đói nghèo, nước ta còn sử dụng rộng rãi hai
định nghĩa và về cơ bản cũng đều bắt nguồn từ ngân hàng thế giới.
- Nghèo đói lương thực - thực phẩm (tương đương với nghèo tuyệt đối,
nghèo về thu nhập của WB): Được xác định bằng số tiền chi phí cho nhu cầu
thiết yếu để duy trì sự sống với mức tiêu dùng 2100 Kcal/người/ngày.
- Nghèo đói chung (tương đương với nghèo tương đối, nghèo về con
người): Được xác định bằng số tiền chi phí để mua đủ một lượng hàng hóa
lương thực, thực phẩm tương đương với mức tiêu dùng năng lượng 2100
Kcal/người/ngày. Và một số mặt hàng phi lương thực, thực phẩm…
Tuy có sự thống nhất cao về khái niệm nhưng Việt Nam cũng có những đặc
điểm khác với nhiều nước trong vấn đề nhìn nhận đánh giá về nghèo khổ. Bên
cạnh khái niệm nghèo của ESCAP, ta còn sử dụng thêm khái niệm đói nghèo để
chỉ mức độ thấp của nghèo của một bộ phận dân cư. Đó là bộ phận dân cư
nghèo, có mức sống dưới tối thiểu (nhu cầu cơ bản) không đủ điều kiện vật chất
duy trì cuộc sống. Đây là bộ phận thiếu ăn ít nhất một tháng trong năm, phải đi
vay nợ nhưng không có khả năng chi trả. Nói cách khác, đói là nấc thang thấp
nhất của nghèo.
Hiện nay, tình trạng đói đã không được nhắc đến trong các văn kiện chính
thức của Đảng từ năm 2001. Mặc dù vậy, cụm từ “xóa đói giảm nghèo” vẫn
được sử dụng chỉ một nội dung hẹp hơn là đấu tranh để giảm nghèo, tiến tới xóa
đói giảm nghèo.
1.2 Các chỉ tiêu đói nghèo
1.2.1 Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo trên thế giới
Chuẩn nghèo là bước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai
thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo, từ đó có những chính sách trợ
giúp cho người nghèo tiếp cận với những thành quả của sự phát triển kinh tế và
đảm bảo công bằng xã hội giữa các nhóm dân cư. Thực tiễn và lí luận đã chỉ ra
rằng: “Hậu quả của thiên tai, lũ lụt và khủng hoảng kinh tế, người nghèo là


- Đối với các nước thu nhập thấp: < 1 USD/ người/ngày.
- Đối với nước thu nhập trung bình thấp: < 2 USD/người/năm.
Ngoài ra, còn có một số chuẩn nghèo khuyến nghị khác cho các quốc gia:
- Đối với các nước chậm phát triển: 0.5USD/người/ngày.

14
- Đối với các nước đang phát triển: 1USD/người/ngày.
- Đối với các nước châu Mỹ phát triển ở mức khá: 2USD/người/ngày.
- Đối với các nước châu Âu: 4USD/người/ngày.
- Đối với các nước công nghiệp: 14 USD/người/ngày.
* Chỉ tiêu dinh dưỡng
Nhu cầu về dinh dưỡng là 1 trong những nhu cầu cơ bản và tối thiểu của
con người để tồn tại, hoạt động và tái tạo sức lao động. Trong nhiều năm, các
nhà dinh dưỡng của tổ chức y tế thế giới WHO, tổ chức lương thực và nông
nghiệp FAO, các cơ quan quốc gia và quốc tế đã đưa ra mức dinh dưỡng tối
thiểu cần thiết cho mỗi cơ thể theo thể trạng con người. Chỉ tiêu cơ bản nhất về
lượng dinh dưỡng đưa vào cơ thể là lượng calo tiêu dùng hàng ngày. Nhu cầu
calo của mỗi người là khác nhau, tùy thuộc vào độ tuổi và cường độ hoạt động
thể chất mà họ thực hiện. Tuy vậy để xây dựng một ngưỡng nghèo, cần phải xác
định nhu cầu tiêu dùng của toàn bộ dân số. Lượng dinh dưỡng 2100 Kcal mà y
tế thế giới đưa ra đã dựa trên nhiều lần đánh giá và kiểm nghiệm.
Ngoài chỉ tiêu xác định chuẩn nghèo trên, thì phương pháp chung nhất mà
các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế xác định đói nghèo là dựa vào chi
tiêu để đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người. Ngân hàng thế giới đã dựa
trên số liệu về tiêu dùng để tính toán đói nghèo. Chỉ tiêu này đã được nhiều tổ
chức quốc tế thừa nhận và xem nó là “Chỉ số về phúc lợi được ưa chuộng”. Lí
do thực tế là “chúng đáng tin cậy và vì tiêu dùng được coi là thước đo phản ánh
mức phúc lợi dài hạn tốt hơn so với thu nhập hiện tại”.
Ngân hàng thế giới xây dựng ngưỡng nghèo trên cơ sở xác định nhu cầu
tiêu dùng về lương thực của con người. Cụ thể như sau:


