z
Luận văn
Thực trạng và giải pháp
nhằm phát triển thị trường
tiêu thụ sản phẩm của
Công ty dệt may xuất nhập
khẩu Huy Hoàng
1
LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu sự chuyển mình của
nền kinh tế Việt Nam. Đất nước ta chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế từ cơ chế
hành chính, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quẩn lí
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo cơ chế mới này tất cả
các thành phần kinh tế đều được tự do phát triển, tự mình tìm thị trường kinh
doanh, tự hạch toán kinh doanh, mở rộng thị trường của mình. Nếu doanh
nghiệp nào làm ăn có lãi, có chỗ đứng trên thị trường thì sẽ tồn tại, nếu doanh
nghiệp nào làm ăn thua lỗ thì sẽ bị đào thải khỏi thị trường.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh muốn tồn tại và phát triển thì cần phải có một chiến lược sản
xuất kinh doanh cụ thể, đúng đắn và có hiệu quả. Một trong những chiến lược
Do trình độ nhận thức còn có hạn, thời gian thực tập tại công ty không
nhiều, những thiếu sót xuất hiện trong chuyên đề này là điều không tránh
khỏi. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô cùng các cô,
chú và các anh, chị trong công ty để chuyên đề này được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Bình, ngày 5 tháng 7 năm 2005.
Sinh viên thực hiện. Nguyễn Quang Vinh 3NỘI DUNG
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TIÊU THỤ:
1. Khái niệm về tiêu thụ:
Tiêu thụ là một quá trình đưa sản phẩm từ nhà cung cấp đến người sử
dụng cuối cùng nhằm mục đích để thu được tiền.
Ý nghĩa:
hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp sản xuất. Hoạt động tiêu
thụ của doanh nghiệp có thuận lợi, có thu được hiệu quả thì vốn của doanh
nghiệp mới được quay vòng nhanh, mới có hiệu quả, hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp mới có thể diễn ra một cách liên tục và đem lại lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Do vậy, đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
cũng có những yêu cầu cụ thể sau đây:
- Hoạt động tiêu thụ sản phẩm phải được tiến hành một cách nhanh
nhất, thuận lợi nhất, an toàn và đảm bảo sự ổn định về số lượng và chất lượng
sản phẩm.
-Hoạt động tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo được tính lâu dài của mạng
lưới tiêu thụ sản phẩm.
-Đảm bảo tiêu thụ nhanh chóng sản phẩm và đảm bảo thời gian thu hồi
vốn nhanh nhất.
- Đảm bảo uy tín và chất lượng của nhà sản xuất đối với người tiêu
dùng thông qua các chính sách hậu mãi và tiếp thị sản phẩm.
II. NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP:
1. Nghiên cứu và dự báo thị trường:
Trong kinh doanh muốn kinh doanh trên lĩnh vực nào thì ta phải tìm
hiểu rõ những yếu tố văn hoá, xã hội con người ở nơi mà trong đó diễn ra hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu nhu cầu thị trường
5
thực chất là tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu sức mua của người tiêu dùng để xác
định đâu là thị trường trọng điểm đâu là thị trường tiềm năng của công ty.
Việc xác định này là vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
bất kể doanh nghiệp đó hoạt động trong lĩnh vực nào. Vì vậy nghiên cứu nhu
cầu thị trường là khâu đầu tiên của quá trình kinh doanh, đó là việc tìm kiếm
và khai thác cơ hội kinh doanh xuất hiện trên thị trường. Mục đích của việc
nghiên cứu nhu cầu thị trường là xác định khả năng bán một loại mặt hàng
hoặc một nhóm mặt hàng trên thị trường. Nếu ta xác định thị trường quá hẹp
Nhược điểm: của phương pháp này là khó khăn trong việc lựa chọn
thông tin từcác nguồn khác nhau, thông tin có thể bị cũ, thông tin không chính
xác, không đầy đủ, độ tin cậy không cao.
Ưu điểm : Dễ thực hiện tiết kiệm chi phí.
