Tiểu luận nguyên lý kinh tế nông nghiệp Thực trạng và giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau vụ đông ở thị trấn Như Quỳnh huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên - Pdf 24

Phần I: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu được
chia làm 4 mùa rõ rệt, thuận lợi để phát triển một ngành nông nghiệp đa dạng. Mặt
khác nước ta có gần 70% dân cư sống ở nông thôn, đây vừa là nguồn lao động lớn
đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và là lực lượng cơ bản
để nước ta thực hiện quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn. Có thể nói đó là điều kiện thuận lợi để nước ta
xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện và bền vững.
Trong nông nghiệp cây rau tuy chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng giá trị của
ngành trồng trọt nhưng nó có vai trò khá quan trọng, sản xuất rau mang lại hiệu quả
cao hơn trồng lúa và một số cây khác, bên cạnh đó nó còn tận dụng được nguồn lao
động nhàn rỗi và vốn đầu tư không cao. Trong những năm gần đây trồng rau chỉ mang
tính tự cấp tự túc nên phần lớn sản phẩm làm ra chỉ đủ tiêu dùng tại gia đình. Hiện
nay khi nền kinh tế phát triển, đô thị hóa phát triển thì rau lại trở thành hàng hóa quan
trọng.
Rau là thành phần không thể thiếu trong bữa ăn. Theo các nhà dinh
dưỡng học cho rằng cơ thể con người hoạt động bình thường cần 2300-
2500kcal/ngày, trong đó phải có 250- 300g rau/ngày. Như vậy nếu thức ăn của chúng
ta chỉ là các thức ăn từ động vật giàu chất béo và protit mà không có các thức ăn giàu
axitamin, vitamin, axit hữu cơ cũng như các chất khoáng, chất thơm thì cơ thể không
thể phát triển cân đối, các chất dinh dưỡng trong rau xanh đóng vai trò cân bằng dinh
dưỡng trong cơ thể người và giúp kéo dài tuổi thọ. Vậy cây rau không những có giá
trị về mặt dinh dưỡng mà còn có giá trị về mặt kinh tế, các sản phẩm phụ của ngành
rau còn là thức ăn phong phú tạo điều kiện phát triển chăn nuôi. Hiện nay nước ta đã
xuất hiện nhiều trung tâm nghiên cứu lai tạo ra nhiều giống mới năng suất cao, thời
gian gieo trồng ngắn ngày rất dễ dàng cho việc sản xuất rau.
Xuất phát từ những xu hướng trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng và giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau vụ đông ở thị trấn Như
Quỳnh huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu đề tài

2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra các sản phẩm đầu ra.
Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất không có sẵn trong tự nhiên nhưng lại rất
cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Đầu vào của sản xuất bao gồm các yếu tố sau: Lao động, đất đai, máy móc,
vốn, nguyên vật liệu, trình độ quản lý…các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau.
Đầu ra là kết quả của quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như: Lương thực,
thực phẩm, rau xanh, hoa quả nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người.
Mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra được thể hiện ở hàm sản xuất( hàm sản
xuất là mối quan hệ về mặt kỹ thuật giữa đầu vào và đầu ra).
Q= F( X
1,
X
2,
X
3,…,
X
n
) Trong đó: Q là sản lượng sản xuất ra
X
1,
X
2,
X
3,…,
X
n
là các yếu tố đầu vào
2.1.2. Vai trò và đặc điểm của sản xuất rau

