phát triển một số ngành nghề thủ công
nghiệp ở huyện Từ Sơn, tỉnh bắc ninh
(Thực trạng và giải pháp)
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu
Chữ và ký hiệu viết tắt Giải thích
BQ Bình quân
CC Cơ cấu
CN Công nghiệp
CNH-HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CT Công ty
DT Diện tích
ĐVT Đơn vị tính
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GO Giá trị sản xuất
GT Giá trị
HTX Hợp tác xã
IC Chi phí trung gian
lđ Lao động
MI Thu nhập
NN Nông nghiệp
Pr Lợi nhuận
SL Số lợng
i
SX Sản xuất
TC, CĐ, ĐH Trung cấp, cao đẳng, đại học
TCN Thủ công nghiệp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
tr.đ Triệu đồng
UBND
ủy ban nhân dân
4.8 Vốn cho ngành nghề của các cơ sở điều tra (Tính bình
quân 1 cơ sở).
62
ii
4.9 Kết quả sản xuất bình quân 1 cơ sở điều tra. 70
4.10 Hiệu quả kinh tế sản xuất bình quân của một cơ sở điều tra. 72
4.11 Hiệu quả kinh tế theo qui mô lao động (Tính bình quân 1
cơ sở)
74
4.12 Hiệu quả kinh tế theo qui mô vốn (Tính bình quân 1 cơ sở). 77
4.13 Hiệu quả kinh tế bình quân của hộ điều tra theo tính chất
làng nghề.
79
4.14 Vấn đề môi trờng và bảo hộ lao động ở các cơ sở điều tra. 82
4.15 Khó khăn đối với ngành nghề thủ công nghiệp qua điều
tra các cơ sở.
87
4.16 Dự kiến tình hình phát triển một số ngành nghề thủ công
nghiệp huyện Từ Sơn năm 2005 và năm 2010.
92
4.17 Dự kiến tình hình tiêu thụ sản phẩm ngành nghề thủ công
nghiệp huyện Từ Sơn.
94
4.18 Dự kiến thị trờng tiêu thụ sản phẩm một số ngành nghề
thủ công nghiệp ở Từ Sơn trong thời gian tới.
95
4.19
Dự kiến nguyên vật liệu chính cho phát triển ngành nghề
thủ công nghiệp ở Từ Sơn trong thời gian tới.
98
Danh mục các ảnh
Số thứ tự
Tên ảnh Trang
1.
Bản đồ phân bố một số ngành nghề thủ công nghiệp ở
huyện Từ Sơn.
44
2.
ảnh 1 2: Sản phẩm của nghề mộc mỹ nghệ ở
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
48
3.
ảnh 3 4: Sản phẩm của nghề dệt ở huyện Từ Sơn,
tỉnh Bắc Ninh.
48
4.
ảnh 5 6: Sản phẩm của nghề sắt thép ở huyện Từ
Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
48
5.
ảnh 7: Cụm công nghiệp làng nghề mộc mỹ nghệ
Đồng Kỵ (Từ Sơn) đang xây dựng.
54
6.
ảnh 8: Cụm công nghiệp làng nghề sắt thép Châu
Khê (Từ Sơn) đã hoàn thành và đi vào hoạt động.
54
v
1. Mở đầu
5.1. Kết luận 118
5.2. Kiến nghị .. 119
Tài liệu tham khảo ... 121
Phụ lục . 125
1
Hải Phòng Quảng Ninh). Tỉnh Bắc Ninh gồm 7 huyện và 1 thị xã.Từ xa
đến nay, Bắc Ninh không những là nơi đã sản sinh và giữ gìn những làn điệu
dân ca quan họ mợt mà, đằm thắm, đậm đà bản sắc dân tộc mà còn là nơi có
các ngành nghề thủ công nổi tiếng trong cả nớc. Hiện nay Bắc Ninh có 62 làng
nghề, trong đó có 50 làng nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN). Trong những năm
gần đây, nền kinh tế Bắc Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng tr-
ởng kinh tế bình quân (BQ) giai đoạn (1996-2001) là 12,4%. Một trong những
huyện đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển chung của tỉnh Bắc Ninh là Từ
Sơn.