Thông tin sơ cấp thu được khi sử dụng một số phương pháp như: Quan
sát, thực nghiệm thăm dò, phỏng vấn. Sau khi thu thập các thông tin cần thiết
công ty cần phải tiến hành xử lý thông tin để loại bỏ những thông tin không
quan trọng, chưa chính xác, không thuyết phục. Trên cơ sở đó xây dựng
phương án kinh doanh có tính khả thi. Trên cơ sở các phương án đưa ra doanh
nghiệp tiến hành đánh giá lựa chọn và quyết định phương án có hiệu quả nhất.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu thị trường:
+ Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, công ty nâng cao khả năng thích
ứng với thị trường của các sản phẩm do mình sản xuất ra và tiến hành tổ chức
tiêu thụ sản phẩm hàng hoá mà thị trường đòi hỏi.
+ Doanh nghiệp có thể dự đoán hàng hoá tiêu thụ trên thị trường.
+ Thông qua nghiên cứu thị trường doanh nghiệp xác định được đối thủ cạnh
tranh, điểm mạnh, điểm yếu của họ.
*Nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh:
Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan
tâm đến các đối thủ cạnh tranh. Đối thủ cạnh tranh là người đang chiếm giữ
một phần thị phần và giành giật một phần khách hàng của doanh nghiệp. Do
vậy doanh nghiệp cần phải tìm cách để nắm bắt, phân tích các thông tin về đối
thủ như: Chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách sản phẩm v.v từ
đó có các biện pháp phù hợp.
7
2.Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm:
2.1. Chính sách sản phẩm:
Để có được chiến lược sản phẩm đúng đắn bên cạnh việc tìm hiểu các
nhu cầu về thị trường và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp thì doanh nghiệp
giảm dần. Trong giai đoạn này thì chi phí kinh doanh tính cho một đơn vị sản
phẩm thấp nhất, lãi tính cho một đơn vị sản phẩm cao nhất do khối lượng sản
phẩm bán ra lớn nhất nên tổng lợi nhuận thu được lớn nhất. Khi sản lượng tiêu
thụ bị chững lại và giảm xuống, doanh nghiệp cần có ngay các biện pháp,
chính sách để khai thác thị trường ở giai đoạn tiếp sau.
- Giai đoạn suy thoái: Đặc trưng của giai đoạn này là khối lượng sản
phẩm tiêu thụ giảm rất nhanh.Nếu không giảm sản lượng sản xuất thì khối
lượng sản phẩm tồn kho lớn dần dẫn tới lợi nhuận giảm nhanh. Nếu tình trạng
này kéo dài thì doanh nghiệp có thể bị thua lỗ nặng dẫn tới phá sản. Doanh
nghiệp cần phải tìm những biện pháp hữu hiệu để khắc phục như: cải tiến sản
phẩm, quảng cáo, chuẩn bị sẵn những sản phẩm thay thế để đảm bảo cho hoạt
động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục.
Nghiên cứu phân tích chu kỳ sống của sản phẩm hiểu biết tỷ mỷ vấn đề
này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà kinh doanh. Vì nó giúp cho các nhà
kinh doanh hiểu biết được bản chất của vấn đề phát triển sản phẩm mới từ đó
tìm mọi cách nâng cao lợi nhuận giảm thiểu rủi ro.
2.2. Chính sách giá cả:
Việc quy định mức giá bán cho một sản phẩm của doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh gọi là chính sách giá. Việc định giá sản phẩm là một quyết
dịnh quan trọng đối với doanh nghiệp vì giá cả sản phẩm luôn được coi là
công cụ mạnh mẽ hữu hiệu trong sự cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường.
Xác định giá cả cho hàng hoá là một quá trình gồm 6 bước:
+ Bước 1: Công ty xác định mục tiêu hay những mục tiêu Marketing
của mình như: đảm bảo sống sót, tăng tối đa lợi nhuận trước mắt, giành vị trí
dẫn đầu về thị phần hay chất lượng sản phẩm hàng hoá.
9
+ Bước 2: Công ty xây dựng cho mình đồ thị đường cầu thể hiện số
lượng hàng hoá chắc chán sẽ bán được trên thị trường trong một khoảng thời
giao tiếp khuyếch trương, tiếp thị, qảng cáo cho sản phẩm đến được với người
tiêu dùng.