dự trữ để duy trì chất lượng rau cho tốt.
Rau là loại cây trồng ngắn ngày, phong phú về chủng loại lại rất mẫn cảm với
sâu bệnh, rất thích hợp trồng xen canh, trồng gối. Do đặc điểm khí hậu của nước ta là
nóng ẩm thuận lợi cho sâu bệnh phát triển nên rau thường bị sâu bệnh làm giảm năng
suất và chất lượng. Tùy theo mức độ gây hại, thời gian gây hại mà sử dụng biện pháp
phòng trừ phù hợp. Đối với rau trái vụ thì đòi hỏi người trồng rau phải có những hiểu
biết về kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc.
Rau có đặc điểm là yêu cầu chăm sóc tỉ mỉ, phải đầu tư nhiều công lao động,
người lao động phải nắm bắt được yêu cầu cụ thể của từng loại rau để bố trí thời vụ,
luân canh cây trồng một cách thích hợp nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao.
Tư liệu sản xuất rau chủ yếu là đất. Tuy hiện nay khoa học kỹ thuật đã tạo ra
những dung dịch có thể nuôi sống cây trồng nhưng chi phí cao do đó đất vẫn là tư liệu
sản xuất chủ yếu không thể thay thế được.
Từ những đặc điểm rất cơ bản của cây rau cũng như việc chăm sóc chúng để
phát triển sản xuất rau thì các hộ nông dân phải nắm bắt được các đặc điểm trên để
chăm sóc cây rau tốt.
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất rau.
a. Các yếu tố tự nhiên
- Khí hậu thời tiết và thời vụ
Do đặc điểm khí hậu nước ta mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời
tiết thay đổi liên tục vì thế sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau vụ đông
nói riêng chịu ảnh hưởng rất lớn vì vậy cần nắm vững các đặc điểm sinh trưởng và
phát triển của rau cũng như điều kiện tự nhiên của vùng để khai thác triệt để các
nguồn tiềm năng vốn có nhằm đưa sản xuất và chất lượng rau ngày càng cao, đồng
thời hạn chế rủi ro có thể xảy ra.
Các yếu tố như: Nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, lượng mưa ảnh hưởng đến quá
trình sinh trưởng của cây rau. Rau vụ đông của nước ta phần lớn là những cây ưa rét
như: Xu hào, bắp cải, cà chua, khoai tây, súp lơ…Tuy nhiên trong thời gian ươm
giống hầu hết các loại cây đều ưa ấm vì vậy gieo hạt giống phải có biện pháp phòng
chống các điều kiện bất lợi cho cây con cũng như lựa chọn các giống cây phù hợp với

phần nào đến sản lượng cây trồng. Nếu không phun thuốc phòng trừ sâu bệnh cho rau
thì không chỉ ảnh hưởng tới vụ đanh trồng mà còn ảnh hưởng đến vụ sau.
c. Các yếu tố kinh tế xã hội
- Yếu tố về vốn:
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất rau nói riêng thì vốn
được thể hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào
sản xuất.
Trong sản xuất nông nghiệp thì sự tác động của vốn vào quá trình sản xuất
không phải trực tiếp mà bằng cách gián tiếp thông qua đất, cây trồng, vật nuôi…vốn
trong nông nghiệp rất đa dạng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: Máy móc,
cây giống, cây trồng lâu năm, trâu bò…
- Yếu tố lao động:
Lao động là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất rau. Cũng giống như các
ngành khác sản xuất rau không chỉ yêu cầu số lượng lao động mà còn yêu cầu về chất
lượng lao động. Trong sản xuất nông nghiệp ngoài các trang trại và các hộ sản xuất
với quy mô lớn thì tận dụng triệt để lao động gia đình và sản xuất theo hình thức lấy
công làm lãi.
- Yếu tố thị trường:
Tiêu thụ là khâu cuối cùng quyết định đến kết quả sản xuất và hiệu quả sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm là một khâu của quá trình tái sản xuất, giá trị sản phẩm được
thông qua việc tiêu thụ, thực hiện tốt việc tiêu thụ sản phẩm là kết quả quá trình sản
xuất tức là giải quyết khâu đầu ra cho quá trình sản xuất. Sản xuất phải hướng tới tiêu
dung và lấy tiêu dung làm mục tiêu để hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Chính sách và đường lối của Đảng và Nhà nước:
Cơ chế chính sách Nhà nước tác động trực tiếp đến tình hình chung của một số
nông sản trên thị trường. Đi đôi với việc kích thích sản xuất thì thông qua tác động
của thị trường là chính sách giá cả, chính sách tiêu thụ sản phẩm…thì Nhà nước chú ý
đầu tư vốn, xây dựng mạng lưới tiêu thụ cũng như xây dựng các nhà máy chế biến.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình phát triển sản xuất rau ở các nước trên thế giới