Từ Sơn là huyện tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, có vị trí thuận lợi cho việc
phát triển kinh tế. Cùng với công cuộc đổi mới của tỉnh, những năm qua Từ
Sơn luôn là huyện có tốc độ tăng trởng kinh tế cao nhất tỉnh (18,7%). Đóng góp
không nhỏ trong tổng giá trị (GT) sản xuất (SX) của Từ Sơn là các ngành nghề
thủ công nghiệp (TCN), ở đó làng nghề tiểu thủ công nghiệp đóng vai trò nòng
cốt [29, 22]. Một số ngành nghề TCN chủ yếu ở Từ Sơn nh sản xuất sắt thép,
sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, dệt... Sự phát triển của một số ngành nghề TCN đã thu
hút hàng vạn lao động (lđ) tại địa phơng, góp phần đáng kể vào giải quyết lao
động d thừa và thiếu việc làm trong nông thôn; nâng cao mức sống cho ngời
dân; khơi dậy những tiềm năng vốn có tại địa phơng, góp phần tích cực trong
quá trình chuyển dịch cơ cấu (CC) kinh tế nông thôn.
Tuy nhiên những năm qua, sản xuất của một số ngành nghề TCN vẫn còn
những tồn tại nh:
- Thị trờng tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn.
- Quy mô sản xuất còn nhỏ, phân tán do mặt bằng sản xuất chật hẹp.
- Tính chuyên môn hóa và hợp tác hóa ở các ngành nghề cha cao; chậm
3
1.3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tợng nghiên cứu
Nghiên cứu những lý luận và thực tiễn, các vấn đề kinh tế, tổ chức sản
xuất, cơ chế quản lý nhằm phát triển một số ngành nghề TCN ở huyện Từ Sơn
tỉnh Bắc Ninh.
Nghiên cứu các cơ sở sản xuất: Công ty (CT) trách nhiệm hữu hạn
(TNHH), hợp tác xã (HTX), hộ sản xuất, các cấp quản lý một số ngành nghề
TCN ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Về nội dung: Nghiên cứu các nội dung kinh tế, tổ chức, quản lý, sản
xuất liên quan đến một số ngành nghề TCN: sắt thép, mộc mỹ nghệ, dệt.
(Đây là 3 ngành nghề chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giá trị sản lợng của
ngành nghề TCN ở huyện Từ Sơn).
* Về thời gian:
+ Đánh giá thực trạng giai đoạn từ khi huyện Từ Sơn đợc tái lập là
chủ yếu (2000- 2002 ); tìm hiểu thêm một số năm trớc đó.
+ Đa ra định hớng và giải pháp cho đến năm 2010.
* Về không gian: Đề tài thực hiện trên điạ bàn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc
Ninh; Ngoài ra đề tài có liên hệ với các địa bàn khác ngoài huyện để so sánh.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1. Khái quát chung về ngành nghề TCN
2 2.1.1. Một số khái niệm và phân loại
- Ngành nghề. Ngoài nông nghiệp (NN), trong quá trình phát triển kinh tế
nông thôn nhiều ngành nghề khác đã xuất hiện. Trong đó mỗi ngành, mỗi nghề
4
lại tạo nên những sản phẩm nhất định trên cơ sở những điều kiện nhất định về
hệ thống công cụ lao động, kỹ năng lao động, công nghệ...[7, 9]
- Ngành nghề thủ công là ngành nghề tạo nên những sản phẩm trên cơ sở
lao động đôi bàn tay của con ngời kết hợp với hệ thống công cụ lao động thô sơ
nghề phát triển trong những năm gần đây, chủ yếu do sự lan tỏa từ làng nghề
truyền thống, hoặc do sự du nhập trong quá trình hội nhập giữa các vùng và
giữa các nớc. Ngay trong các làng nghề truyền thống cũng có sự đan xen giữa
những nghề mới và nghề truyền thống.
Thực tế, khi phân loại các làng nghề cho thấy: có những làng nghề chỉ
gồm một nghề nh lụa Vạn Phúc, gồm Bát Tràng... và làng nhiều nghề nh: Ninh
Hiệp, Kiêu Kỵ, Trai Trang, Đình Bảng... Nhất là Ninh Hiệp, ngoài nghề sản
xuất chế biến dợc liệu, còn phát triển nghề buôn bán, may mặc...
- Phân loại ngành nghề TCN. Dựa vào nguyên vật liệu hoặc quy trình công
nghệ có thể phân thành:
Nghề đan: đan mây, song, tre, nứa, giang, lá, cỏ, cói...