2.4. Chính sách phân phối:
Phân phối là toàn bộ các công việc để đưa một sản phẩm hoặc dịch vụ
từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng có nhu cầu đảm bảo về chất lượng thời
gian, số lượng, chủng loại mà người tiêu dùng mong muốn.
Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ các nhà
sản xuất đến người tiêu dùng, nhờ nó mà khắc phục được những ngăn cách dài
về thời gian địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất
Với người tiêu dùng. Do vậy mỗi doanh nghiệp cần phải tìm ra kênh
phân phối hiệu quả nhất cho mình.
Hình 9 : Sơ đồ các kênh phân phối. Các kênh phân phối được phân loại theo số cấp cấu thành chúng.
Kênh không cấp( kênh tiêu thụ trực tiếp): Gồm các nhà sản xuất bán
hàng trực tiếp cho người tiêu dùng. Phương thức bán là bán tại công ty, bán
lưu động.
Kênh một cấp: Bao gồm một người trung gian.Trên các thị trường
người tiêu dùng người trung gian này thường là người bán lẻ. Còn trên thị
Nhà SX
dễ tạo uy tín với khách hàng. Phương thức phân phối trực tiếp diễn ra chậm,
công tác thanh toán phức tạp, doanh nghiệp là người chịu rủi ro.
Đối với kênh tiêu thụ gián tiếp thì việc phân phối diễn ra nhanh chóng,
công tác thanh toán đơn giản. Nếu xảy ra rủi ro thì sau khi giao hàng các tổ
chức trung gian phải chịu trách nhiệm . Mặc dù vậy ở kênh gián tiếp này công
ty không quan hệ trực tiếp với thị trường, với người tiêu dùng nên rất khó
kiểm tra đánh giá phản hồi từ phía khách hàng.
Trên thực tế doanh nghiệp thường sử dụng cả kênh tiêu thụ trực tiếp và
kênh tiêu thụ gián tiếp. Doanh nghiệp vừa bán sản phẩm của mình cho trung
gian vừa mở cửa hàng bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng
phát huy được ưu điểm của cả hai phương thức trên.
Khi xây dựng kênh phân phối doanh nghiệp cần tính đến:
+ Đặc điểm thị trường, sản phẩm.
+ Đặc tính kỹ thuật của sản phẩm.
+ Đặc điểm của đối thủ cạnh tranh.
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIÊU THỤ SẢN PHẨM:
1. Nhóm nhân tố khách quan:
1.1.Nhu cầu của thị trường:
Thị trường là nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển sản xuất
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Có thể nói, thị trường chính là môi trường
sống của các doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại nếu tách khỏi
thị trường, hoạt động trái với các quy luật phát triển của thị trường. Tuy nhiên,
doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động dựa theo quy luật phát triển của thị trường
12
mà không thể điều chỉnh thị trường được, do vậy thị trưồng tiêu thụ chính là
nhân tố khách quan điều chỉnh trực tiếp, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp. Bất kì một doanh nghiệp nào khi đầu tư vào một
loại sản phẩm đều phải xét đến nhu cầu của thị trường để có những chính sách
đầu tư hợp lí cho sản phẩm.
phẩm hàng hoá cao cấp, xa xỉ khối lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ giảm khi giá cả
tăng lên. Vì vậy, công ty cần quyết định khối lượng sản phẩm tiêu thụ và giá
cả như thế nào cho hợp lý nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
+ Chất lượng sản phẩm : Là tập hợp những đặc tính không thể thiếu
được của các sản phẩm. Nó được xác định bằng các thông số kỹ thuật có thể
so sánh đo lường được. Càng hoạt động trong môi trường cạnh tranh mạnh,
chất lượng càng cần thiết vì nó là một trong các nhân tố chủ yếu để quyết định
sức cạnh tranh cuả công ty. Nó tác động tới lợi nhuận và uy tín của công ty
trên thị trường. Công ty không thể bán được nhiều, không thể giữ uy tín với
khách hàng nếu sản phẩm của công ty chất lượng tồi. Chất lượng sản phẩm tốt
có thể làm cho tốc độ tiêu thụ sản phẩm nhanh hơn và ấn tượng tốt hơn đối
với khách hàng. Chính vì thế công ty phải không ngừng nâng cao chất lượng
sản phẩm.