kinh nghiệm sản xuất lâu năm để lại, công cụ sản xuất chưa hiện đại. Những năm gần
đây cùng với sự nghiệp CHN- HĐH nông nghiệp nông thôn thì ngành trồng trọt nói
chung và ngành sản xuất rau nói riêng có những thay đổi đáng kể cả về diện tích,
năng suất, sản lượng cụ thể tính đến năm 2005 tổng diện tích trồng rau các loại trên cả
nước đạt 635,8 nghìn ha, sản lượng 9640,3 nghìn tấn, so với năm 1999 diện tích tăng
175.5 nghìn ha( tốc độ tăng bình quân 3,61%/năm), sản lượng tăng 3848,1 nghìn tấn.
Vùng sản xuất rau lớn nhất là Đồng bằng sông Hồng chiếm 27,56% về diện
tích và 29,6% về sản lượng rau cả nước, tiếp đến là Đồng bằng sông Cửu Long chiếm
21,6% về diện tích và 28,3% về sản lượng rau cả nước.

2.3. Thực trạng sản xuất rau vụ đông ở Thị Trấn Như Quỳnh – Huyện Văn Lâm
– Tỉnh Hưng Yên
2.1.1. Tổng quan tình hình sản xuất rau vụ đông của toàn Thị Trấn.
2.1.1.1 Diện tích rau vụ đông
Thị trấn Như Quỳnh là một vùng có truyền thống trồng rau từ rất lâu, mặt khác ở đây
lại có địa hình khá thuận lợi như gần thị trường Hà Nội, có khu công nghiệp nên
thuận lợi cho việc sản xuất và tiêu thụ. Chính vì vậy các hộ nông dân trong Thị Trấn
đã có xu hướng chuyển một phần diện tích một số cây khác sang trồng rau. Diện tích
các loại rau được thể hiện qua bảng biểu 1.
Qua số liệu biểu 1 cho thấy tổng diện tích trồng rau của toàn Thị Trấn Như Quỳnh
qua 3 năm gần đây đều tăng lên, cụ thể năm 2008 tổng diện tích đất trồng rau toàn Thị
Trấn là 41,26 ha, năm 2009 là 44,5 ha tăng 7,85% so với năm 2008 và đến năm 2010
là 50 ha tăng 12,3% so với năm 2009. Bình quân qua 3 năm diện tích trồng rau tăng
10,07%. Diện tích đất trồng rau tăng lên là do các hộ nông dân thấy được sản xuất rau
đạt hiệu quả cao hơn sản xuất các loại cây khác nên các hộ đã chuyển một số diện tích
đất trồng lúa năng suất thấp sang trồng rau. Trong tổng diện tích đất trồng rau của
toàn Thị Trấn thì diện tích trồng rau xanh chiếm tỷ lệ cao nhất trong đó chủ yếu là
Bắp cải, Súp lơ, Xu hào, diện tích 3 loại rau này tăng dần qua các năm, bình quân qua
3 năm diện tích trồng Bắp cải tăng 10,02%, rau Súp lơ tăng 23,44%, rau Xu hào tăng
12,54%. Như vậy 3 loại rau này được các hộ nông dân trong Thị Trấn trồng nhiều

7.26 17.60 6.00 13.48 5.30 10.60 82.64 88.33 85.44
Khoai tây 2.76 38.02 2.50 41.67 2.30 43.40 90.58 92.00 91.29
Đỗ các
loại
2.50 34.44 2.00 33.33 1.80 33.96 80.00 90.00 84.85
Cà chua 2.00 27.55 1.50 25.00 1.20 22.64 75.00 80.00 77.46
2.1.1.2. Năng suất một số loại rau vụ đông
Biểu 2: Năng suất một số loại vụ đông của Thị Trấn qua 3 năm (2008 – 2010)
Chỉ tiêu
Năng suất (tạ/ha) So sánh (%)
2008 2009 2010 09/08 10/09 BQ
1.Rau ăn lá 705,81 833,75 972,27 118,12 111,22 107,67
Bắp cải 457,05 548,75 639,87 120,06 116,60 108,01
Súp lơ 132,90 166,20 199,44 125,05 120,00 109,54
Xu hào 115,80 124,09 132,96 107,15 107,15 103,51
2.Rau ăn củ quả 844,85 819,90 816,45 97.05 99.58 98,30
Khoai tây 332,40 318,55 304,70 95.83 95.65 95,75
Đỗ các loại 96,95 99,70 110,80 102.84 111.13 106,90
Cà chua 415,50 401,65 400,95 96.67 99.83 98,23