Nghề sắt thép: cán thép, đúc phôi, sản xuất sản phẩm sắt thép
Nghề dệt: dệt vải, thổ cẩm, sợi, lanh, chiếu cói, thảm đay, thảm len...
Nghề chạm khắc: chạm khắc trên gỗ, sừng, đá...
Nghề gốm, sứ, thủy tinh...
Nghề sơn: sơn mài, sơn thiếp vàng...
Nghề kim hoàn: chạm vàng, bạc, đồng...
Nghề đồng: đúc đồng, gò đồng...
Nghề da, giả da...
6
Ngoài ra còn có những ý kiến khác nhau trong việc xác định ngành nghề
TTCN nông thôn. Phân theo nhóm nh sau:
- Nhóm ý kiến cho rằng công nghiệp (CN)-TTCN nông thôn là bộ phận của
nền công nghiệp nhng đóng trên địa bàn nông thôn: Công nghiệp nông thôn hay
còn gọi là công nghiệp nông thôn ở trình độ thấp là một bộ phận của hệ thống
công nghiệp mà trong đó quá trình lao động chủ yếu dựa vào lao động chân tay sử
dụng các công cụ sản xuất giản đơn để chế biến nguyên liệu tạo ra sản phẩm .[27,
6]
- Nhóm ý kiến xác định CN-TTCN nông thôn là những công nghiệp đóng
trên địa bàn nông thôn, phục vụ cho nông thôn và do địa phơng quản lý.
- Sản phẩm mỹ nghệ đợc tiêu dùng bởi những ngời sành chơi, những ngời
thuộc tầng lớp thợng lu và những ngời có thu nhập cao.
- Sản phẩm xuất khẩu.
2.1.2.2. Đặc điểm về công nghệ, công cụ
Hệ thống công cụ của ngành TCN xa thờng là các công cụ thủ công và
đơn giản. Nhng nay nhiều khâu trong sản xuất của ngành TCN đã đợc trang bị
máy móc nh máy ca, máy bào, máy lộng... (nghề mộc), máy dệt (nghề dệt),
máy cán thép, máy tuốt (nghề rèn)... Các công nghệ hiện đại hơn đợc trang bị
nh lò nung tuy nen (nghề gốm sứ), lò đúc cao tần (nghề rèn), dây truyền sản
xuất giấy (nghề giấy)...
Mặt khác, trong các làng nghề, các nghệ nhân với các bí quyết nhà nghề đã
tạo nên sản phẩm độc đáo của riêng mình. Việc học mót công nghệ rất khó khăn
và các công nghệ thờng đợc duy trì lâu bền một cách bí mật trong từng gia đình
hoặc từng dòng họ, thậm chí qua nhiều hế hệ và các làng nghề mới chỉ có thể tạo ra
đợc các sản phẩm thông dụng cấp thấp hoặc phần thô của sản phẩm.
8
2.1.2.3. Đặc điểm về lao động
Lao động ngành nghề TCN trong nông thôn có nhiều loại hình và nhiều
trình độ khác nhau.
Lao động ngành nghề TCN trong nông thôn và lao động nông nghiệp có
gắn kết chặt chẽ với nhau; do quy mô hộ gia đình là chủ yếu mà lao động TCN
gắn kết với lao động nông nghiệp. Lúc này, giờ này làm TCN nhng lúc khác giờ
khác lại làm nông nghiệp; có những nơi ngành nghề TCN đợc quan tâm chú
trọng hơn trong thời điểm nông nhàn; Nhiều nơi ngành nghề TCN mặc dù tách
khỏi nông nghiệp nhng không tách khỏi nông thôn .
Do nhu cầu mở rộng quy mô, trong nguồn lao động nông thôn có một bộ
phận lao động đợc tách ra chuyên làm ngành nghề TCN. Ngoài lao động gia
đình, các cơ sở sản xuất còn phải thuê lao động (Bát Tràng, Ninh Hiệp, Đồng
Kỵ, Đa Hội, Tơng Giang, Phù Khê... là những nơi có nhiều lao động làm thuê).
Điều đặc biệt, trong các làng nghề TTCN tỷ suất sử dụng lao động rất cao và
ùn tắc sản phẩm, ảnh hởng dến sự phát triển của một số ngành nghề.