Trong đó, P
1
: xác suất những người không thọ quá 40 tuổi (x100).
P
2
: tỷ lệ người lớn mù chữ.
P
3
: Giá trị bình quân phi gia quyền của tỷ lệ người dân không
tiếp cận bền vững với nguồn nước sạch (1) và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (2).
(giá trị bình quân phi gia quyền = ½ tỷ lệ (1) + ½ tỷ lệ (2)).
Giá trị HPI càng cao thì mức độ nghèo khổ càng lớn và ngược lại.
Điểm mấu chốt trong các thước đo nghèo khổ chính là sự thỏa mãn những
nhu cầu cơ bản của con người. Những nhu cầu cơ bản đó là gì còn tùy thuộc vào
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của các nước, thậm chí còn có sự khác biệt lớn
trong phạm vi vùng miền của một quốc gia.
1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo ở Việt Nam
Ở nước ta khái niệm nghèo đói không gắn với 1 người cụ thể mà gắn với
hộ gia đình, mặc dù chuẩn nghèo đói - thước đo xác định mức độ nghèo trong
mỗi vùng miền hay cả nước thì vẫn lấy theo mức thu nhập tính trên đầu người.
Nhóm nghiên cứu liên bộ: Bộ Lao động thương binh và xã hội, tổng cục
thống kê đã đưa ra chỉ tiêu để đánh giá đói nghèo là thu nhập, giáo dục, sức
khỏe, nhà ở…Trong đó chỉ tiêu thu nhập được coi là chỉ tiêu hàng đầu, đồng
thời cũng là chỉ tiêu đang được sử dụng để xác định số lượng người nghèo và
hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo.
Ở nước ta, trong điều kiện giá cả không ổn định và có sự chênh lệch giữa
các vùng miền, bên cạnh việc thu nhập được tính toán bằng tiền, còn tồn tại cách
tính toán truyền thống của người dân - tức quy ra gạo. Tùy vào từng thời kỳ và
từng vùng phát triển của đất nước mà các cơ quan liên bộ ngành và các cơ quan

+ Vùng thành thị: 260.000 đ/người/tháng.
Giai đoạn 2011-2015 (Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg tháng 1/2011 của
Chính phủ)

17
- Hộ nghèo:
+ Vùng nông thôn: 400.000 đ/người/tháng.
+ Vùng thành thị: 500.000 đ/người/tháng.
- Hộ cận nghèo:
+ Vùng nông thôn: 401.000 - 520.000 đ/người/tháng.
+ Vùng thành thị: 501.000 - 650.000 đ/người/tháng.
* Các tiêu chuẩn nghèo khác:
Theo cách đánh giá của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,
Phạm vi đói nghèo có từng cấp khác nhau. Mỗi cấp thể hiện những đặc
điểm riêng biệt về mức độ nghèo.
- Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn
nghèo. Trong hộ nghèo lại có hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. Đây là các
hộ gia đình dân tộc sống ở vùng sâu vùng xa, miền núi có mức thu nhập thấp
hơn chuẩn nghèo. Các hộ này còn tồn tại “ phong túc tập quán sản xuất mang
nặng tính tự nhiên hái lượm”, chủ yếu phát nương làm rẫy, tổng giá trị tài sản
bình quân đầu người dưới 1 triệu đồng.
- Xã nghèo: Là xã có tỉ lệ hộ nghèo cao (>25%), chưa đủ từ 3 trong 6 hạng
mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (bao gồm: chưa có đường ô tô đến trung tâm xã
hoặc ô tô không đi lại được cả năm, số phòng học chỉ đáp ứng dưới 70% nhu
cầu của học sinh hoặc phòng học tạo bằng tranh tre, nứa lá, chưa có trạm y tế xã
hoặc có nhưng làm nhà tạm, dưới 30% hộ sử dụng nước sạch, dưới 50% số hộ
sử dụng điện sinh hoạt…). Trong các xã nghèo, có các xã đặc biệt khó khăn-
Đây là các xã được công nhận theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg của thủ
tướng Chính phủ.
- Vùng nghèo, vệt nghèo: Là địa bàn tương đối rộng lớn, có thể là một số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status