Nguồn: Báo cáo Hợp Tác Xã
Về năng suất: Qua biểu 2 cho thấy năng suất của các loại rau tăng giảm qua các năm,
sự tăng giảm này phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết, nếu thời tiết thuận lợi sẽ cho năng
suất cao và ngược lại nếu thời tiết không thuận lợi thì năng suất giảm nhanh và có thể
mất mùa. Năng suất các loại rau xanh năm 2009 tăng mạnh trong đó năng suất Bắp
cải tăng 40%so với năm 2008, rau Súp lơ tăng 50% so với năm 2008. Rau Xu hào
tăng 35% so với năm 2008. Nguyên nhân do năm 2008 diễn biến khí hậu thời tiết
khắc nghiệt, mưa lũ xảy ra làm năng suất rau giảm nhanh chóng. Đến năm 2010 thời
tiết thuận lợi cho cây vụ đông nên năng suất các loại rau tiếp tục tăng nhanh so với
năm 2009 cụ thể năng suất rau Bắp cải tăng 16,67% so với năm 2009, rau Súp lơ tăng

tăng 73,68% so với năm 2009. Bình quân 3 năm sản lượng rau xanh tăng 21,10%.
Rau ăn củ quả có sản lượng thấp hơn rau xanh và giảm dần qua các năm, năm 2008 là
1990.799 tạ, năm 2010 giảm xuống còn 1382,39 tạ, tốc độ giảm bình quân 3 năm là
16,71%.
2.1.2. Tình hình sản xuất rau của các hộ
2.1.2.1. Đặc điểm cơ bản của các hộ
Biểu 4: Một số thông tin về các hộ điều tra
Chỉ tiêu ĐVT Nhóm I Nhóm II Nhóm III
Tính
chung
1.Tổng số hộ Hộ 9 30 21 60
2.Số năm trồng rau của hộ Hộ
Dưới 5 năm Hộ 6 3 1 10
Từ 5 – 10 năm Hộ 2 15 4 21
Trên 10 năm Hộ 1 12 16 39
3.Số lao động bình quân/hộ Lao
động
2 2.5 3
4.Diện tích trồng rau BQ/hộ sào 2.1 2.9 3.5
5.Phương tiện phục vụ
Bình phun Hộ 1 1 1.5
Xe đạp Hộ 1 2 2
Xe máy Hộ 1 1 1.5
Xe thồ Hộ 1 1 1
Máy bơm Hộ 0.5 0.5 1

Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Để có thể đánh giá một cách khách quan và đúng đắn về tình hình sản xuất rau vụ
đông của các hộ nông dân ở thị trấn Như Quỳnh chúng tôi thu thập thông tin của 60
hộ.