Công tác tổ chức tiêu thụ: Bao gồm các khâu khác nhau từ việc thiết kế
mạng lưới tiêu thụ, quảng cáo khuyến mại Nếu công tác tổ chức tiêu thụ
không tốt sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ quá trình kinh doanh. Và ngược
lại nếu tổ chức tốt thì công ty sẽ tiêu thụ nhiều sản phẩm hơn, doanh thu tăng ,
vòng quay vốn lưu động tăng, giảm chi phí dự trữ bảo quản Vì vậy công ty
cần lựa chọn tổ chức tiêu thụ sao cho phù hợp với đặc tính của sản phẩm và
quy mô sản xuất. Bên cạnh đó công ty còn tổ chức các hoạt động hỗ trợ như:
Quảng cáo, khuyến mại, dịch vụ sau bán hàng, hội họp để tạo dựng lòng tin
của khách hàng đối với công ty.
VI. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA
DOANH NGHIỆP:
1. Lượng sản phẩm tiêu thụ:
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, lượng sản phẩm tiêu thụ là
những sản phẩm đã xuất kho thành phẩm để giao cho khách hàng và đã nhận
được tiền. Xác định lượng sản phẩm trong năm phải căn cứ vào sản lượng sản
14
nhiều vẻ và đa dạng của khách hàng, cho phép tăng được số lượng hàng hoá
và dịch vụ bán ra.
Doanh thu của doanh nghiệp được xác định theo công thức:
TR= Q
i
x P
i
.
TR: Doanh thu của doanh nghiệp.
Q
i
: Khối lượng hàng hoá, dịch vụ i.
P
i
: Giá cả hàng hoá dịch vụ i.
Doanh thu của doanh nghiệp phụ thuộc vào khối lượng hàng hoá và
dịch vụ bán ra và phụ thuộc vào gía cả hàng hoá và dịch vụ đó. Trong cơ chế
thị trường nếu khối lượng hàng hoá dịch vụ bán ra càng nhiều thì giá cả hàng
hoá dịch vụ sẽ hạ xuống và ngược lại theo quy luật cung cầu. Vì vậy đối với
15
mỗi loại hàng hoá dịch vụ trên mỗi thị trường cần phải tính toán doanh thu
biên( MR) bằng chi phí biên( MC ).
MR= MC.
Từ đó mới quyết định lượng cung hàng hoá và dịch vụ. Khối lượng
hàng hoá dịch vụ bán ra của doanh nghiệp nhiều hay ít, giá cả cao hay thấp
còn phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng hàng hoá nhu cầu của khách hàng dung
lượng thị trường, địa điểm bán hàng, phương thức phân phối và bán hàng.
3. Lợi nhuận và mức doanh lợi:
Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất kinh
phẩm, từ đó có khả năng hạ thấp giá bán sản phẩm trên thị trường và tạo điều
kiện thuận lợi cho công tác tiêu thụ sản phẩm. Việc tiêu thụ sản phẩm được
thực hiện tốt có điều kiện để kích thích sản xuất phát triển, có những biện
pháp động viên thực tế đến sản xuất nhờ đó mà năng suất lao động được nâng
cao.
Năng suất lao động được xác định bằng số sản phẩm sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian của một cá nhân hay tập thể.
Năng suất lao động của cá nhân= Q/T.
Q: Là số lượng sản phẩm cá nhân sản xuất trong kỳ kế hoạch.
T: Thời gian kỳ kế hoạch( 1 tháng, 3 tháng).
Năng suất lao động bình quân= Q/ Tx Số người lao động.
Q: Số lượng sản phẩm của đơn vị cả một dây truyền sản xuất trong kỳ
kế hoạch.
T: Thời gian kỳ kế hoạch.
Số người lao động: Số người lao động thực tế của đơn vị.
5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định và vốn lưu động:
Vốn cố định là một giá trị ứng ra để đầu tư vào các tài sản cố định nhằm
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn này sẽ
tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu hao dần theo sự hao mòn của tài sản cố
định.