* Sản phẩm mỹ nghệ cao cấp. Khi cuộc sống nâng cao, ngời ta tiêu dùng
sản phẩm cao cấp nhiều hơn. Vì vậy nhu cầu về sản phẩm này ngày càng cao,
không chỉ về số lợng và chủng loại sản phẩm mà còn về chất lợng sản phẩm.
* Sản phẩm xuất khẩu bao gồm cả sản phẩm dân dụng và sản phẩm thủ
công mỹ nghệ. Ngời nớc ngoài rất a chuộng hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
và trầm trồ về những nét đẹp hài hoà, chứa đựng nhiều điển tích, hoa văn tinh tế
và tính chất dân gian của sản phẩm làng nghề qua bàn tay khéo léo của thợ thủ
công. Sản phẩm gốm sứ, đồ mộc đợc tiêu thụ với khối lợng ngày càng lớn ở Đài
Loan, úc, Nhật... Sản phẩm mỹ nghệ khảm trai, ốc, mây tre đan đợc tiêu thụ
rộng khắp ở Châu Âu... Khách du lịch nớc ngoài thờng bỏ ra hàng giờ, nhiều
lần để ngắm nhìn và lựa chọn những món quà đặc sắc đợc làm từ hòn đất, cành
10
tre, khúc gỗ, xơng thú, sừng, thổ cẩm, sợi đay, bẹ ngô, kim loại... đơn sơ nh
cuộc sống đời thờng của ngời Việt Nam nhng rất có hồn.[7, 16-17]
2.1.3 Khái niệm về tăng trởng và phát triển; phát triển ngành nghề
thủ công nghiệp
2.1.3.1. Tăng tởng và phát triển
Tăng trởng và phát triển đôi khi đợc coi là đồng nghĩa, nhng thực ra
chúng có liên quan với nhau và có những nội dung khác nhau. Theo nghĩa
chung nhất, tăng trởng là nhiều sản phẩm hơn, còn phát triển không những
nhiều sản phẩm hơn mà còn phong phú về chủng loại và chất lợng, về cơ cấu và
phân bổ của cải.
Tăng trởng là sự gia tăng thu nhập quốc dân và sản phẩm quốc dân hoặc
thu nhập quốc dân và sản phẩm quốc dân tính theo đầu ngời. Nếu nh sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ trong một quốc gia tăng lên, nó đợc coi là tăng trởng kinh
tế. Tăng trởng cũng đợc áp dụng để đánh giá cụ thể đối với từng ngành sản
xuất, từng vùng của một quốc gia.
Phát triển bao hàm ý nghĩa rộng hơn, phát triển bên cạnh thu nhập bình
quân đầu ngời còn bao gồm nhiều khía cạnh khác. Sự tăng trởng cộng thêm các
ngừng đợc tăng lên, nó thể hiện sự tăng trởng của ngành nghề TCN.
Sự phát triển ngành nghề TCN yêu cầu sự tăng trởng của ngành nghề
TCN phải đảm bảo hiệu quả kinh, tế xã hội và môi trờng.
Trên quan điểm phát triển bền vững, phát triển ngành nghề TCN còn yêu
cầu: Sự phát triển phải có kế hoạch, qui hoạch; sử dụng các nguồn lực nh tài
nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, nguyên liệu cho sản xuất...đảm bảo hợp lý
có hiệu quả; nâng cao mức sống cho ngời lao động; không gây ô nhiễm môi tr-
ờng; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc...
12
2.2. Vai trò và ý nghĩa của phát triển ngành nghề thủ công nghiệp
nông thôn
2.2.1. Sử dụng hợp lý nguồn lao động nông thôn
Đồng bằng sông Hồng là nơi đất hẹp ngời đông, bình quân diện tích đất
canh tác 400-500 m
2
/ ngời. Mặc dù ngời dân đã có nhiều cố gắng đầu t thâm
canh, tăng vụ, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, thực hiện chuyển dịch cơ
cấu cây trồng, vật nuôi... ngoài ra còn đợc Đảng và Nhà nớc tạo điều kiện cho
đi lao động hợp tác với nớc ngoài, vận động hỗ trợ nhân dân vùng đất hẹp, khó
khăn đi xây dựng vùng kinh tế mới. Nhng thực tế tỷ lệ thất nghiệp và bán thất
nghiệp chiếm tỷ lệ cao, chiếm từ 30-35% lao động nông thôn.