quân /hộ là 2,3 sào , nhóm II có diện tích bình quân /hộ là 1,45 sào và thấp nhất là
nhóm I với diện tích 1,25 sào / hộ.Đối với súp lơ thì nhóm III có diện tích bình
quân/hộ là 1.75 sào, nhóm II là 1.1 sào/hộ, nhóm I là 0,75 sào /hộ và đói với xu hào
thì nhóm III có diện tích bình quân trên hộ là 1.2 sào, và nhóm II là 06 sào/hộ,nhóm I
là 0.4 sào /hộ.Riêng đối với rau bắp cải thì diện tích các hộ được trồng trong cả 3 vụ
là vụ sớm-vụ chính-vụ muộn,còn rau súp lơ và xu hào thì đa số được trồng ở vụ
chính,rất ít hộ được trồng ở vụ sớm và vụ muộn, do thời tiết khí hậu 2 vụ nay không
thuận lợi mà yêu cầu chăm sóc của 2 loại rau này khá nghiệm ngặt.Tính bình quân
cho cả 3 nhóm hộ thì diện tích rau sup lơ là 1,28 sào /hộ rau xu hao là 0.78 sào/hộ.
Nhìn chung diện tích trồng rau của các hộ dân thị trấn là không lớn,điều này là do
nhiều yếu tố nhưng đặc biệt là do thị trường chưa lớn.Vậy để khuyến khích các hộ
trổng rau nơi đây mở rông quy mô sản xuất thì hợp tác xã cùng các hộ sản xuất phải
giải quyết tốt khâu tiêu thụ sản phẩm.
-Về năng suât: trên cùng một đơn vị diện tích gieo trồng nếu có chế độ chăm sóc
khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau,ngoài ra năng suất giữa các vụ khác nhau cũng
khác nhau
Biểu 6: Năng suất rau vụ đông của các nhóm hộ điều tra
Chi tiêu BQ
Năng suất ( kg/sào) So sánh(%)
Nhóm I Nhóm II Nhóm III NII/NI NIII/NI NIII/NII
1.Bắp cải
Vụ sớm 1765 1550 1700 1950 109.68 125.81 114.71
Vụ chính 2170 1975 2155 2275 109.11 115.19 105.57
Vụ muộn 2054 1875 2065 2112 110.13 112.80 102.42
2.Súp lơ 635.25 555 600 720 108.11 129.73 120.00
3.Xu hào 507.5 480 500 530 107.17 110.42 106.00

- Ta thấy trong các nhóm hộ điều tra thì nhóm I là nhóm có năng suất thấp hơn
nhóm II và nhóm III.
- Đối với rau bắp cải thì năng suất bắp cải vụ chính có năng suất cao nhất cụ thể là

3.Xu hào 401.40 192 300 636 156.25 331.25 212.00
Qua số liệu ở biểu 7 cho thấy trong 3 nhóm hộ thì nhóm III là nhóm có sản
lượng rau cao nhất. Đối với rau súp lơ sản lượng của nhóm III là 1050 kg/hộ, do diện
tích của nhóm hộ này cao nhất cùng với sự tăng nên của năng suất dẫn đến sản lượng
của nhóm này cao nhất.Riêng đối với bắp cải ngoài diện tích và năng suất giữa các
nhóm hộ có sự khác nhau thì giữa các vụ cũng khác nhau dẫn đến sản lượng của các
nhóm hộ là khác nhau. Sản lượng bình quân của 3 nhóm hộ ở vụ chính cao nhất là
3764,04 kg/hộ, vụ muộn là 3551,26 kg/hộ và thấp nhất là vụ sớm với sản lượng
3092,88 kg/hộ.
Nếu so sánh sản lượng giữa các nhóm hộ thì có sự chênh lệch rất lớn giữa
nhóm III và nhóm I. Đối với bắp cải vụ sớm có sự chênh lệch cao nhất nhóm III có
sản lượng gấp 2,31 lần so với sản lượng nhóm I. Đối với rau súp lơ sản lượng nhóm
III cao gấp 2,52 lần so với sản lượng của nhóm I và đối với xu hào sản lượng nhóm
III cao gấp 3,31 lần so với sản lượng nhóm I. Nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch về
sản lượng là so sự chênh lệch về diện tích giữa 2 nhóm hộ này là rất cao.
Tóm lại qua sự tìm hiểu về diện tích năng suất và sản lượng rau của các nhóm
hộ điều tra cho thấy nhóm III là nhóm luôn có diện tích, năng suất, sản lượng cao hơn
nhóm I và nhóm II, điều đó chứng tỏ nhóm III là nhóm có kỹ thuật, kinh nghiệm sản
xuất và công tác tổ chức tốt hơn.Chình vì vậy mà sự phối hợp trao đổi kinh nghiệm
sản xuất giữa các nhóm hộ là rất cần thiết để giảm bớt sự chênh lệch về diện tích-năng
suất-sản lượng
2.1.3. Chi phí sản xuất rau vụ đông các hộ
2.1.3.1.Bắp cải
Đối với cây trồng nói chung và cây rau nói riêng thì năng suất của nó ngoài
phụ thuộc các yếu tố khí hậu thời tiết… nó còn phụ thuộc vào các yếu tố như: Giống,
kỹ thuật chăm sóc, lượng phân bón, cách phòng trừ sâu bênh…. tất cả các yếu tố trên
gọi chung là mức đầu tư.Việc thay đổi mức đầu tư sẽ ảnh hưởng đến năng suất và
hiệu quả kinh tế, chính vì thế mà việc quyết định đầu tư như thế nào? mức đầu tư bao
nhiêu để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất là điều không dễ dàng.Đặc biệt trong sản
xuất nông nghiệp thì năng suất cây trồng nói chung cà cây rau nói riêng bị chi phối