17
Hiệu quả sử dụng vốn cố định là những kết quả mà doanh nghiệp đạt
được trong việc bảo toàn vốn cố định. Bảo toàn vốn cố điịnh là bảo toàn được
năng lực sản xuất của tài sản cố định. Để thực hiện điều này, doanh nghiệp
phải thực hiện quản lý chặt chẽ không để mất mát tài sản cố định, thực hiện
đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng sửa chữa, mua sắm tài sản cố định nhằm
duy trì và nâng cao năng lực của tài sản cố định, đồng thời doanh nghiệp cần
chủ động đổi mới tài sản cố định.
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động
tiêu thụ với tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất sản phẩm hàng hoá.
2. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu:
Phân tích tình hình thực hiện kế hoach tiêu thụ không chỉ dừng lại ở
việc đánh giá tình hình tiêu thụ về mặt khối lượng sản phẩm mà còn phải tiếp
tục phân tích tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ những mặt hàng chủ
yếu.Bởi vì công ty không thực hiện tốt kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu sẽ
ảnh hưởng tình hình tài chính của công ty,tình hình sản xuất, kinh doanh làm
giảm uy tín của công ty.
Nguyên tắc phân tích là: Không lấy giá trị mặt hàng tiêu thụ vượt mức
bù cho những mặt hàng không hoàn thành kế hoạch tiêu thụ.
Trình tự phân tích:
Căn cứ vào tỷ lệ hoàn thành kế hoạch mặt hàng đánh giá tình hình thực
hiện kế hoạch tiêu thụ của công ty.
Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ từng loại sản phẩm để
thấy được nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình trên.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TIÊU THỤ SẢN
PHẨM CỦA CÔNG TY DỆT MAY HUY HOÀNG TRONG THỜI GIAN QUA
I. SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH:
1. Lịch sử ra đời và phát triển của doanh nghiệp:
1.1.Tên công ty:
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN DỆT MAY HUY HOÀNG
1.2 Trụ sở chính:
Khu công nghiệp Chùa Tổng-La Phù- Hoài Đức- Hà Tây
Điện thoại: 034.650318
19
Fax: 034.650319
Email:
1.3. Nghành nghề kinh doanh chủ yếu:
- Phân xưởng dệt .
- Phân xưởng nhuộm.
- Phân xưởng may số 1.
- Phân xưởng may số 2.
- Phân xưởng may số 3.
- Phân xưởng bao gói sản phẩm.
- Đơn vị dịch vụ.
2. Chức năng nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp:
*Chức năng:
Chức năng chính của công ty là sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu các
mặt hàng: Sợi các loại, vải dệt kim , sản phẩm dệt kim , sản phẩm khăn, vải
Denim, sản phẩm Denim, mũ và các loại nguyên vật liệu trang thiết bị chuyên
nghành dệt may: bông, sơ, hoá chất, thuốc nhuộm, máy móc.
*Nhiệm vụ:
-Xây dựng thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh.
-Thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.
-Chăm lo đời sống tinh thần cho người lao động.
3. Cơ cấu tổ chức quản lí và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
3.1. Chế độ quản lý:
Giám đốc của công ty là người đại diện pháp nhân của công ty điều
hành mọi hoạt động của công ty theo chế độ một thủ trưởng. Giám đốc chịu
trách nhiệm về toàn bộ kết quả kinh doanh của công ty.
Giúp việc cho giám đốc có các phó giám đốc điều hành và kế toán
trưởng do Giám đốc chọn và đề nghị bộ bổ nhiệm. Các bộ phận quản lý cấp
đốc công các phân xưởng thành viên trở xuống do giám đốc bổ nhiệm.
Hình 2: Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty dệt may Huy Hoàng
đề nghị nâng bậc cho công nhân sản xuất, duyệt các thiết kế, định mức
Phó giám đốc điều hành kinh doanh: Là người chịu trách nhiệm trước
giám đốc về các lĩnh vực cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng các
phương án sản xuất kinh doanh, phân tích các hoạt động kinh tế, tính toán
hiệu quả kinh tế, chăm lo đời sống cán bộ công nhân viên.