TCN nông thôn với nhiều ngành nghề, không đòi hỏi nhiều vốn, yêu cầu
kỹ thuật cao, chủ yếu là tận dụng lao động và có khả năng làm việc phân tán
trong hộ gia đình. Hơn nữa lao động sống trong giá thành sản phẩm TCN chiếm
tỷ lệ cao, thờng chiếm từ 40 - 60%. Do vậy nếu ngành nghề TCN phát triển
mạnh mẽ sẽ thu hút đợc nhiều lao động nông thôn.
Sự phát triển của TCN sẽ góp phần thực hiện phân bổ hợp lý lao động.
Nhiều lao động sẽ kết hợp phát triển nông nghiệp với ngành nghề ở nông thôn,
thậm chí nhiều hộ sẽ chuyển hẳn sang làm nghề TTCN. Những hộ kiêm và chuyên
sẽ là trung tâm thu hút lao động của địa phơng và những vùng xung quanh, từ đó
tầm quan trọng của TCN trong nền kinh tế quốc dân, vì vậy Đại hội Đảng
IV(1976) khẳng định: TTCN có vị trí, tầm quan trọng lâu dài trong nền kinh tế
quốc dân, cần đặc biệt chú ý phục hồi phát triển mạnh các ngành nghề thủ công
truyền thống của các địa phơng.
14
Tại các đại hội V, VI, VII, VIII của Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng và Nhà
nớc ta tiếp tục có chủ trơng coi trọng phát triển ngành nghề TCN, phát triển kinh tế
hộ gia đình, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn.
Đại hội IX một lần nữa chú trọng đến phát triển ngành nghề TTCN ở
nông thôn: Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Hình thành
các khu vực tập trung công nghiệp, các trọng điểm công nghiệp ở nông thôn,
các làng nghề gắn với thị trờng trong nớc và xuất khẩu, chuyển một phần doanh
nghiệp gia công (may mặc, da - giầy) và chế biến nông sản ở thành phố về nông
thôn. Có chính sách u đãi để thu hút đầu t mọi thành phần kinh tế vào phát triển
công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Trên cơ sở chuyển một bộ phận lao động
nông nghiệp sang các ngành nghề khác, từng bớc tăng quỹ đất canh tác cho mỗi
lao động nông nghiệp, mở rộng qui mô sản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho
dân c nông thôn.[5, 172]
2.3.2. Chủ trơng phát triển ngành nghề thủ công nghiệp của tỉnh Bắc
Ninh và huyện Từ Sơn:
* Tỉnh Bắc Ninh. Ngay từ những ngày đầu tỉnh Bắc Ninh đợc tái lập
(1997) do nhận thức và đánh giá đúng vai trò phát triển công nghiệp nói chung,
công nghiệp làng nghề nói riêng, Tỉnh ủy - Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Bắc
Ninh đã chỉ đạo các cấp các ngành xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê
duyệt (năm 1997) định hớng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, định hớng
quy hoạch phát triển chuyên ngành, trong đó có quy hoạch phát triển công
nghiệp thời kỳ 1997- 2010- 2015 (xác định mục tiêu phấn đấu đa Bắc Ninh đến
năm 2015 trở thành tỉnh cơ bản về công nghiệp. Đề tài Phơng hớng và giải
pháp phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp Bắc Ninh trong thời kỳ công
nghiệp hoá hiện đại hoá đã đợc Tỉnh ủy- UBND tỉnh giao cho Sở Công nghiệp
bị công nghệ tiên tiến để tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá. Phát huy nội lực
16
phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp nông thôn để tận dụng lao động
d thừa. Củng cố và phát triển các cụm công nghiệp và TTCN làng nghề Đa Hội,
Đình Bảng, Đồng Kỵ, Tơng Giang.... Chú trọng xây dựng và từng bớc cải tạo,
nâng cấp cơ sở hạ tầng nh điện, đờng, nớc sạch, mặt bằng sản xuất, khắc phục ô
nhiễm môi trờng... để sản xuất diễn ra thuận lợi tăng hiệu quả. UBND huyện và
các ngành chức năng của huyện cần tăng cờng cùng các cơ sở và doanh nghiệp
tháo gỡ, giải quyết các khó khăn trong sản xuất cũng nh trong tiêu thụ sản
phẩm.[11, 33]
2.4. Tình hình phát triển ngành nghề thủ công nghiệp ở một số nớc
trên thế giới và Việt Nam
2.4.1. Phát triển ngành nghề thủ công nghiệp ở một số nớc trên thế giới
Việc phát triển TCN đã đợc các nớc trên thế giới và trong khu vực xem
đó là một giải pháp phát triển kinh tế xã hội nhằm tạo ra nhiều việc làm, tăng
thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân nông thôn. Hơn nữa các nớc cũng còn
xem xét phát triển TCN nh là một biện pháp để thực hiện công nghiệp hoá
(CNH)- hiện đại hoá (HĐH) nông nghiệp nông thôn.