bệnh phát triển nên các nhóm hộ phải mất nhiều chi phí về thuốc BVTV hơn vụ
muộn. Trong 3 nhóm hộ thì nhóm I có chi phí về thuốc BVTV/sào cao nhất. Cụ thể:
vụ sớm 150 nghìn đồng/sào, vụ chính 126,1 nghìn đồng/sào, vụ muộn là 106,1 nghìn
đồng/sào và nhóm III là nhóm có chi phí về thuốc BVTV/sào thấp nhất, cụ thể là: vụ
sớm 135 nghìn đồng/sào, vụ chính 92,3 nghìn đồng/sào và vụ muộn 86,5 nghìn
đồng/sào. Điều đó chứng tỏ nhóm III đã biết cách phòng trừ, nhận dạng sâu bệnh
cũng như nắm bắt được nên phun thuốc vào thời kỳ nào là tốt nhất.
Ngoài những chi phí trên thì các hộ trên còn phải bỏ thêm chi phí làm đất, bơm
nước…
Nhìn chung nhóm III có chi phí/sào thấp hơn nhóm I và nhóm II nhưng lại cho
năng suất cao hơn. Điều này chứng tỏ nhóm III đã biết cách đầu tư chăm sóc thường
xuyên và hợp lý.
Biểu 8: Chi phí sản xuất cho 1 sào Bắp cải của các hộ điều tra
Thị Trấn Như Quỳnh
(ĐVT: 1000đ)
Diễn giải
Vụ sớm Vụ chính Vụ muộn BQ
NI NII NIII NI NII NIII NI NII NIII NI NII
Tổng chi phí 699 648.1 631.45 611.85 586.25 571.5 627.6 625.6 612.5 636.15 619.98
1.Chi phí vật chất 635 612.1 594.45 581.85 554.25 539 594.6 589.6 575.5 603.82 585.32
- Giống 70 70 70 70 70 70 95 95 95 78.33 78.33
- Phân bón 330 316.5 304.45 300.75 293.65 291.7 308.5 314 309 313.08 308.05
120 114 108 102.75 98.55 96.8 113.5 113 110 112.08 108.52
75 69.5 67.45 74.5 73.6 73.4 70 71 71 73.17 71.37
65 58.5 53 52.5 52 51 54 54.5 55 57.17 55.00
Phân chuồng 70 74.5 76 71 69.5 70.5 71 75.5 73 70.67 73.17
- Thuốc BVTV 150 140.6 135 126.1 105.6 92.3 106.1 95.6 86.5 127.40 113.93
- Bơm nước 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30.00 30.00
- Làm đất 55 55 55 55 55 55 55 55 55 55.00 55.00
2. Các khoản khác 34 36 37 30 32 32.5 33 36 37 32.33 34.67