3.2. Các phòng ban chức năng:
Đứng đầu các phòng ban chức năng là các trưởng phòng.
Phòng tài chính kế toán: Giúp việc cho giám đốc về toàn bộ công tác
hạch toán thống kê tài chính, xây dựng kế hoạch tài chính, xây dựng các định
mức chi phí, tìm nguồn vốn để thực hiện công tác hạch toán kế toán thống kê
theo chế độ hiện hành.
Phân
xưởng
dệt số
Phân
xưởn
g bao
gói SP 22
Phòng xuất nhập khẩu: Xác định mục tiêu phương hướng kinh doanh
xuất nhập khẩu. Tìm kiếm đầu vào đầu ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty.
Phòng KCS: Có nhiệm vụ giúp việc cho tổng giám đốc chức năng kiểm
tra chất lượng sản phẩm. Nhiệm vụ của trung tâm là nâng cao, kiểm tra chất
lượng sản phẩm, xây dựng các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm.
Phòng điều hành sản xuất:Có nhiệm vụ điều tiết công việc sản xuất của
công ty nói chung và của các nhà máy thành viên nói riêng.
Hình1 : Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty dệt may. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty có thể chia ra nhiều
giai đoạn riêng biệt, gián đoạn về mặt thời gian không đòi hỏi tính liên tục
chặt chẽ trong quá trình gia công chế biến như từ bông kéo thành sợi, từ sợi
dệt thành vải, từ vải mộc nhuộm in hoa thành vải thành phẩm, từ vải thành
phẩm cắt may thành các sản phẩm quần áo đều tiến hành ở những phân xưởng
sản xuất riêng biệt.
Sợi
Cung
Bông
Chải
Ghép
Trong mỗi giai đoạn công nghệ sản xuất được thực hiện ở một số phân
xưởng sản xuất. Sản phẩm của từng giai đoạn sản xuất như: Sợi, vải mộc, vải
thành phẩm, sản phẩm may đều có giá trị sử dụng độc lập và có thể được tiếp
tục chế biến trong nội bộ công ty hoặc bán ra ngoài thị trường.
* Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm sợi:
Cung bông: Bông, xơ được xé nhỏ từ các kiện bông nguyên liệu. Mỗi
miếng bông có khối lượng 100g- 150gam được đưa vào máy bông để làm
thành những miếng nhỏ 1mg- 1,5mg sau được đưa sang máy chải.
Chải: Tại đây bông được loại trừ đến mức tối đa các tạp chất, xơ kết.
Máy chải làm cho các xơ duỗi thẳng hơn và song song với nhau theo hướng ra
của cúi tạo thành cúi chải.
Ghép: Các cúi chải, từ 6-8 cúi chải có cùng độ nhỏ được đưa vào máy
ghép tạo thành cúi ghép đồng thời các suốt kéo dài để muốt làm cho các sơ
duỗi thẳng. Tuỳ theo yêu cầu của khách hàng về các loại sợi có tỷ lệ thành
phần cotton và PE khác nhau việc pha trộn được tiến hành trong giai đoạn
này.
Thô: Các cúi ghép được đưa sang máy thô để kéo dài tạo săn, làm nhỏ
các cúi ghép và tăng độ bền. Bán thành phẩm của bước công việc này là các
quả sợi thô.
Kéo sợi con: Làm nhỏ sợi thô thành sợi con và xe sợi săn bằng cách
xoắn cho sợi có độ săn cần thiết để tạo độ bền cho sợi con.
Đậu xe( Đánh ống): Các quả sợi con được tháo ra và cuốn lại thành
những quả sợi lớn có hình dáng kích thước phù hợp. Khi quấn sợi con được
làm sạch. Tại những chỗ quá dầy hoặc quá mỏng sợi sẽ bị cắt đứt, các đầu sợi
được nối lại đúng kiểu. Quả sợi là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất.
4.2. Đặc điểm về sản phẩm.
Các mặt hàng của công ty Dệt may xuất nhập khẩu Huy Hoàng bao
gồm: Các loại sợi, sản phẩm dệt kim , khăn, vải Denim