* Nhật Bản. Ngành nghề TTCN của Nhật Bản bao gồm nhiều ngành
nghề khác nhau nh chế biến lơng thực, thực phẩm, nghề đan lát, nghề dệt chiếu,
nghề thủ công mỹ nghệ... Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, tuy tốc độ CNH
nhanh và phát triển mạnh, song một số làng nghề vẫn tồn tại và các nghề thủ
công vẫn đợc mở mang. Họ rất quan tâm chú trọng đến việc hình thành các xí
nghiệp vừa và nhỏ ở thị trấn, thị tứ ở nông thôn để làm vệ tinh cho các cho các
xí nghiệp lớn ở đô thị.
Đi đôi với việc thúc đẩy các ngành nghề thủ công cổ truyền phát triển.
Nhật Bản còn chủ trơng nghiên cứu các chính sách, ban hành các luật lệ, thành
lập các viện nghiên cứu, viện mỹ thuật và thành lập nhiều văn phòng cố vấn
khác. Nhờ đó các hoạt động phi nông nghiệp hoạt động một cách tích cực, thu
17
chuyên làm việc trong các hộ gia đình, trong các phờng nghề và các làng nghề.
Đến năm 1954, các ngành nghề TTCN đợc tổ chức vào các HTX, sau này trở
thành các xí nghiệp Hơng Trấn và cho đến nay vẫn tồn tại một số làng nghề.
Xí nghiệp Hơng Trấn là tên gọi chung các xí nghiệp công thơng nghiệp,
xây dựng và hoạt động ở khu vực nông thôn. Nó bắt đầu xuất hiện vào năm
1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách mở cửa. Xí nghiệp Hơng
Trấn phát triển mạnh mẽ đã góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt nông
thôn. Vào những năm 1980 các xí nghiệp cá thể và làng nghề đã phát triển
nhanh, góp phần tích cực trong việc tạo ra 68% giá trị sản lợng công nghiệp
nông thôn.
* Thái Lan. Thái Lan là nớc có nhiều ngành nghề TTCN và làng nghề
truyền thống. Các ngành nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ nh chế tác vàng,
bạc, đá quý và đồ trang sức đợc duy trì và phát triển tạo ra nhiều hàng hoá xuất
khẩu, đứng vào hàng thứ hai trên thế giới. Do kết hợp đợc tay nghề của các
nghệ nhân tài hoa với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nên sản phẩm làm ra đạt
chất lợng cao, cạnh tranh đợc trên thị trờng. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mỹ
nghệ vàng bạc đá quý năm 1990 đạt gần 2 tỷ đô la. Nghề gốm sứ cổ truyền của
Thái Lan trớc đây chỉ sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc nhng
gần đây ngành này đã phát triển theo hớng CNH, HĐH và trở thành mặt hàng
xuất khẩu thu ngoại tệ lớn thứ 2 sau gạo. Vùng gốm truyền thống ở Chiềng Mai
đang đợc xây dựng thành trung tâm gốm quốc gia với 3 mặt hàng: gốm truyền
thống, gốm công nghiệp và gốm mới, đợc sản xuất trong 21 xí nghiệp chính và
72 xí nghiệp lân cận. Cho đến nay 95% hàng hoá xuất khẩu của Thái Lan là đồ
dùng trang trí nội thất và quà lu niệm. Bên cạnh đó, nghề kim hoàn, chế tác
ngọc, chế tác gỗ vẫn tiếp tục phát triển đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân
c nông thôn.
19