khâu công việc khác như: làm đất, bơm nước.
Trong sản xuất rau thì công lao động gia đình đóng vai trò rất quan trọng, bình
quân thì rau Súp lơ và rau Xu hào cần số công lao động ít hơn số công lao động cho
rau Bắp cải. Nguyên nhân do thời gian trồng 2 loại rau này ngắn hơn, mặt khác do
năng suất 2 loại rau này thấp hơn nên dẫn đến số công lao động thấp hơn.
Nhìn chung các hộ sản xuất với quy mô lớn có sự am hiểu kỹ thuật trồng rau
cũng như biết lựa chọn đúng thuốc và cách phòng trừ sâu bệnh đúng thời điểm chính
vì vậy mà năng suất của nhóm hộ này cao hơn.
Biểu 9: Chi phí sản xuất cho một sào Súp lơ – Xu hào của các nhóm
hộ điều tra Thị Trấn Như Quỳnh
(ĐVT: 1000đ)
Diễn giải
Súp lơ Xu hào
NI NII NIII BQ NI NII NIII BQ
Tổng chi phí 609.25 607.2 604.8 606.67 491.3 489.35 481.3 486.83
1. Chi phí trung gian 584.25 581.2 578.8 580.82 471.3 468.35 460.3 465.98
- Giống 160 160 160 160.00 80 80 80 80.00
- Phân bón 248.25 247.2 249.8 248.27 233.3 238.35 244.8 239.85
96 91.8 90.5 91.98 80 75.6 74.4 75.84
63.75 61.5 60 61.31 50 52.5 53.4 52.44
32.5 36.4 40.3 37.18 43.3 45.5 47.45 45.85
Phân chuồng 56 57.5 59 57.80 60 64.75 69.55 65.72
- Thuốc BVTV 91 89 84 87.55 73 65 50.5 61.13
-Bơm Nước 30 30 30 30.00 30 30 30 30.00
-Làm đất 55 55 55 55.00 55 55 55 55.00
2. Chi phí khác 25 26 26 25.85 20 21 21 20.85
2.1.4. Kết quả và hiệu quả sản xuất rau vụ đông của các hộ nông dân trong năm
2010
2.1.4.1. Bắp cải
Kết quả và hiệu quả rau Bắp cải được thể hiện ở biểu 10 như sau:

Diễn giải ĐVT Súp lơ Xu hào
Nhóm I Nhóm II Nhóm III BQ Nhóm I Nhóm II Nhóm III BQ
1,Năng suất Kg/sào 555 600 720 635.25 480 500 530 507.50
2,Giá bình quân 1000 đ 5 4.75 4.2 4.60 2.25 2.18 2.15 2.18
3,Giá trị sản xuất 1000 đ 2775 2850 3024 2899.65 1080 1090 1139.5 1105.83
4, Tổng chi phí 1000 đ 707.25 703.2 694.8 700.87 578.3 570.35 559.3 567.68
Chi phí sản xuất 1000 đ 609.25 608.2 604.8 607.17 491.3 489.35 481.3 486.83
Chi phí tiêu thụ 1000 đ 98 95 90 93.70 87 81 78 80.85
5,Thu nhập H hợp 1000 đ 2067.75 2146.8 2329.2 2198.78 501.7 519.65 580.2 538.15
6,Công lao động Công 30 31 31.5 31.03 20 21 21.5 21.03
7,Các chỉ tiêu
TNHH/công lđ 1000 đ 69.25 69.25 73.94 70.84 25.09 24.75 26.99 25.58
GTSX/công lđ 1000 đ 91.94 92.50 96.00 93.44 54.00 51.90 53.00 52.60
Nguồn : Tổng hợp từ phiều điều tra
Rau Súp lơ và rau Xu hào là hai loại rau cho khối lượng sản phẩm không nhiều bằng rau Bắp
cải nhưng mang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao.
- Đối với rau Súp lơ: Trong 3 nhóm hộ thì nhóm III cho năng suất cao nhất với 720 kg/sào, do
đặc điểm của rau Súp lơ không cồng kềnh và khối lượng trung bình/cây chỉ khoảng 0,5 – 0,6
kg, không cao bằng Bắp cải, các hộ ở đây trồng với diện tích không lớn nên có điều kiện tiêu
thụ qua kênh trực tiếp vì thế mà giá bình quân/kg rau Súp lơ cao hơn nhiều so với Bắp cải.
Qua số liệu biểu 11 cho thấy nhóm I là nhóm có khối lượng rau bán lẻ nhiều nên giá bình quân
của nhóm này cao nhất với 5000 đ/kg, và nhóm III có giá bình quân thấp nhất với 4,2 nghìn đồng/kg,
mặc dù bán với giá thấp nhưng nhóm này có thu nhập hỗn hợp/sàolà 2329,2 nghìn đồng/sào, tổng chi
phí/sào Súp lơ của nhóm này lại thấp nhất là 694,8 nghìn đồng/sào, vì vậy mà TNHH/công lao động
là 70,84 nghìn đồng cao nhất trong các nhóm hộ. Như vậy trong 3 nhóm hộ thì chúng tôi thấy nhóm
III là nhóm sản xuất rau Súp lơ đạt hiệu quả nhất do đặc điểm của rau Súp lơ đỡ cồng kềnh nên các
hộ đã tiêu thụ trực tiếp với khối lượng tương đương khối lượng tiêu thụ gián tiếp nên nhóm hộ sản
xuất với quy mô lớn đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
- Đối với rau Xu hào: Trong 3 nhóm hộ thì nhóm III có TNHH/sào cao nhất đạt 580,2 nghìn
đồng/sào, TNHH/công lao động gia đình là 26,98 nghìn đồng, nhóm I là nhóm có TNHH/công lao

tâm đến các yếu tố tác động trực tiếp và các yếu tố tác động gián tiếp đến quá trình sản xuất kinh
doanh.
Điều kiện tự nhiên là yếu tố tác động trực tiếp đến năng suất, sản lượng của cây trồng. Qua tìm
hiểu, người dân ở đây đã biết cách phối hợp giữa các vụ để trồng các loại rau trái vụ và điển hình ở
đây là rau Bắp cải sớm và muộn.
- Đất đai: Vị trí từng loại đất có ảnh hưởng đến quá trình hình thành độ phì nhiêu của đất, độ
phì nhiêu của đất liên quan đến năng suất cây trồng nói riêng và rau vụ đông nói chung. Do đó việc
khai thác đất có hiệu quả đòi hỏi người nông dân cần bón phân cho phù hợp để vừa thu được năng
suất cao vừa tránh làm cằn hóa đất.
- Mức đầu tư thâm canh: Muốn cho năng suất cao chúng ta phải đầu tư thâm canh nhưng chỉ với
một mức độ nào đó vì cây trồng tuân theo quy luật năng suất cận biên giảm dần, mà người nông dân
trồng rau theo kinh nghiệm là chính, trình độ hiểu biết kỹ thuật và mức đầu tư cho mỗi loại cây còn
kém nên họ chỉ đầu tư một cách áng chừng.
Việc sử dụng quá nhiều các đầu vào có nguồn gốc hóa học là nguyên nhân dẫn đến mất an toàn
thực phẩm và làm ô nhiễm môi trường. Như vậy sử dụng nhiều các loại phân đã ảnh hưởng tích cực và
tiêu cực đến phát triển sản xuất hiện nay.
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đầu vào tới hiệu quả sản xuất rau một cách đúng
dắn là rất khó khăn nhưng có ý nghĩa rất lớn đối với người sản xuất. Chỉ trên cơ sở đánh giá đúng ảnh
hưởng của từng nhân tố đầu vào tới kết quả mới cho phép lựa chọn quy mô sản xuất kinh doanh hợp lý
và có hiệu quả. Các yếu tố tác động qua lại lẫn nhau vì vậy có thể tăng loại phân này thì giảm loại phân
kia.
Thuốc bảo vệ thực vật cũng là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng, nó không phải
là yếu tố quyết định đến năng suất cây trồng nhưng nó là nhân tố rất quan trọng để giữ được mức năng
suất đó.
- Các biện pháp kỹ thuật:
+ Giống: là yếu tố quyết định đến năng suất và chất lượng cây trồng. Ngày nay công nghệ sinh
học phát triển giúp cho việc lai tạo giống dễ dàng hơn. Ở nước ta hiện nay phần lớn là các giống rau
nhập từ Trung Quốc, Nhật Bản…
+ Tưới tiêu nước: Rau là loại cây cần rất nhiều nước vì vậy việc cung cấp nước cho rau là rất cần
thiết, mấy năm qua HTX đã cho máy bơm hoạt động liên tục và đã thuê một máy bơm dầu bơm phục

Tổng DT rau xanh 44.7 100.00 54.53 100.00 67.62 100.00
Bắp cải 23 51.45 26 47.68 30.5 45.11
Súp lơ 16 35.80 21 38.51 28 41.41


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status